Khi
Chúa chọn những môn đồ đầu tiên của Ngài, chỉ một ngày đi một vòng
là chọn xong bốn đệ tử nồng cốt, ít lâu sau kết nạp thêm cho đủ 12
người. Gốc gác và nghề nghiệp đa phần là dân chài sống quanh hồ
Ga-li-lê, cũng có kẻ thâu thuế và làm vài nghề khác, nhưng tựu
chung là thành phần có gia cảnh thấp kém quê mùa, ít học hành,
nhưng được cái Chúa gọi là đi ngay, không chần chờ , không nghi
ngại, sẵn sàng bỏ nghề, bỏ lưới, giã từ người thân theo Thầy học
đạo.Tuyệt nhiên trong số họ không có ai là trí thức hoặc quan
quyền xuất xứ từ thành Giê-ru-sa-lem. Chỉ sau này khi Chúa về trời,
vì nhu cầu phát triển hội thánh rộng ra cho dân ngoại mới có
Phao-lô được ơn Chúa gọi xuất thân từ thành phần này.
Có người thắc mắc những môn đồ này là ai, họ đâu có xuất săc tài
cán gì mà được Chúa yêu Chúa chọn? Có những sự việc vượt quá sự
hiểu biết của con người, vậy thì chỉ Chúa biết, mà vào thời của
Ngài cũng chẳng ai thắc mắc về điều này. Ngay Chúa là Đấng Mê-si
mà cũng còn bị những người quê hương mình dè bỉu khi vẫn coi Ngài,
‘Có phải người là thợ mộc, con trai Ma-ri, anh em với Gia-cơ,
Giô-sê, Giu-đe và Si-môn chăng?’ khi chính Ngài đã giảng đạo và
làm phép lạ ngay trước mặt họ, trong khi ở nơi khác Chúa chỉ đi
ngang, kẻ mù cũng còn nhận ra Chúa để xin ‘lạy Thầy cho tôi được
sáng mắt’.
Chỉ biết trong số những người bị coi là thấp hèn ít học này sau
khi được gần gũi Chúa, được ông Thầy huấn luyện chỉ bảo, họ trở
thành những sứ đồ vĩ đại, cụ thể là người đầu đàn Phi-e-rơ được
Chúa giao cho thiết lập hôi thánh đầu tiên trên đất với đầy đủ
quyền phép trong tay, trong khi người nhỏ tuổi nhất là Giăng được
Chúa tin yêu và khải thị cho những bí ẩn về Ngài để viết được sách
(Phúc âm) Giăng và Khải Huyền, hai cuốn sách tỏ lộ quyền năng và
nguồn gốc của Ngôi Lời làm tiền đề cho giáo lý Tân ước cùng soi
sáng toàn bộ nội dung Kinh Thánh.
Cũng có người hỏi sao Chúa là Đấng toàn năng toàn tri mà đi kết
nạp Giu-đa rồi giao cho quản thủ cả chuyện tiền bạc cuối cùng hắn
lại là kẻ phản bội bán Chúa? Chuyện này Kinh thánh có ghi rõ, Chúa
biết tâm địa từng người, Chúa có cảnh báo, Chúa cho cơ hội, nhưng
Ich-ca-ri-ốt vẫn đi theo đường lối mình để rồi phải tự xử sau khi
hối hận vì nhận những đồng tiền máu. Trong khi Phi-e-rơ tuy chối
Chúa ba lần nhưng Chúa vẫn dùng, vì Chúa biết yếu đuối của từng
người, điều quan trọng là trong chốn sâu thẳm của trái tim ai là
người thực lòng yêu Chúa và hết lòng vì Chúa.
Trở lại câu chuyện môn đồ, sách Ma-thi-ơ (đoạn 10) và các sách
Phúc âm đều ghi rõ, Chúa không còn ở thế gian lâu, chức vụ truyền
giảng của Ngài chỉ vỏn vẹn ba năm rưỡi, nên sau khi được huấn
luyện, được học việc, được gần gũi Ngài, tận mắt thấy quyền phép
Ngài, thì cũng là lúc giống như đệ tử đến ngày xuống núi, các môn
đồ đươc chịu chức, được Chúa sai đi, hòa nhập vào thế gian để rao
giảng lời Ngài. Từ nay, chính họ phải làm những điều mà trước kia
chỉ Chúa làm, cũng chữa lành người bệnh, cũng làm sạch kẻ phung,
cũng đuổi trừ tà ma, cũng khiến kẻ chết sống lại. Tất nhiên trước
khi được sai đi, Chúa có truyền cho các ‘bí kíp’, có ban cho quyền
phép, Chúa còn hứa Chúa sẽ chỉ cho cách nói, Chúa nhắc cho cách
làm, ấy vậy mà có môn đồ làm được, có người kêu quá khó, than thở
với Thầy thì Chúa chỉ qui về một điều là các ngươi không làm được
vì...thiếu đức tin.
Cũng chuyện Chúa sai đi, lịch sử đã chứng thực, những môn đồ Ngài
chọn (trừ Giu-đa) đã trải qua muôn vàn khó khăn và thử thách họ
đều hoàn thành xuất sắc sứ mạng Chúa giao, nhiều người đã trở
thành thánh tử đạo và chẳng ai thoát khỏi bắt bớ, tù tội, đòn vọt,
sỉ nhục, đau đớn cả tâm thần lẫn thể xác. Cũng từ những tấm gương
này, hai ngàn năm về sau trong quá trình xây dựng và phát triển
Hội thánh Chúa tuy lúc thăng lúc trầm tùy giai đọạn, nhưng Ơn Trên
kêu gọi, Ơn Chúa sai đi, Ơn tử vì đạo vẫn được kế tục để ngày nay
quả thật lời Chúa đã được giảng ra khắp đất, làm thành hiện thực
lời hứa của Ngài khi Chúa hiện ra tại xứ Ga-li-lê, nhắn nhủ các
môn đồ, “Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức
Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ
hết cả mọi đều mà ta đã truyền cho các ngươi.” (Ma-thi-ơ 28:19,20)
Đọc đến đây cũng có tín hữu cho bài viết của tác giả sao chẳng có
gì ‘mới’. Chuyện Chúa chọn môn đồ rồi Chúa sai đi, sách Phúc âm
nào chẳng đều ghi rõ. Thật ra chủ đích của người viết là muốn khơi
lại cách Chúa dùng người, cách Chúa dạy dỗ, cách Chúa sai đi, cụ
thể là việc chọn và đào tạo 12 môn đồ tiên khởi. Cũng phải nhìn
nhận một điều dù cho được kể là môn đồ, môn đệ của Ngài, nhưng
được gọi chưa hẳn là được chọn, được chọn chưa hẳn là được cứu,
đến chừng tuởng như được cứu, ấy là lúc coi chừng bị bỏ. Điều này
ứng dụng cho cả con cái và tôi tớ Chúa, để không ai dám nhận cho
mình là ‘kẻ được chọn’ để rồi ỷ y kiêu ngạo muốn làm cha làm thầy
người khác. Kinh nghiệm cho thấy các môn đồ gần gũi Chúa như vậy,
tận mắt thấy gương và học hỏi nơi Ngài, được Thầy yêu thương và
truyền dạy đủ thứ bí kíp, ấy vậy mà lúc chối vẫn chối, lúc phản
vẫn phản, nên chi cũng chỉ do sự yếu đuối của con người, đến phút
cuối cùng ‘gian nan phải có qua cầu mới hay’.
Ngày nay, việc được ơn kêu gọi cũng như quá trình chọn lựa và đào
tạo các tôi tớ Chúa (mục sư, truyền đạo) phần nào có khác những
ngày nguyên thủy. Nhưng nhìn chung vẫn là phải đuợc ơn trước, chọn
lựa sau, rồi đào tạo bổ nhiệm là bước cuối. Cũng trong thời kỳ
cuối cùng, nhiều giáo hội đang gặp phải cảnh ‘đồng lúa vàng nhưng
thiếu người gặt’, vấn nạn không đủ tôi tớ phục vụ cho công việc
Chúa, nhất là những xứ vùng châu Á và Mỹ La-tinh, nhiều mục sư
phải kiêm nhiệm năm sáu hội thánh. Cũng may là Chúa có mở đường
khi nhiều người được gọi là ‘layman’ có khi cả nam lẫn nữ, tuy vẫn
sống cuộc đời thế tục, có người có cả công ăn việc làm bình thường
nhưng lại tự nguyện tham gia công việc Chúa, giúp đỡ đắc lực cho
công việc truyền rao lời Ngài. Chẳng nói đâu xa, các ‘truyền đạo
thiện nguyện’ đang sốt sắng, miệt mài trên những vùng sâu vùng xa,
đặc biệt các anh em ngưòi dân tộc trên Tây nguyên đã là những tấm
gương chứng đạo đáng khích lệ. Các người nữ tỷ như bà Lý, bà Đức,
chị Lê, chị Liên…nơi quê nhà, rồi hải ngoại như chị Minh, chị Bạch,
chị Hoa, chị Cúc, cùng nhiều tên tuổi tôi không kể hết cũng có
những đóng góp đáng kể dưới nhiều hình thức khác nhau cho công
việc chứng đạo nói chung.
Có phước có phần, ta-lâng Chúa cho mỗi người một dạng, tôi lại nhớ
câu nói vui của Mục sư Trần Ngọc De khi ông công nhận dù ông làm
tôi tớ Chúa được ơn, được phong chức và đào tạo bài bản, nhưng cứ
kể công đưa nhiều người về với Chúa thì ông không dám sánh với bà
Phan Thị Lý. Quả đúng như vậy vì trong công tác chứng đạo, biết
đâu Chúa đã ‘kêu gọi’ bà Lý và gia ơn thêm sức cho Bà theo cách
riêng để dù không phải là tôi tớ chính thức của Chúa, bà vẫn được
sai đi mạnh dạn làm chứng về Ngài cùng khiêm tốn hiểu rằng dù làm
gì nói gì cũng do ơn từ Đức Thánh Linh và khi kết quả dù ít dù
nhiều thì vẫn qui vinh hiển về cho Chúa.
Đỗ
xuân Thảo
Mùa Tạ Ơn 2011