Home

Hy
vọng của chúng ta!
Mục sư Lê Hựu

Mục lục
Hy vọng của chúng ta
Giê-su phục-lâm để làm ǵ?
Giê-su phục-lâm cách nào?
Khi nào Giê-su phục-lâm?
Dấu-hiệu sự phục-lâm của Giê-su.

HY VỌNG CỦA CHÚNG TA
“Giê-su hồi lai” là hy-vọng trọng-tâm của người
Cơ-Đốc Phục-Lâm. Giê-su trở lại nghĩa là có lần Giê-su đă đến và đă đi. Không
ai chối bỏ việc Giê-su đă đến. Sự giáng-sanh của Ngài vào đời đă là một sự
kiện lịch-sử mà hằng năm mọi người trên thế-giới đều kỷ-niệm để nhắc lại
sinh-nhựt của vị cứu-tinh vĩ-đại của nhân loại.
Giê-su đă ra đời vào đúng thời-điểm mà các tiên-tri xưa đă dự ngôn. Phao-lô
viết cho người Ga-la-ti để làm chứng về sự xuất-hiện đúng kỳ hẹn của Giê-su
như sau: “Nhưng khi kỳ hạn được trọn, Đức Chúa Trời
bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sinh ra...”
(Ga-la-ti 4:4).
Cái kỳ-hạn mà Đức Chúa Trời đă định từ khi sáng thế ấy đă đến đúng vào năm,
tháng, ngày mà hoàng-đế César Auguste của đế-quốc La-mă ra chiếu-chỉ lập sổ
dân trong cả thiên-hạ. Và cứ theo lời phê-b́nh của sử-gia Lu-ca th́ việc lập
sổ dân nầy mới có lần đầu trong lịch-sử đế-quốc La-mă. Do có chiếu-chỉ của đại
hoàng-đế César Auguste đó mà Ma-ri đă về cố-quận, tưởng chỉ là để khai tên vào
sổ kiểm-tra thôi, chớ ngờ đâu để thực-hiện lời tiên-tri của Mi-chê, về tiểu
thôn Bết-lê-hem của nàng như sau: “Hỡi Bết-lê-hem,
đất Giu-đa! Thật ngươi chẳng kém ǵ các thành lớn của xứ Giu-đa đâu, v́ từ
ngươi sẽ ra một tướng, là Đấng chăn dân Y-sơ-ra-ên, tức dân ta.”
(Ma-thi-ơ 2:6; Mi-chê 5:1, 2)
Ma-ri, thôn-nữ đồng trinh, sinh-trưởng tại miền Bắc xa-xôi, không chồng mà
thai-nghén, theo lệnh của nhà vua La-mă, về cái thành mà năm, sáu thế-kỷ trước
một tiên-tri đă tiên-báo sẽ là nơi ra đời của Đấng Cứu-Thế: thành Bết-lê-hem
cố quận của Đa-vít. Ấy thế mà năm Giê-su ra đời đă biến thành giới-tuyến chia
đôi hai kỷ-nguyên Tây-lịch, Ngài xuất hiện vào đúng địa điểm và thời-điểm đă
ấn định hằng bao nhiêu thế kỷ trước. Cuộc đời và chức vụ của Giê-su là sự
thực-hiện của những lời tiên-tri trong Cựu-ước. Năm 31 S. C. Giê-su bị xử treo
trên thập-tự, làm ứng-nghiệm một loạt lời tiên-tri khác. Người ta chôn Chúa
trong mồ, niêm-phong cẩn-thận, và có lính canh. Nhưng ba ngày sau, Ngài
phục-sinh, nghĩa là sống lại. Có vô số người chứng-kiến, sau khi Ngài đă
phục-sinh. Trước một số thính-giả khổng-lồ, Phi-e-rơ đă dơng-dạc làm chứng:
“Người đó (tức là Giê-su) bị nộp theo ư-định trước và sự
biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đă mượn tay độc-ác mà đóng đinh Người
trên thập-tự-giá và giết đi. Nhưng Đức Chúa Trời đă khiến người sống lại, bứt
đứt dây trói của sự chết, v́ nó không thể giữ người lại dưới quyền nó.”
(Công-vụ 2: 23, 24). Sau đó, Phi-e-rơ trích dẫn một lời tiên-tri
của Đa-vít để chứng minh sự sống lại của Giê-su là điều tất phải diễn ra.
Phao-lô cũng ghi lại mấy lời chứng sau đây: “Đấng
Chirst chịu chết v́ tội chúng ta theo lời Kinh-thánh; Ngài đă bị chôn, đến
ngày thứ ba. Ngài sống lại theo lời Kinh-thánh và Ngài đă hiện ra cho Sê-pha,
sau lại hiện ra cho mười hai sứ-đồ. Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra
cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ
c̣n sống nhưng có mấy người đă ngủ rồi.” (I Cô-rinh-tô 15: 3-6).
Điểm chúng ta cần lưu-ư trong đoạn văn trên của Phao-lô, là sứ-đồ nhấn mạnh
rằng những biến cố trong cuộc đời của Chúa Giê-su đều đă có dự-ngôn trước
trong Kinh-thánh. A-mốt đă nói chí-lư: “Thượng-đế
chẳng làm một việc ǵ mà Ngài chưa tỏ sự kín-nhiệm Ngài ra trước tôi-tớ Ngài,
là các Đấng tiên-tri.”(A-mốt 3: 7). Phao-lô cũng nhắc đến lần Đức
Chúa Giê-su hiện cho năm trăm anh em xem thấy. Đây có lẽ là lần cuối cùng Đức
Chúa Giê-su hiện ra với các môn-đồ Chúa trên núi Ô-li-ve, gần thành
Giê-ru-sa-lem. Trong buổi tập-họp quan-trọng ấy (theo mấy gịng sử của bác-sĩ
Lu-ca), vừa khi Đức Chúa Giê-su nói xong mấy chỉ-thị cuối cùng th́ một hiện
tượng kỳ-lạ đă xảy ra làm kinh ngạc các người hiện-diện. Đây, ta hăy nghe
Lu-ca thuật chuyện: “Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, th́ được cất lên trong lúc
các người đó nh́n xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa.
Các người đó đương ngó chăm trên trời trong lúc Ngài ngự lên, xảy có hai người
nam mặc áo trắng hiện đến trước mặt, và nói rằng: Hỡi người Ga-li-lê, sao các
ngươi đứng ngóng lên trời làm chi? Giê-su nầy đă được cất lên trời khỏi giữa
các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đă thấy Ngài lên trời
vậy.”(Công-vụ 1: 9-11).
Đó là hiện-tượng thăng-thiên của Giê-su, một sự-kiện hơn năm trăm người đă
chứng-kiến trên đỉnh núi Ô-li-ve, bốn mươi ngày sau khi Ngài phục-sinh.
Thế là Giê-su đă đến và đă từ-giă thế-giới chúng ta. Ngài đă đi như lời Ngài
đă tiên-báo với các môn-đồ trước khi xả thân, rằng: “C̣n ít lâu các ngươi sẽ
chẳng thấy Ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy Ta, v́ Ta đi về cùng Cha. ”
(Giăng 16: 16); hay là lời giă-từ đầy hứa-hẹn của Chúa: “Ḷng các ngươi chớ hề
bối-rối; hăy tin Đức Chúa Trời cũng hăy tin Ta nữa. Trong nhà Cha Ta có nhiều
chỗ ở; bằng chẳng vậy, Ta đă nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm-sẵn cho các
ngươi một chỗ, khi Ta đă đi và đă sắm-sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở
lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu th́ các ngươi cũng ở đó”. (Giăng
14: 1-3).
Đức Chúa Giê-su đă cam-kết những ǵ trong mấy lời giă-biệt ấy? Chúa chắc là
Ngài sẽ trở lại, sau khi đă lên trên thiên-đàng một thời gian để chuẩn bị cho
các thánh-đồ một quê-hương.
Hai mươi thế-kỷ trước, Giê-su đă đến đúng kỳ-hẹn để làm thỏa-măn ḷng mong-chờ
của dân Y-sơ-ra-ên nói riêng và nhân-loại nói chung. Ngài đến phục-hồi
chánh-đạo; Ngài đến để thực-hiện giai-đoạn thứ nhứt trong chương-tŕnh cứu-rỗi
là phó dâng mạng sống Ngài làm của lễ hy-sinh, và của lễ chuộc-tội cho cả
chúng-sinh. Ngài đến để chứng-minh t́nh yêu-thương vô-hạn, và quyền-phép
vô-biên của Đức Chúa Trời. Ngài đến để khôi-phục đức-tin của loài người trong
năng-lực cứu-rỗi của Thượng-đế. Sự chết của Ngài và sự sống lại của Ngài là
những bằng-chứng cụ-thể và hùng-biện về ḷng nhơn-từ vô bờ-bến và sức-mạnh vô
song của Ngài. Và sau khi đă vong-thân v́ tội-nhân đặng thỏa măn sự công-b́nh
mà luật-pháp đ̣i-hỏi, Ngài đă về trời để bước vào giai-đoạn khác trong
chương-tŕnh cứu-rỗi, là cầu-thay cho chúng ta bên cạnh ngôi Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Giê-su đă báo trước cái ǵ đă làm, và đă làm cái ǵ Ngài đă báo
trước. Ngài đă đi như lời Ngài đă phán: “Ta đi... sắm-sẵn cho các ngươi một
chỗ”. Và hiện ta vắng-bóng Chúa, y như lời Chúa bảo trước rằng “các ngươi sẽ
chẳng thấy Ta”. Nhưng, ta tin-tưởng rằng nếu Ngài đă đi như lời Ngài phán, và
đă vắng bóng như lời Ngài tiên-báo th́ chắc-chắn Ngài cũng sẽ tái-lâm như lời
Ngài đă hứa chắc như đinh đóng rằng: “Ít lâu nữa các ngươi lại thấy Ta”, và
“Khi Ta đă đi và đă sắm-sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các
ngươi đi với Ta”. “Khi Ta đă đi ?” Ngài đă đi rồi. “Và đă sắm-sẵn... một chỗ?”
Ngài đă sắm-sẵn từ nhiều thế kỷ qua. Nay mai giai-đoạn chuẩn-bị hoàn-tất. Rồi
ǵ nữa? “Ta sẽ trở lại”, “ít lâu nữa các ngươi lại thấy Ta”.
“Giê-su phục-lâm” là hy-vọng trọng-đại nhất của chúng ta, là sự trông-đợi
phước-hạnh của người tín-đồ CƠ-ĐỐC. Giê-su chắc-chắn sẽ trở lại. Và Ngài đă
hứa th́ Ngài sẽ thực-hiện.
Ngày xưa trong thời-kỳ Cơ-Đốc giáo bị đế-quốc La-mă bách-hại dữ-dội, những
người tín-đồ của Giê-su gặp nhau ngoài đường chào nhau: “Ma-ra-na-tha”, nghĩa
là “Chúa sắp trở lại”. “Chúa sắp trở lại” là nguyện-vọng thiết-tha của người
Cơ-Đốc, mà cũng là giải-pháp duy-nhất để giải-quyết vấn-đề đau khổ của
thế-giới lầm-than của chúng ta.
Ngài hứa: “Nầy, Ta đến mau chóng!” Ngài sẽ đến đúng ngày Ngài đă ấn-định, duy
có thể là không sớm như sự kỳ-vọng của chúng ta. Có lẽ sự việc xảy đến cho
nhóm người chờ-đợi sự phục-lâm của Giê-su sẽ giống như kinh-nghiệm của những
người nữ đồng-trinh chờ chàng rể trong ví-dụ mà Đức Chúa Giê-su kể. Ngài ví
rằng: “Nước thiên-đàng sẽ giống như mười người nữ đồng-trinh kia cầm đèn đi
rước chàng rể... V́ chàng rể đến trễ, nên các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ
gục. Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Ḱa, chàng rể đến, hăy đi ra rước người.”
Phải chăng dụng-ư của Đức Chúa Giê-su khi kể ví-dụ này là để nói với chúng ta
rằng Ngài sẽ lại chậm hơn sự mong muốn của chúng ta.
Chúa đến chậm phải chăng là để lựa-lọc những kẻ bất-trung, những người thờ
Chúa v́ những lợi vị-kỷ và thiển-cận. Họ là những người đầy-tớ xấu, không chịu
đựng nổi những thử-thách của thời-gian. Chúa Giê-su có phán: “Nếu, trái lại,
là một đầy-tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm, bèn đánh kẻ cùng làm
việc với ḿnh, và ăn uống với phường say rượu, th́ chủ nó sẽ đến trong ngày nó
không ngờ và giờ nó không biết. Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với
kẻ giả-h́nh. Đó là nơi sẽ có khóc-lóc và nghiến-răng”. (Ma-thi-ơ 24: 47-51).
“Nầy Ta đến mau chóng”, Ngài đă cam quyết với chúng ta. Song đă 20 thế-kỷ qua,
thế-hệ của các sứ-đồ đă ngủ trong bụi đất với hy-vọng nồng-cháy trong tim, và
cùng theo với họ vào giấc ngủ triền-miên là đă bao thế-hệ liên-tiếp, mà cái
mộng nh́n thấy Vị Sư-trưởng hồi-lai trong vinh-quang chói sáng vẫn chưa trở
thành sự thật. Phải chăng cần có thời-gian để thử-thách ḷng trung-kiên của
những kẻ xưng ḿnh là tín-đồ Cơ-Đốc Phục-lâm?
Năm 1958, tổng-thống Lư-Thừa-Văng của Cộng-ḥa Triều-tiên hứa đến thăm
Việt-Nam. Thủ-đô Việt Nam trang-hoàn tiếp-đón thượng-khách của ḿnh. Nhưng hai
lần Tổng-thống Hàn-Quốc không đến. Và lần cuối-cùng ông đă đến, song chậm mất
mười mấy tiếng đồng hồ. Một vài tờ báo đinh-ninh thế nào vị tổng-thống cũng
không trễ nữa, nên căn-cứ theo chương-tŕnh cuộc tiếp-rước đă ấn-định mà
thông-tin một buổi lễ nghinh-tiếp tưởng-tượng trên mặt báo phát-hành trước giờ
Tổng-thống đến. Nhiều đoàn-thể đă túc-trực trên các nẻo đường để cung-nghinh
vị quốc-khách, đến giờ chót mới được tin chính-thức là chuyến bay của
Tổng-thống Cộng-ḥa Triều-Tiên phải hoăn đến sáng hôm sau. Mấy tờ báo vội-vàng
đính-chánh và cáo-lỗi với độc-giả.
Đức Chúa Giê-su hứa sẽ đến, và chắc-chắn Ngài sẽ trở lại; nhưng có thể có
những lư-do khiến Ngài không đến sớm như chúng ta mong-ước. Khác với lần
giáng-lâm thứ nhứt, sự phục-lâm của Đức Chúa Giê-su không được loan báo ngày
và giờ. Chúa có những lư do chánh đáng không tiết-lộ cho chúng ta biết
đích-xác ngày và giờ Chúa trở lại. Và cứ như lời Giê-su thổ-lộ cho với môn-đồ
Chúa th́ “về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay
là Con cũng vậy, song chỉ một ḿnh Cha biết mà thôi.” (Ma-thi-ơ 24: 36). Mấy
phút trước khi từ giă các môn-đồ về thiên-quốc, Ngài an ủi những kẻ băn-khoăn
muốn biết ngày trở lại của Chúa như sau: “Kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đă tự
quyết định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết.” (Công-vụ 1: 7).
Thấy thời-gian cứ trôi qua biền-biệt, mà lời hứa “Nầy, Ta đến mau chóng” măi
không thực-hiện, những kẻ vô-tín gièm-chê, giễu-cợt người Cơ-Đốc: “Chớ nào lời
hứa về sự Chúa đến ở đâu? V́ từ khi tổ-phụ của chúng ta qua đời rồi, muôn-vật
vẫn c̣n nguyên như lúc bắt đầu sáng-thế”. Biết trước những lời gièm chê có
tác-dụng làm suy-giảm đức-tin của tín-đồ trong những ngày sau-rốt như vậy, nên
sứ-đồ Phi-e-rơ đă nhắn-nhủ mấy lời tâm-huyết: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên
quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày. Chúa
không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy
ḷng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song
muốn cho mọi người đều ăn-năn. Song le ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm”.
(Phi-e-rơ 3: 8-10).
Chúng ta không biết đích-xác bao giờ Chúa đến, và không biết bao giờ lời Chúa
phán “Ít lâu nữa các ngươi lại thấy Ta” sẽ được thực-hiện. Đến nay đă hai mươi
thế kỷ qua, chữ “ít lâu” của Chúa vẫn c̣n là “ít lâu” và chữ “mau chóng” trong
lời hứa “Nầy, Ta đến mau chóng” vẫn c̣n chưa tới. Chúng ta không biết ngày và
giờ nhưng có điều chúng ta có thể đoán định được là Giê-su chưa phục lâm v́
điều-kiện chưa chín muồi. Ngài muốn đến mau chóng nhưng t́nh-thế chưa
thuận-tiện. Những lời nói của Phi-e-rơ trong đoạn Kinh-Thánh vừa trích dẫn
trên kia, cho ta thấy một lư do tại sao chàng rể đến trễ ấy là: Thượng-Đế
“không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn-năn”.
Bạn mến! Biết chừng đâu, Giê-su chẳng đă tŕ-hoăn sự tái-lâm của Ngài, v́ Ngài
c̣n chờ bạn và tôi ăn-năn? Chúa đă nhịn-nhục chờ đợi chúng ta. Chữ “nhịn nhục”
mà Phi-e-rơ dùng đă bộc-lộ cho ta thấy tâm trạng của Đức Chúa Trời. Ngài cũng
nóng ḷng đến lắm; nhưng Ngài c̣n nhẫn-nhục chờ kẻ có tội ăn-năn.
Ngài nhịn-nhục và Ngài muốn chúng ta nhịn-nhục chờ Ngài. Từ thế-kỷ đầu-tiên
Gia-cơ đă viết: “Hỡi anh em, vậy hăy nhịn-nhục cho đến kỳ Chúa đến. Hăy xem kẻ
làm ruộng: họ bền ḷng chờ đợi sản-vật quí-báu dưới đất cho đến chừng nào đă
được mưa đầu mùa và cuối mùa. Anh em cũng vậy, hăy nhịn-nhục và bền ḷng; v́
kỳ Chúa đến gần rồi.” (Gia-cơ 5: 7-8).
Những chữ “sắp”, “gần rồi”, “mau chóng” chỉ định những thời-gian bất định.
Chúa không nói bao lâu, chỉ biểu-thị một thời-gian gần. Nhưng gần xa, mau chậm
là vấn-đề tương-đối, chưa nói là một ư-niệm chi-phối bởi tâm-trạng. Ta bảo 19
thế-kỷ là một thời gian dài, nhưng với cái ư-niệm “một ngày như một ngàn năm,
một ngàn năm như một ngày” của Đấng vô cùng, th́ khoảng thời-gian 19 thế-kỷ ấy
mới như ngày hôm qua thôi. Hơn nữa, ta nóng ḷng vào thiên-đàng, ta bảo là
Chúa chậm đến, nhưng v́ thấy nhiều linh-hồn c̣n chơi-vơi trong biển khổ phải
được cứu vớt, biết chừng đâu Chúa chẳng thấy là phục-lâm hăy c̣n sớm quá.
Vậy để hối-thúc ngày Chúa đến, để cắt ngắn thời-gian chờ đợi ngột-ngạt
hiện-thời, chúng ta là những người thành-tâm chờ Chúa đến, hăy quay về với
Chúa hết ḷng, hăy ráo-riết chuẩn- bị sự phục-lâm của Chúa. Hăy gia-nhập vào
phong-trào đang xúc-tiến mạnh-mẽ việc dự-bị nghinh-tiếp Giê-su hồi lai mang
danh xưng là: “Cơ-Đốc Phục-Lâm”.
Việc đă đến và sẽ đến. Chỉ c̣n vấn-đề thời-gian. Chúng ta có thể góp phần vào
việc giải-quyết vấn-đề thời-gian bằng cách, như đă nói ở trên, dọn ḿnh và dọn
người. Hai mươi thế kỷ trước chúng ta, Phao-lô đă khuyên-bảo người La-mă: “Hăy
ăn ở như vậy, v́ biết thời-kỳ đương lúc chúng ta đây: giờ anh em từ ngủ thức
dậy đă đến, bởi sự cứu hiện nay đă gần chúng ta hơn lúc chúng ta mới tin. Đêm
đă khuya, ngày gần đến; vậy, chúng ta hăy lột bỏ những việc tối-tăm mà mặc lấy
áo giáp sáng-láng. Hăy bước đi cách hẳn-hoi như ban ngày. Chớ nộp ḿnh vào sự
quá-độ và say-sưa, buông-tuồng và bậy-bạ, rầy-rà và ghen-ghét; nhưng hăy mặc
lấy Đức Chúa Giê-su Christ, chớ chăm-nom về xác-thịt mà làm cho phỉ ḷng dục
nó.” (Rô-ma 13: 11-14). Hai mươi thế-kỷ trước chúng ta. Phao-lô đă bảo là ngày
tái-lâm vinh-quang của Giê-su đă gần hơn lúc những người đồng-thời của ông mới
tin huống-hồ là chúng ta, những kẻ sống sau Phao-lô hai mươi thế-kỷ. Vậy th́,
hỡi các bạn cùng thời-đại, “đêm đă khuya, và ngày gần đến” hơn bao giờ hết,
chúng ta hăy tu-tỉnh dọn ḿnh, tin-tưởng Giê-su, Đấng đă đến và sẽ trở lại,
ngơ hầu khi Chúa đến, chúng ta không bị cùng số phận với tên đầy-tớ xấu trong
câu chuyện ví dụ, đă thầm nghĩ rằng: “Chủ ta đến chậm, rồi ăn uống với phường
say rượu, và bị chủ nó đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết.”
Nhưng v́ không biết lúc nào Chúa đến, nên chúng ta phải tỉnh-thức thường-trực,
và chuẩn-bị không ngừng, Phao-lô nói với chúng ta: “Hỡi anh em, về thời và
kỳụ, th́ không cần viết cho anh em; v́ chính anh em biết rơ lắm rằng ngày của
Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy... Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng
phải ở nơi tối tăm, nên nỗi ngày đó đến th́nh-ĺnh cho anh em như kẻ trộm. Anh
em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về
ban đêm, cũng không phải thuộc về sự mờ-tối. Vậy, chúng ta chớ ngủ như kẻ
khác, nhưng phải tỉnh thức và dè giữ. V́ kẻ ngủ th́ ngủ ban đêm, kẻ say th́
say ban đêm. Nhưng chúng ta thuộc về ban ngày, nên hăy dè-giữ, mặc áo giáp
bằng đức-tin và ḷng yêu-thương, lấy sự trông-cậy về sự cứu-rỗi làm măo-trụ.”
(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:1-8).
Đức Chúa Giê-su sẽ ngự-lai th́nh-ĺnh và như một kẻ trộm không báo trước. “Vậy
hăy tỉnh thức,” lời khuyên của Đức Chúa Giê-su, “v́ các ngươi không biết ngày
nào Chúa ḿnh sẽ đến.” (Ma-thi-ơ 24:42). Đa số nhân-loại sẽ không chờ đón
Chúa. “Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. V́ trong những
ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê
vào tàu. Và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi
hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy.” (Ma-thi-ơ 24:37-39).
Thế nhưng, Phao-lô quả-quyết với chúng ta rằng có một nhóm người “chẳng phải ở
nơi tối-tăm, nên nỗi ngày đó đến th́nh-ĺnh” cho họ “như kẻ trộm.” Những người
đó là ai? Đó là những người đă nghiên cứu lời tiên tri và luôn-luôn theo dơi
thời-cuộc để am tường và thông-giải sự phục-lâm của Giê-su qua các sự kiện xảy
ra trên toàn thế giới. Họ là ai khác, nếu không phải là những người Cơ-Đốc
Phục-Lâm đang chuẩn-bị ngày tái-lâm vinh-quang của Cơ Đốc. Và tại sao bạn
không thể là người Cơ-Đốc Phục-Lâm?

GIÊ-SU PHỤC-LÂM ĐỂ LÀM G̀?
Ở chương trước chúng tôi đă trưng dẫn nhiều bằng chứng,
và trích-dẫn nhiều lời Kinh-thánh để quí vị nhận biết rằng, Đức Chúa Giê-su đă
đến thế-gian một lần, đúng theo điều dự-ngôn của các tiên-tri tiền-bối. Ngài
đă đến theo kỳ-định, nghĩa là vào năm 1 của kỷ-nguyên Cơ-đốc. Ngài đă chết vào
kỳ-định, vào một ngày lễ Vượt-qua của dân Do-thái, tắt thở vào đúng cái giờ
người ta dâng con sinh tế của lễ Vượt-qua, để chuộc tội toàn dân, tức con
chiên mà từ đời Môi-se đă được dâng hằng năm, làm h́nh-bóng về của-lễ chuộc
tội mà Giê-su phải dâng để làm lễ chuộc tội cho cả nhân-loại. Giê-su đă được
chôn theo lời tiên-tri, đă sống lại vào ngày thứ ba, y như lời dự-ngôn. Và bốn
mươi ngày sau, Giê-su đă thăng-thiên trước sự hiện-diện của một số đông môn-đệ
của Ngài tập họp trên đỉnh núi Ô-li-ve cách thành Giê-ru-sa-lem độ một cây số.
Ngày nay, cứ hằng năm, ta thấy thế-giới nói chung, và giới Cơ-đốc nói riêng,
c̣n giữ ngày kỷ-niệm sự về trời của Giê-su, gọi là lễ “Thăng-Thiên.” Tất cả
những biến-cố trọng-đại trong đời sống Giê-su đều đă được dự ngôn và đều đă
xảy đến đúng như tiên báo.
Giê-su về trời để khai-mạc một giai-đoạn mới trong chức-vụ của Ngài cho
nhân-loại: Giai-đoạn cầu thay cho tội-nhân, những ai tin nhận Ngài là Đấng Cứu
Thế. Xong giai-đoạn cầu thay nầy, Giê-su sẽ trở lại trần-gian lần thứ hai, y
như lời Ngài đă hứa, và đúng như sự dự-ngôn của nhiều tiên-tri trước Chúa và
sau Chúa. Nhưng có lẽ bạn đang phân-vân muốn biết: Giê-su trở lại để làm ǵ?
Phao-lô trả lời cho chúng ta, trong bức thơ gởi cho người Hê-bơ-rơ, như sau:
“…Đấng Cơ-đốc đă dâng ḿnh chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài
lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội đi nữa, nhưng để ban sự
cứu-rỗi cho kẻ chờ-đợi Ngài.” (Hê-bơ-rơ 9:28). Học giả làm chứng việc ḿnh
biết Giê-su đă đến lần đầu để xả thân làm của lễ chuộc tội cho mọi người. Và
học-giả nói sự ḿnh tin-quyết: Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, lần nầy không
phải để cất tội nữa, (v́ chỉ cất một lần là đủ) nhưng để ban sự cứu-rỗi.
Giê-su giáng-lâm lần thứ nhất, 20 thế-kỷ trước chúng ta, là để trả giá chuộc
tội. Ngài về trời để lập danh-sách những người muốn được chuộc và đáng được
chuộc. Hai mươi thế-kỷ qua là thời-gian để mỗi người trên dương-thế xác-định
nguyện-vọng của ḿnh: bằng ḷng thừa-nhận sự cứu-rỗi của Đấng Cơ-đốc, hay là
không thừa-nhận sự linh-nghiệm qua của-lễ hy-sinh của Ngài. Thời-kỳ mà ta đang
sống đây, được mệnh-danh là thời-kỳ ân-điển, nghĩa là thời-kỳ mà ta có quyền
lựa chọn để tự định-đoạt số phận đời-đời của chúng ta.
Trong lịch-sử nhân-loại có một giai-đoạn giống như giai-đoạn ta đang sống hiện
nay, ấy là thời-gian 120 năm trước trận Đại Hồng-Thủy. Trong 120 năm đó, một
sứ-giả của Thượng-đế là Nô-ê đă giảng đạo và đóng tàu để tránh trận nước lụt
sẽ tràn ngập thế-giới. Đây là thời-gian ân-điển mà Thượng-đế, trước khi dùng
đến biện-pháp tàn-diệt tội-nhân ngoan-cố, đă cho loài người có cơ-hội hối-cải,
ăn năn trở về với chánh-đạo. Kinh-nghiệm lịch-sử cho ta thấy rằng người phạm
tội lạm-dụng sự khoan-hồng, và sự nhịn-nhục của Thượng-đế để ch́m đắm trong
tội-lỗi cho đến lúc cửa ân-điển của chiếc tàu Nô-ê đóng lại, và cả thảy đều bị
ḍng nước lũ đùa đi đến chỗ diệt-vong.
Từ khi Giê-su thăng-thiên, đạo của Ngài phát triển khắp năm châu bốn biển, để
rao-truyền sự cứu-rỗi cho muôn dân trên mặt đất. Thượng-đế đă ban cho
nhân-loại một cơ-hội sử-dụng quyền tự-quyết của ḿnh: theo Chúa, hay từ chối
Chúa. Thời-kỳ ân-điển, thời-kỳ quyết định, sẽ không kéo dài măi măi. Nước lụt
đă chậm đến trong đời Nô-ê 120 năm, nhưng rồi cũng đến, đến để thực-hiện
nguyện-vọng của mỗi linh-hồn đă xác-định trong thời-kỳ ân-điển. Những mỏ dầu
hiện đang là cớ tranh-chấp cho các cường quốc; những mỏ than, Ḥn-gai
Bắc-Việt, mỏ than Nông-Sơn Quảng-Nam, trong nhiều mỏ than khác trên khắp
thế-giới; những con voi khổng lồ vùi sống trong những băng tuyết miền Si-bê-ri
c̣n ngậm cỏ xanh trong mồm; những vỏ ṣ t́m thấy trên nhiều đỉnh núi cao;
những địa-tầng hỗn-độn, đảo ngược trong nhiều vùng địa chất – tất cả những
hiện tượng ấy là những bằng chứng cụ-thể về trận thiên-tai toàn-diện của
địa-cầu mà Kinh-thánh đă ghi chép lại, gọi là trận Đại Hồng-Thủy trong đời
Nô-ê.
Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hai thành-phố đă một thời rất phồn-thịnh trong vùng biển
Chết hiện-tại, cũng đă trải qua một thời-kỳ ân-điển như chúng ta ngày nay. Vào
một chiều tà, các sứ trời đă vào thành Sô-đôm, với sứ mạng cảnh-cáo dân chúng
về tai ương sắp giáng xuống để hủy-diệt hai thành gian-ác nầy. Nhưng các đấng
được sai xuống của Thượng-đế đă bị họ – bọn người sống theo thú-tính ở Sô-đôm
– cưỡng-ép. Song chưa diễn được những tṛ đồi bại rất phổ-thông của họ, đám
dân ấy đă bị những thiên sứ làm cho mù-ḷa. Ngày hôm sau lửa diêm-sinh từ trời
giáng xuống thiêu-đốt Sô-đôm và Gô-mô-rơ gian ác. Trong số những người bị lửa
trời đốt, có mấy người rể của người công-b́nh là Lót, tuy họ đă được
khuyên-giục phải thoát-ly thành-phố đă bị kết án. Trong lúc chạy trốn, vợ Lót
tiếc của cải đă bỏ lại trong thành, quay nh́n lại và liền trở nên một tượng
muối. Ngày nay Sô-đôm và Gô-mô-rơ không c̣n nữa, chỉ c̣n trên địa-điểm xưa một
vùng biển kỳ-dị mang tên là biển Chết, với những trụ muối khổng-lồ ở bờ Tây,
với một làn nước rất mặn; và bềnh-bồng trên mặt nước là những mảng dầu hắc
thỉnh-thoảng từ dưới đáy biển trồi lên. Phải chăng Thượng-đế muốn duy-tŕ
những tàn-tích ấy để nhắc-nhở chúng ta một bài học lịch-sử rằng thời-kỳ
ân-điển hữu-hạn tùy sự khoan-hồng của Chúa vô-hạn. Sở-dĩ ân-điển không vô-tận
v́ lẽ công-b́nh cần phải được tôn-trọng. Và lẽ công-b́nh đ̣i hỏi phải trả cho
mỗi người tùy theo công-việc họ làm. Cũng như phải có thời-kỳ gieo, và thời-kỳ
gặt để thu-hoạch những ǵ ḿnh đă gieo. Bởi lẽ đó Kinh-thánh c̣n gọi sự
phục-lâm của Giê-su là mùa gặt hái.
Giê-su phục-lâm để làm ǵ? Không phải để cất tội-lỗi như lần đầu Ngài giáng
lâm, nhưng để ban sự cứu-rỗi cho một số người mà Phao-lô xác định là “những kẻ
chờ đợi Ngài.”
Nhà sứ-đồ lăo-thành, trước khi lên đoạn đầu-đài để tên đao phủ La-Mă lấy thủ
cấp, đă tuyên-bố một câu đầy xác-tín: “Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm
lễ-quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đă đánh trận tốt lành, đă xong sự chạy,
đă giữ được đức-tin. Hiện nay măo triều-thiên của sự công-b́nh đă để dành cho
ta; Chúa là quan án công-b́nh, sẽ ban măo ấy cho ta trong ngày đó, không những
cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài.” (II
Ti-mô-thê 4:6-8).
Cá-nhân đă chịu-đựng bao nhiêu sự gian-khổ, đem thân gánh chịu bao nhiêu
cay-đắng ê-chề trong chức-vụ ấy, đă thỏa-măn mỉm cười trước lưỡi kiếm độc ác
sẽ kết-liễu kiếp sống tạm bợ của ḿnh, v́ biết rằng nguyện-vọng của ḿnh sẽ
sớm được thực hiện với sự trở lại của Đấng mà ḿnh hằng mong-chờ. Phao-lô thấy
trước giờ tái-lâm vinh-quang của Giê-su lúc Ngài sẽ đem phần thưởng
tượng-trưng bằng măo triều chói sáng đến cho mọi người.
Giê-su đă phán với Giăng trong một sự hiện thấy trên hoang-đảo Bát-mô: “Nầy,
Ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với Ta, để trả cho mỗi người tùy
theo công việc họ làm.” (Khải-huyền 22:12).
Giê-su phục lâm để làm công việc tính sổ. Mỗi dịp cuối năm, các nhà buôn đóng
cửa một thời gian để tính toán sổ sách, để thanh-toán các món nợ-nần: thiếu nợ
ai th́ lo trả, ai thiếu nợ th́ lo đ̣i.
Đức Chúa Giê-su ví “nước thiên-đàng sẽ giống như một người kia, khi đi đường
xa, gọi các đầy tớ giao của-cải ḿnh. Chủ đó cho người nầy năm ta-lâng, người
kia hai, người khác một, tùy theo tài mỗi người; đoạn, chủ lên đường... Cách
lâu ngày, chủ của những đầy-tớ ấy trở về khiến họ tính sổ.” Chủ nói với người
làm lợi các ta-lâng của ḿnh rằng: “Hỡi đầy-tớ ngay-lành trung-tín kia, được
lắm; ngươi đă trung-tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hăy đến
hưởng sự vui-mừng của chúa ngươi.” C̣n người đầy-tớ biếng-nhác, chủ truyền
rằng: “C̣n tên đầy tớ vô-ích đó, hăy quăng nó ra ngoài là chỗ tối-tăm, ở đó sẽ
có khóc-lóc và nghiến răng.” (Ma-thi-ơ 25:14-30).
Giê-su kể ví-dụ để ám-chỉ sự Ngài về trời, chốn xa-xăm, và trở lại trần-gian
để tính sổ với các đầy-tớ của Ngài. Ngài đă đi, và Ngài đă kư-thác cho mọi
người chúng ta, cho bạn và tôi, mỗi người một số tài-sản để làm lợi. Những
tài-sản ấy, kẻ ít người nhiều. Nhưng số lượng không quan-trọng, mà quan-trọng
ở chỗ chúng ta có trung-thành làm lợi tài-sản đă phó-thác cho chúng ta hay
không. Tài-sản của Chúa giao cho chúng ta có thể là thời-giờ, hay những cơ-hội
thuận-tiện. Bạn nghe một buổi, hai buổi, chương tŕnh phát-thanh; bạn nghe một
bài giảng ở một giảng-đường; bạn đọc một tập sách nhỏ về đạo; một bài báo giải
thích chân-lư; hay một hai lần tín-đồ Cơ-đốc đến viếng nhà bạn để làm chứng
đạo; hoặc bạn đă một hai lần tiếp-xúc với những người Cơ-đốc trong một cơ-quan
y-tế. Nói tóm lại, tất cả những dịp tiện nào Thượng-đế đă sắp đặt để bạn có cớ
nhận biết Chúa, và được giải-thích về sự cứu-rỗi của Đức Chúa Giê-su đều là
những ta-lâng cho bạn sử-dụng. Nếu bạn tận-dụng những cơ-hội hiếm có ấy để t́m
về với Chúa đặng phát-triển con người đạo-đức, nhờ đạo Chúa rèn luyện
tâm-tính; lợi-dụng thời-giờ, tức những ngày Chúa cho bạn sống trong thể-xác,
để chia xẻ sự hiểu biết về Chúa đến những người c̣n xa-lạ với đạo lành; nếu
bạn dùng của-cải vật-chất mà Tạo-hóa ban cho bạn vào những công-cuộc lợi-ích
cho xă-hội như cứu trợ, hoặc ủng hộ những phương-tiện phổ-biến đạo Chúa, tức
là bạn đă làm lợi các ta-lâng mà Chúa giao cho bạn đó. Nếu bạn hành-động trái
lại, chẳng hạn lạnh-lùng trước sự kêu-gọi của Chúa qua những cơ-quan truyền
giáo, chống lại sự cáo-trách của lương-tâm, sống buông-lung trong tội-ác,
phung-phí những ngày sống quí-báu vào những việc làm tội-lỗi hay thụ-hưởng một
cách ích-kỷ những tài-sản vật-chất, ngang-nhiên hành động trên những đau khổ
của người khác, tức là tự liệt ḿnh vào hàng đầy-tớ biếng-nhác và vô-ích, sẽ
đón chịu số phận dành cho hạng người ấy khi Chúa trở lại tính sổ. Bạn sống thọ
hay chết yểu, bạn giàu hay nghèo, bạn có nhiều hay ít điều kiện biết Chúa, bạn
thân mến ạ, cái đó không cần. Bạn theo đạo lâu hay mới, cái đó cũng không cần.
Bạn học-thức rộng hay hẹp, cao hay thấp; bạn sang hay hèn - tất cả đều không
cần-thiết. Điều cần-thiết là bạn có tận dụng những ǵ Thượng-đế đă ban cho bạn
để giúp cho sự cứu-chuộc linh-hồn bạn, và linh-hồn những người bạn gần-gũi hay
không?
Người xưa nói: “Thiện-ác đáo đầu chung hữu báo.” Ngày Giê-su hồi-lai là ngày
cáo-chung của muôn vật, ngày mà Đấng công b́nh sẽ báo-trả cho mỗi người tùy
theo việc thiện hoặc ác đă làm ở dương-thế.
Hàn-Tín khi c̣n nghèo khổ, được Phiếu-Mẫu thương cho cơm-ăn, có hứa lúc
toại-chí sẽ đền ơn một chén vàng bù cho một chén cơm lúc sa-cơ. Cũng trong
thời-kỳ nung chí ấy, người anh-hùng chưa gặp thời, bị tên côn-đồ ngoài chợ bắt
phải ḷn trôn, và đă cắn răng chịu nhục ḷn trôn kẻ lưu-manh. Đến khi công
thành danh toại, vinh-vang trên đỉnh quyền-uy, đă giữ lời thề mà đong vàng đền
ơn cho Phiếu-Mẫu. Người anh-hùng lúc toại-chí cũng không quên cái nhục của
người sỉ nhục ḿnh lúc hàn-vi, gọi tên côn-đồ thưởng cho chức tri-huyện, rồi
lấy cớ tham-nhũng để chém đầu.
Sẽ có ngày nhân-loại phải thanh-toán những ân với oán, và ngày đó là ngày Chúa
Giê-su trở lại. Đây ta hăy nghe Đức Chúa Giê-su phác-họa quang-cảnh trần-gian
lúc Ngài tái-lâm: “Khi Con người ngự trong sự vinh-hiển ḿnh mà đến với các
thiên-sứ thánh, th́ Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh-hiển của Ngài. Muôn dân nhóm
lại trước mặt ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn
chiên chia chiên với dê ra; để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả. Bấy giờ, vua sẽ
phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha Ta ban phước, hăy
đến mà nhận lấy nước thiên-đàng đă sắm-sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời
đất … Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hăy
lui ra khỏi Ta; đi vào lửa đời đời đă sắm-sẵn cho ma-quỉ và những quỉ-sứ nó
... Rồi những kẻ nầy sẽ vào h́nh-phạt đời đời, c̣n những người công-b́nh sẽ
vào sự sống đời đời.” (Ma-thi-ơ 25:31-46).
Trước khi về trời, Đức Chúa Giê-su phán với các môn-đồ đang buồn rầu của Ngài
rằng: “Ḷng các ngươi chớ hề bối-rối; hăy tin Đức Chúa Trời, cũng hăy tin Ta
nữa. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, Ta đă nói cho các ngươi
rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đă đi và đă sắm sẵn cho các
ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu th́
các ngươi cũng ở đó.” (Giăng 14:1-3). Nơi Đức Chúa Giê-su đi là thiên-đàng.
Giê-su đến lần đầu tiên, hai mươi thế-kỷ trước chúng ta, trong h́nh-thể một
hài nhi nghèo-hèn, sinh hạ tại chuồng chiên, máng cỏ, lớn lên và trưởng thành
trong gia-đ́nh thợ mộc nghèo. Ngài không được trọng-nể, lại thường bị bạc đăi,
chà-đạp, giày-ṿ, phỉ-bán cho đến chết mà không oán-hờn. Nhưng sự giáng-lâm
đầu tiên của Giê-su thấp-hèn bao nhiêu, th́ sự tái-lâm của Ngài sẽ vinh-hiển
và quyền-uy của Ngài to-tát vĩ-đại bấy nhiêu.
Ngài phục-lâm để làm ǵ? Để phân chia ra làm hai hạng người: hạng thuận với
Chúa, và hạng nghịch với Ngài: kẻ th́ được khen thưởng về những việc
công-b́nh, và kẻ bị trừng-phạt về những việc làm tội lỗi; kẻ được nhận
thiên-đàng đă sắm-sẵn cho từ khi dựng nên trời đất; kẻ th́ bị rủa, và bị quăng
vào lửa đời đời đă sắm sẵn cho ma-quỉ và những quỉ-sứ nó.
Đời Chiến-quốc bên Tàu có Tấn Văn Công, tên tộc là Trùng-Nhĩ. Khi vua cha qua
đời, hoàng-tộc tranh giành nối ngôi. Trùng-Nhĩ đang lúc ban đêm bỏ cung, lén
ra ngoài thành, chạy sang nước khác. Từ đó lang-thang hết chỗ nầy đến chỗ
khác, ông hoàng sống một đời thất-thế. Đám cận-thần theo hầu hạ lối hai mươi
người, toàn là những bậc tài-danh trong nước. Nếu pḥ vua mới tất được hưởng
quyền cao lộc cả, nhưng họ bỏ hết phú-quí, vợ con, gia đ́nh, quê hương, làm
tôi theo hầu Trùng-Nhĩ, lang-bạt, bữa đói bữa no. Cả bọn chúa tôi chịu kiếp ăn
mày. Nhưng tuy cực-khổ, nhục-nhă như vậy, nhưng đám cận thần vẫn trung thành
với Trùng-Nhĩ. Thậm-chí có người tên Giới Tử Thôi đă cắt thịt đùi cho
Trùng-Nhĩ ăn lúc lương-thực cạn kiệt. Bi-thiết đến thế mà vua tôi không bỏ
nhau, hy-vọng ngày về phục-vị. Ngày nọ, vua Tấn băng, hai ba ông hoàng chực
xâu-xé nhau v́ chiếc ngai vàng. Nhân-gian đă chán ghét cảnh nhiễu-nhương, nên
quay đi t́m Trùng-Nhĩ. Thế là hai mươi kẻ ăn mày phút chốc lên trị-vị cả một
quốc-gia, vinh quang chói ḷa.
Một ngày không xa, Giê-su sẽ phục-lâm trong vinh-hiển và quyền-uy tột bực để
đem măo triều vinh-hiển muôn đời, và hạnh-phúc bất-tuyệt ân-thưởng những kẻ
bền ḷng chờ đón ngày trở lại của Ngài.
Lúc ấy nhân-gian sẽ chia ra làm hai hạng người với hai phản-ứng nghịch nhau về
sự phục-lâm của Giê-su. Một hạng th́ hân-hoan nghinh-đón Chúa. Ta hăy nghe
Ê-sai miêu tả họ: “Trong ngày đó, người ta sẽ nói rằng: Ḱa, ấy là Đức Chúa
Trời chúng ta; chúng ta đă mong đợi Ngài, và Ngài sẽ cứu chúng ta. Ấy là Đức
Giê-hô-va; chúng ta đă mong đợi Ngài, chúng ta sẽ nức ḷng mừng-rỡ và đồng vui
về sự cứu-rỗi của Ngài!” (Ê-sai 25:9). Thật vui mừng hơn cảnh nhân-dân Tấn
trong ngày đại hân-hỉ, tiếp đón sự vinh-qui của Trùng-Nhĩ sau nhiều năm
lang-bạt ở xứ người.
Và đây, Giăng miêu tả cảnh-trạng trời long đất lở trước sự tái-lâm hùng-tráng
của Giê-su và cảnh-trạng kinh-hoàng của người chống Giê-su bằng tư-tưởng và
hành-động: “Trời bị dời đi như quyển sách cuốn tṛn, và hết thảy các núi các
đảo bị quăng ra khỏi chỗ ḿnh; các vua ở trên đất, các quan lớn, các tướng
quân, các kẻ giàu, các kẻ quyền-thế, các kẻ tôi-mọi, các người tự-chủ đều ẩn
ḿnh trong hang hố cùng ḥn đá lớn trên núi, chúng nói với núi và đá lớn rằng:
Hăy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi,
và khỏi cơn giận của Chiên Con! V́ ngày thạnh-nộ lớn của Ngài đă đến, c̣n ai
đứng nổi?” (Khải-huyền 6:14-17)
Địa-vị không c̣n nghĩa lư ǵ khi Chúa ngự-lai. Kẻ giàu, người nghèo, kẻ sang,
người hèn, kẻ quyền-thế, người cô-đơn, đều kinh-hoàng trước sự tái-lâm của
Chúa, nếu họ là những kẻ từ chối huyết của Đức Chúa Giê-su.
Bạn ơi “hiện nay là th́ thuận-tiện, hiện nay là ngày cứu-rỗi,” bạn c̣n chần
chờ mà chi? Đừng đợi đến ngày mai, v́ ngày mai có thể là cửa ân-điển hiện đang
mở rộng chờ đón bạn sẽ đóng lại mất!

GIÊ-SU PHỤC-LÂM CÁCH NÀO?
Sứ-giả Lu-ca ghi những phút cuối cùng của Đức Chúa
Giê-su trước khi từ-giă thế-gian mà về thiên-đàng như sau: “Ngài phán bấy
nhiêu lời rồi, th́ được cất lên trong lúc các người đó nh́n xem Ngài, có một
đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa. Các người đó đương ngó chăm trên
trời trong lúc Ngài ngự lên, xảy có hai người nam mặc áo trắng hiện đến trước
mặt, và nói rằng: Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm
chi? Giê-su nầy đă được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như
cách các ngươi đă thấy Ngài lên trời vậy.” (Công-vụ 1:9-11).
Đoạn sử trên hé cho ta xem một phần nào cách-thức Đức Chúa Giê-su phục-lâm.
Theo ánh-sáng của câu Kinh-thánh vừa trích-dẫn, quí vị sẽ thấy quan điểm
đích-thực của Giáo Hội Cơ-Đốc Phục-Lâm về cách Đức Chúa Giê-su trở lại.
Các vị thiên-sứ đă hiện đến khi Đức Chúa Giê-su vừa khuất-dạng trong không
gian sâu-thẳm, và quả-quyết với người Ga-li-lê đang xúc-động mănh-liệt về sự
từ biệt đột-ngột của Chúa họ rằng: “Đứng ngóng lên trời làm chi? Giê-su nầy đă
được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại NHƯ CÁCH CÁC NGƯƠI ĐĂ
THẤY NGÀI LÊN TRỜI VẬY.”
Nh́n ngóng làm chi nữa, đại-khái thiên-sứ dạy. Ngài đă đi, nhưng sẽ trở lại.
Các ngươi thấy Ngài đi làm sao sẽ thấy Ngài trở lại như cách Ngài lên trời.
Vậy, Ngài đă lên cách nào?
“... Ngài được cất lên trong lúc các người đó nh́n xem Ngài.” Ngài không
thăng-thiên một cách lén lút? Hiện người ta chưa t́m thấy năm sinh và năm chết
đích xác của Lăo-Tử. Người ta bảo là ngày kia có người thấy Lăo-Tử đi qua
phương Tây th́ phải, rồi từ đó không trở lại nữa, hẳn người đă đi lên cơi tiên
mà không chết. Người ta cũng tin Quỉ-Cốc đă lên trời cách bí-mật như thế.
Nhưng Đức Chúa Giê-su đă thăng-thiên trước sự chứng-kiến của một quần chúng
đông đảo, không biến đi một cách bí-mật, hay lẻn đi một cách chùng vụng. Tất
cả những hành-động của Giê-su không để lại cho những người tra-cứu một
nghi-vấn nào. Ít nhất là ngày ấy có 500 đôi mắt trên đỉnh núi Ô-li-ve mục-kích
sự lên trời của Giê-su, người Na-xa-rét. Chính Phao-lô công-khai thách-đố
những người đồng-thời của ông hăy thử đánh-đổ sự kiện hiển-nhiên ấy khi ông
tuyên-bố: “Cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn 500 anh em xem thấy, phần
nhiều người trong số ấy hiện bây giờ c̣n sống.” (I Cô-rinh-tô 15:6). Sứ-đồ
ngầm thách họ: các anh có hoài-nghi th́ cứ đi t́m những người đă mục-kích
Giê-su đó mà hỏi. Vâng, Đức Chúa Giê-su đă giă-biệt chúng ta vào một ngày có
ghi lại, tại một địa-điểm có ghi lại trước một số người chứng-kiến đông-đảo,
mà sử-sách c̣n ghi chép rành rành. Vậy nếu Giê-su trở lại như cách Ngài lên
trời, th́ nghĩa là Giê-su sẽ trở lại một cách đường đường chính chính, một
cách công khai, chớ không bí mật.
Thế mà ngày nọ, một vị chức sắc của một giáo phái kia đă cố thuyết cho tôi
nghe rằng Giê-su là một vị La-hán trong số các La-hán cứ lâu-lâu đảo kiếp lại
một lần. Và Giê-su người Do-thái trước kia, hiện trở lại thế-gian trong
h́nh-thể một người, đang sống với các La-hán khác ở dăy Hy-mă-lạp-sơn. Ṭ-ṃ
tôi hỏi, dựa vào đâu để biết là Giê-su đă trở lại trong h́nh thể một người
cùng với các La-hán khác ẩn cư ở vùng núi rừng thâm-u Ấn-độ? Vị chức-sắc ấy
quả quyết với tôi là đă có những vị đạo-sĩ trong những phút thiền-định xuất
hồn đến Hi-mă-lạp-sơn và đă gặp các vị ấy. Tôi không khỏi liên tưởng đến các
lời phán của Đức Chúa Giê-su Christ: “Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi
rằng: Ḱa, Đấng Cơ-Đốc ở đây, hay là: Ở đó, th́ đừng tin … Vậy nếu người ta
nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở trong đồng vắng, th́ đừng đi đến; nầy,
Ngài ở trong nhà, th́ đừng tin.” (Ma-thi-ơ 24:23-26). Ở Mỹ đă một lần có kẻ
mạo xưng là Giê-su tái-hiện. Dân chúng ùn-ùn đến xem và cũng có một số người
nhẹ dạ tin. Họ bị bùa-ếm cho đến ngày anh chàng mạo-danh kia bị bắt quả tang
phạm-tội vô-luân. Không, Giê-su không trở lại theo kiểu ấy, Ngài đă cẩn-thận
đề pḥng chúng ta bị những tṛ lừa-bịp như vậy. Ngài cảnh-giác chúng ta: “Nầy,
Ta đă bảo trước cho các ngươi ... Nhiều Cơ-đốc giả và tiên-tri giả sẽ dấy lên,
làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được th́ họ cũng đến dỗ-dành chính
những người được chọn.” (Ma-thi-ơ 24:24-25).
Lợi dụng tâm-trạng chờ mong tha thiết của tín-giáo, Sa-tan cho nhiều kẻ
trá-h́nh làm tiên-tri, làm Cơ-đốc để dỗ-dành họ. Thậm chí những kẻ được tuyển
chọn cũng mắc mưu chúng.
Trước đây, tôi có mua một chiếc máy ảnh Rolleiflex mới tinh-hảo. Thích chí quá
tôi đem ra trước sân ngắm-nghía. Có kẻ lạ mặt đứng lại nh́n. Lúc đầu y đứng
xa, sau y lân-la lại gần. Tôi hơi khó chịu về hành-động của người lạ ấy. Lát
sau, tôi đem máy chụp h́nh vào nhà, th́ con người kỳ-dị kia bỏ đi. Hôm sau là
ngày Sa-bát thứ bảy, tôi đi nhà thờ. Khi ở nhà thờ về, đứa cháu gái của tôi
bảo là hồi sáng, khi tôi đi vắng, có người đem giấy lại, tự giới-thiệu là thợ
sửa máy ảnh, và đă được tôi bảo đến nhà nhận lại chiếc máy Rolleiflex mới mua
về để sửa một chỗ trục-trặc nào đó. Y vừa nói, vừa lấy sổ ra kư. Tôi nghe nói,
lạnh toát cả người. Nhưng may là đứa cháu gái khôn ngoan, không tin người lạ,
không chịu giao máy ảnh, nên tôi không bị mất.
Nói cho đúng đứa cháu gái của tôi không bị dối gạt, v́ nó đă theo lời dặn
chúng tôi mà không bao giờ tiếp một người lạ mặt trong lúc chúng tôi đi vắng.
Đức Chúa Giê-su biết trong lúc Ngài đi vắng sẽ có những kẻ giả-mạo đến lừa gạt
những ai đang chờ đợi Ngài. Để pḥng ngừa tṛ phỉnh-dối ấy, Chúa đă thận-trọng
dặn-ḍ chúng ta.
Ngài sẽ không đến một cách lén lút, Ngài không đến riêng cho một vùng nào,
nhưng cho cả thế-giới. Ngài đă phán trước: “V́ như chớp phát ra từ phương
đông, nháng đến phương tây, th́ sự Con người đến sẽ cũng thể ấy.” (Ma-thi-ơ
24:27). Sự ngự-lai của Giê-su là một biến-cố quốc-tế, và muôn dân trên địa-cầu
sẽ phải chứng-kiến. Chớp-phát ra từ Đông phương nháng sang Tây phương thế nào,
th́ Giê-su cũng sẽ ngự đến như vậy. Cả Tây phương và Đông phương đều sẽ
mục-kích hiện-tượng vinh-hiển ấy. Nếu ta hiểu đúng Kinh-thánh, th́ khi Giê-su
hiện đến lần thứ hai, Ngài sẽ không đặt chân lên đất, mà sẽ ngự trên
không-trung như một định-tinh bất-động trong lúc địa-cầu quay trên trục nó từ
Tây sang Đông để mọi dân-tộc đều chiêm ngưỡng sự vinh-hiển chói-ḷa của Ngài.
Nhà tiên-tri ở đảo Bát-mô ghi lại rằng: “Ḱa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi
mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đă đâm Ngài cũng trông thấy; hết thảy các
chi họ trong thế-gian sẽ than-khóc v́ cớ Ngài. Quả thật vậy. A-men!”
(Khải-huyền 1:7).
Giê-su đă lên trời, cũng sẽ trở lại như cách Ngài lên trời vậy. Khi Ngài lên
trời có đám mây, và có thiên-sứ, th́ khi Ngài ngự đến cũng thế. Ngài đă báo
trước rằng: “Khi Con người ngự trong sự vinh-hiển ḿnh mà đến với các thiên-sứ
thánh, th́ Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh-hiển của Ngài.” (Ma-thi-ơ 25:31).
Khi Đức Chúa Giê-su giáng-sanh, thiên-sứ của Đức Chúa Trời đă hiện đến trên
ngọn đồi ngoại vi Bết-lê-hem, báo tin cho các kẻ mục-đồng biết. Các thiên-sứ
sẽ cùng ngự-lâm với Đấng Cơ-đốc, để làm sứ-mạng ǵ? Ta hăy nghe Đức Chúa
Giê-su giải-thích vai-tṛ của họ trong ngày trọng-thể ấy: “Ngài sẽ sai
thiên-sứ ḿnh dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đă được lựa chọn của
Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia.”
(Ma-thi-ơ 24:31).
Chúng ta có thể đoán rằng trong ngày ngự-lại của Đấng Cứu Thế, trần-gian sẽ
tràn-ngập trong ánh-sáng huy-hoàng ngoài cả sức chịu-đựng của mắt người nói
riêng, và sức người nói chung. Thiên-sứ có vinh-quang sáng-láng của họ.
Bằng-chứng dễ hiểu là giữa đêm Giê-su giáng sinh, một thiên-sứ của Chúa hiện
đến với các mục-đồng. Ở đây, chỉ có một thiên-sứ mà thôi, nhưng ta hăy nghe
lời thuật lại của bác-sĩ Lu-ca: “Một thiên-sứ của Chúa đến gần họ, và sự
vinh-hiển của Chúa chói-ḷa xung-quanh, họ rất sợ-hăi. Thiên-sứ bèn phán rằng:
Đừng sợ chi ...” (Lu-ca 2:9-10).
Một thiên-sứ mà đă sáng-láng như thế, th́ hàng muôn hàng ngàn thiên-sứ
tùy-tùng Đức Chúa Giê-su sẽ phát ra một vinh-quang đến mức độ nào? Đó là ta
chưa nói đến sự vinh-hiển của chính Đức Chúa Giê-su. Ở đây, tưởng chúng ta nên
nhớ lại rằng Đức Chúa Giê-su sẽ tái lâm trong sự chói sáng chớ không lu-mờ như
trong thân-h́nh bé-bỏng của một hài-nhi đă ra đời tại Bết-lê-hem bé nhỏ ngh́n
xưa. Trước khi giáng-thế làm người, một người thấp-hèn nhất trong đám người
thấp-hèn, để cứu toàn thể ḍng dơi loài người, Ngài đă từng sống trong sự
vinh-hiển của thiên-đàng. Trong lời cầu nguyện với Chúa Cha trước mặt các
đồ-đệ, Ngài đă khấn: “Cha ôi! Bây giờ xin lấy sự vinh-hiển Con vốn có nơi Cha
trước khi chưa có thế-gian mà làm vinh-hiển Con nơi chính ḿnh Cha.” (Giăng
17:5). Vinh-hiển của Chúa chói sáng đến mức ngoài cả sự tưởng tượng của chúng
ta. Ít lâu sau khi về trời, Đức Chúa Giê-su có hiện ra đặc-biệt cho một người,
và về sau người ấy làm chứng như sau: “Muôn tâu, lúc giữa trưa, tôi thấy có
ánh sáng từ trên trời, giáng xuống chói lói hơn mặt trời sáng ḷa chung quanh
tôi và kẻ cùng đi. Chúng tôi thảy đều té xuống đất, và tôi nghe tiếng phán
cùng tôi bằng tiếng Hê-bơ-rơ rằng: Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao người bắt-bớ Ta?...
Tôi thưa: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa đáp rằng: Ta là Giê-su mà ngươi đương
bắt-bớ.” (Công-vụ 26:13-15).
Giữa tiếng kèn vang dậy và trước ánh-sáng chói-ḷa của các thiên-sứ, ai có thể
không hay biết là Giê-su hồi-lai? Vậy nên Chúa ví sự tái-lâm của Ngài “như
chớp phát ra từ phương Đông, nháng đến phương Tây” thật chính xác vậy. Thế
th́, bạn ơi! Nếu có ai bảo với bạn rằng Giê-su đă tái-lâm, hiện ở đây hay ở
đó, trong h́nh-thể, một nhân-vật nầy hay một nhân-vật khác, xin đừng nhẹ dạ
tin theo.
Sự tái-lâm của Đức Chúa Giê-su là một hiện-tượng toàn-cầu, nghĩa là nơi nơi
đều hay biết. “Ngài sẽ sai thiên-sứ ḿnh dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại
những kẻ đă được lựa-chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy
cho đến tận phương kia.” (Ma-thi-ơ 24:31). Để chúng ta có một ư-niệm rơ-rệt về
sự phổ-biến của hiện-tượng, và cũng để cho ta thấy rơ thêm vai tṛ của
thiên-sứ, Đức Chúa Giê-su ví chúng ta, những người được chọn, với xác chết, và
các thiên-sứ như chim ó. “Nơi nào có xác chết, th́ những chim ó sẽ nhóm tại
đó.” (Ma-thi-ơ 24:28) Nói khác đi, chỗ nào có người chờ Chúa, th́ tất-nhiên
các thiên-sứ đến để tiếp đón họ. Những người chờ Chúa tản-mác khắp bốn phương
trời. Và họ không cần đi đâu để gặp Chúa cả, chẳng hạn trèo đồi lội suối để
lên tận đỉnh Hy-mă-lạp-sơn, song các sứ trời sẽ đến tận nơi đón họ đi.
Sự vinh-hiển chói-lói của Chúa lúc Ngài hiện đến với các thiên-sứ sẽ có
mănh-lực tiêu-diệt những kẻ ác. Họ không chịu nổi sự vinh-quang của Chúa. Thế
nên Phao-lô đă viết: “Đức Chúa Giê-su sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy-diệt nó,
và trừ bỏ nó bởi sự chói-sáng của sự Ngài đến.” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8).
Bạn phân-vân tự hỏi: “Liệu những người chờ Chúa có chịu-đựng nổi sự vinh-quang
của Chúa không?” Bạn thân mến, nếu đạo Chúa đă thấm-nhuần trong chúng ta th́
vào giây phút Chúa hiện đến, chúng ta sẽ trở nên vinh-hiển như các thiên-sứ
sáng-láng, và chúng ta sẽ không lóa mắt trước vinh-quang của Ngài. Sở-dĩ chúng
tôi tin như vậy v́ đă có lời xác-chứng của Phao-lô như sau: “Khi nào Đấng
Cơ-đốc, là sự sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với
Ngài trong sự vinh-hiển.” (Cô-lô-se 3:4). Sự vinh-hiển nguyên-thủy của chúng
ta mà trước đây tội-lỗi của tổ-tiên ta đă làm cho lu-mờ, th́ nay đă dần được
phục hồi một cách âm-thầm trong bản-chất của người tín-giáo Cơ-đốc, khi Đức
Chúa Giê-su trở lại chúng ta sẽ trở nên thánh thiện một cách hoàn-hảo.
Trước khi Đức Chúa Giê-su đến thành Giê-ru-sa-lem để chịu thương khó, nghĩa là
khi giờ quyết-liệt sắp đến, Ngài đem ba môn-đồ thân-cận của Ngài là Gia-cơ,
Phi-e-rơ, và Giăng lên núi cao. Tại đây, Ngài đă cho họ chứng kiến trước
hiện-tượng vinh-hiển như lúc Ngài tái-lâm. Thuật-lại hiện-tượng ấy, sử-gia
Ma-thi-ơ chép như sau: “Ngài biến-hóa trước mặt các người ấy, mắt Ngài sáng
ḷa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng. Nầy, có Môi-se và Ê-li hiện đến,
nói chuyện cùng Ngài.” (Ma-thi-ơ 17:2-3). Sử-gia đă phải dùng ánh-sáng chói
ḷa nhất mà ta biết được là ánh-sáng của mặt trời để giúp ta h́nh dung phần
nào sự vinh-quang của Chúa. Cùng trong sự vinh-hiển ấy, ta thấy có Môi-se, vị
lănh-tụ của Y-sơ-ra-ên, người đă chết trên đỉnh Phích-ga thuộc núi Nê-bô gần
đồng bằng Mô-áp. Về xác của người, sử thánh chép: “Đức Chúa Trời bèn chôn
người trong trũng tại xứ Mô-áp, đối ngang Bết-phê-o; cho đến ngày nay không có
ai biết được mộ của người.” (Phục-truyền 34:6). Người ta không biết mộ của
người và thi-hài của người đâu cả, nhưng một tác-giả Kinh-thánh đă quả quyết
với chúng ta: “Chính ḿnh thiên-sứ-trưởng Mi-chen chống với ma-quỉ giành xác
Môi-se...” (Giu-đe 9). Lời tuyên-bố ấy được xác-chứng trên núi kia, trước
những con mắt chứng-kiến của các sứ-đồ. Môi-se: đại-biểu cho nhóm người tin
Chúa đă chết rồi. Khi Chúa trở lại trong sự vinh-quang tột-bực, họ sẽ sống lại
trong sự vinh-hiển với Chúa như Môi-se. C̣n nhân-vật đứng bên cạnh Giê-su
trong phút hóa h́nh là Ê-li. Ê-li là một tiên-tri Do-thái trong đời vua A-háp.
Người đă hoàn thành sứ-mạng của ḿnh một cách vẻ-vang trong những t́nh-thế
cam-go nhất của dân-tộc, và người đă được cất lên trời, trên một chiếc xe bằng
lửa trước sự chứng-kiến của Ê-li-sê, người nối nghiệp tiên-tri Ê-li. Ê-li đă
hiện đến núi hóa-h́nh trước sự ngạc-nhiên êm-đềm của các môn-đồ Đức Chúa
Giê-su, để bảo-đảm với họ rằng trong giờ phút hồi-lai vinh-quang của Chúa,
những kẻ trung-kiên với Chúa mà đang sống sẽ được vinh-hiển với Đấng mà họ
mong chờ.
Chúng ta thấy Phao-lô hoàn-toàn đồng ư với quan-điểm ấy, khi ông viết: “Nầy là
sự mầu-nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ
biến-hóa … Vả, thể hay hư-nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay
chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết.” (Cô-rinh-tô 15:51-53).
Tất cả tôi tớ, con cái của Chúa, dù sống dù chết rồi đều sẽ biến hóa. Với
thân-thể biến-hóa ấy, chúng ta sẽ có bản thể bất-diệt và bất-tử. V́ vậy nên sự
vinh-hiển sáng-ḷa của Chúa giết kẻ ác mà không hại những người đang chờ đón
Ngài.
Có người căn-cứ trên điều-kiện sinh-hoạt b́nh-thường của con người trần-thế,
và dựa vào những khám-phá của khoa-học về vật-lư và không-gian mà quả-quyết
rằng, việc các người địa-cầu du-hành trên không-gian không thể thực-hiện được.
Thân-thể mỏng-manh của con người sẽ không chịu nổi sức nóng, sức lạnh, chất
phóng xạ, và bao nhiêu điều-kiện gây chết người như thiếu dưỡng khí, v.v...
Nhưng họ không biết rằng có những bản-thể sống được. Một bằng chứng trong
Kinh-thánh là câu chuyện về ba người Hê-bơ-rơ bị quăng vào ḷ lửa hực, mà sức
nóng gấp bảy lần lửa b́nh thường, nhưng họ vẫn sống. Nguyên văn đoạn sử như
sau: “Nhơn v́ mạng vua truyền kíp lắm, mà ḷ lửa th́ đốt nóng lạ thường, nên
những người quăng Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bị ngọn lửa cháy chết. C̣n
ba người, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-Nê-gô, vẫn bị trói mà rơi vào giữa ḷ lửa
hực … Đoạn, vua Nê-bu-cát-nết-sa đến gần cừa ḷ lửa hực, cất tiếng nói rằng:
Hỡi Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, là tôi-tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, hăy
ra và lại đây! Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bèn từ giữa đám lửa mà ra. Các
quan trấn-thủ, lănh-binh, các người cai-trị và các nghị-viên của vua đều nhóm
lại, thấy lửa không có quyền làm hại thân-thể ba người ấy được, cũng chẳng có
một sợi tóc nào trên đầu họ bị sém; áo xống họ chẳng bị si-sứt chút nào, và
mùi lửa cũng chẳng qua trên họ.” (Đa-ni-ên 3:22-27).
Sự-kiện trên đây chứng-minh một cách hùng-hồn rằng trong thân-thể biến-hóa của
chúng ta, những mănh-lực thiên-nhiên không thể làm hại chúng ta được. Và cuộc
du-hành không-gian mà các nhà khoa-học chưa thấy khả-năng thực-hiện trước bao
trở-lực của vũ-trụ không c̣n là vấn-đề đối với những người được Chúa cứu trong
ngày tái-lâm vinh-quang của Chúa. Ví thử các nhà khoa-học của chúng ta có
giải-quyết được vấn-đề bảo vệ thân người khỏi những trở lực của không gian,
th́ con người vẫn phải giải quyết vấn đề thời-gian, để du-hành sang các tinh
cầu xa xôi đ̣i hỏi đến hằng ngàn hằng triệu năm ánh sáng, mới đến được các
tinh cầu gần thái-dương hệ của chúng ta. Kiếp sống phù-du của con người không
đưa họ đến một trạm nào trong không-gian diệu-vợi cả. Nhưng, với thân-thể
biến-hóa của người tin Chúa sau nầy – chưa nói đến tốc-lực vận-chuyển kinh hồn
mà khối óc con người hiện chưa ư-niệm được – họ sẽ sống măi măi với thời-gian
để thực-hiện bất-cứ một cuộc hành-tŕnh dài nào, nếu muốn.
Nói tóm lại, Giê-su đă lên trời, th́ Giê-su sẽ trở lại. Giê-su đă lên trời làm
sao, th́ Ngài cũng sẽ ngự xuống như vậy. Ngài đi tỏ-tường th́ cũng sẽ trở lại
tỏ-tường, không thầm-kín, không lén-lút, không có tính-cách địa-phương như
nhiều người bị lừa phỉnh. Ngài sẽ ngự-lai giữa tiếng kèn của muôn vàn
thiên-sứ. Trước vinh-quang chói sáng ấy, hết thảy những kẻ đối-lập Giê-su sẽ
bị thiêu hủy. Nhưng những kẻ bền ḷng và trung-kiên chờ Chúa, gồm cả kẻ sống,
người chết trong Giê-su, đều sẽ biến-hóa và vinh hiển muôn đời. Chúng tôi mong
quí vị sẽ tham-dự vào cuộc du-hành liên-tinh-tú sẽ thực hiện nay mai ấy, trong
ngày Chúa của cả nhân loại hồi lai.

KHI NÀO GIÊ-SU PHỤC-LÂM?
Trong thời Đức Chúa Giê-su, dân Do-thái rất tự-hào về
thành Giê-ru-sa-lem đồ-sộ và nguy-nga của họ. Nhưng một hôm, khi các môn-đồ
chỉ cho Chúa xem các ngôi nhà thuộc về đền-thờ, th́ Ngài phán rằng: “Các ngươi
có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không c̣n
một ḥn đá nào chồng trên một ḥn khác mà không bị đổ xuống.” (Ma-thi-ơ 24:2).
Các môn-đồ nghĩ thầm rằng Đức Chúa Giê-su phán như vậy là tiên-tri về số-phận
ngôi đền-thờ kiên-cố của họ trong ngày tàn-phá chung của thế-giới, v́ họ
yên-trí như mọi người Do-thái khác rằng, ngoài những biến-động phi-thường làm
kinh-thiên động-địa để lật đổ tất cả những công-tŕnh kiến-trúc vĩ-đại của
nhân-loại, th́ đền-thờ cất bằng những tảng đá khổng lồ của họ sẽ không bao giờ
chuyển dời được. Họ tin-tưởng ở khả năng tiên-tri của Đức Chúa Giê-su, nên họ
chẳng bỏ qua cơ-hội hỏi Chúa cho biết lúc nào sẽ tận thế. Thế rồi, họ
lẳng-lặng theo Chúa lên tận núi Ô-li-ve. “Ngài đương ngồi trên núi Ô-li-ve,
môn-đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc
nào những sự đó sẽ xảy ra? Và có điềm ǵ chỉ về sự Chúa đến và tận-thế?”
(Ma-thi-ơ 24:3). Tuy các môn-đồ đă lầm về tính-cách nguy nga của đền-thờ,
nhưng họ đă nhận-định đúng rằng: Ngày Giê-su đến lần thứ hai là ngày tận cùng
của thế-giới.
Đức Chúa Giê-su tách rời hai biến-cố, và trả lời câu hỏi của họ về sự tàn-phá
của đền-thờ như vầy: “Khi các ngươi sẽ thấy quân-lính vây thành Giê-ru-sa-lem,
hăy biết sự tàn-phá thành ấy gần đến. Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hăy trốn
lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào
thành.” (Lu-ca 21:20, 21).
Lịch-sử thế-giới cho chúng ta biết rằng năm 70 S.C. nghĩa là khoảng năm 40 sau
khi có lời dự-ngôn của Đức Chúa Giê-su, chư-hầu Pha-lê-tin nổi lên chống lại
với chánh-quyền bảo-hộ La-mă, nên tướng Titus kéo quân đội vây thủ-đô
Giê-ru-sa-lem. T́nh-h́nh quân dân trong thành, sau một thời-gian bị vây hăm đă
nao núng lắm. Cảnh hỗn-độn đă diễn ra trong thành, và người ta cũng đă nói đến
chuyện đầu hàng vô điều-kiện. Nhưng bỗng dưng – và măi đến nay người ta cũng
chưa t́m ra lư do – đội hùng-binh La-mă dưới quyền chỉ-huy của mănh-tướng
Titus hấp-tấp rút lui, nới rộng sự phong tỏa, như chạy trốn trước một sức phản
công mănh liệt. Thu hết tàn-lực, quân-đội Do-thái truy kích quân-đội La-mă.
Biến-chuyển kỳ-quái ấy đập mạnh vào tâm trí của những người tín-đồ Cơ-đốc, và
họ nhớ lại lời của Đức Chúa Giê-su phán tỏ-tường rằng: “Khi các ngươi sẽ thấy
quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hăy biết sự tàn-phá thành ấy gần đến. Lúc
đó, ai ở trong xứ Giu-đê hăy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài,
ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành.” (Lu-ca 21:20, 21). Không do-dự ǵ nữa, họ
biết là giờ tàn-phá của thành đă gần kề, họ bèn ngoan-ngoăn nghe theo lời Chúa
dạy mà bồng-bế nhau di tản ra khỏi thành, trước sự ngạc-nhiên của những người
vô-tín, và sự gièm chê của những sự lạc-quan trước biến-chuyển đột-ngột của
t́nh-thế. Quả-nhiên, cuộc di tản của nhóm người Cơ-đốc-đồ vừa hoàn-tất th́
quân-đội La-mă đánh quật lại, đẩy lui quân-đội Do-thái trở về thành, ṿng vây
lại siết chặt và kiên cố hơn trước. Kết quả là pḥng-tuyến Do-thái bị chọc
thủng, quân lính La-mă tràn vào thành như nước vỡ bờ. Sự phiến-loạn của
dân-quân Do-thái và đầu óc ương-ngạnh của họ làm sôi gan quân lính La-mă.
Chúng hăm-he tàn-sát dân trong thành và thiêu-hủy đền-thờ là nơi dân chúng kéo
vào và cố thủ. Tướng chỉ-huy quân đội La-mă muốn bảo vệ thành Giê-ru-sa-lem
như một di-tích lịch-sử thế-giới, nên ra lịnh cho binh sĩ không được xâm phạm
đền thánh, và toan dùng phương-pháp ḥa b́nh khuyến-dụ dân chúng đầu hàng. Thế
mà có kẻ đă trái thượng lệnh, ném lửa vào đền thờ gây nên hỏa-hoạn, thiêu-rụi
công-tŕnh kiến-trúc vĩ-đại của dân Do-thái, và một cổ-tích lịch-sử rất có
giá-trị của thế-giới. Nhưng nếu chỉ thế thôi th́ lời dự-ngôn của Giê-su cũng
chưa ứng-nghiệm hoàn-toàn, v́ nền đá hăy c̣n trơ trơ như thách thức sức
tàn-phá của lửa và của quân-đội. Mà Giê-su th́ đă quả-quyết với môn-đồ Ngài
rằng: “Đây sẽ không c̣n một ḥn đá nào chồng trên một ḥn khác mà không bị đổ
xuống.” (Ma-thi-ơ 24:3) Nhưng rồi, người ta thấy quân lính La-mă hung-hăng,
cuồng-nhiệt nạy tung tất cả nền của đền-thờ, đến nỗi không c̣n một ḥn đá nào
nằm nguyên chỗ cũ. Hết thảy đều bị lật lên bừa-băi, hỗn-độn ngổn-ngang. Họ làm
như vậy v́ mục-đích ǵ? Để đập tan di-tích tượng trưng cho ḷng kiêu-hănh của
dân-tộc Do-thái bất-khuất? Không, họ chỉ lật đá lên để t́m những vàng trong
đền thờ bị lửa đốt chảy xuống các khe đá. Những tên lính La-mă ham vàng ấy
không ngờ rằng hành động của họ đă vô h́nh chung thực-hiện lời tiên-tri của
Đức Chúa Giê-su: “Sẽ không c̣n một ḥn đá nào chồng trên một ḥn khác mà không
bị đổ xuống.”
Để thỏa-măn óc hiếu-kỳ của các môn-đồ, và của cả chúng ta nữa, về thời-kỳ
tận-thế, hay là thời-kỳ Giê-su phục-lâm, Chúa đă cho họ một số điềm báo trước.
Các điềm Chúa kể thuộc nhiều lănh vực khác nhau như: Tôn-giáo, chính-trị,
xă-hội, khoa-học v.v... Bạn nên nhớ kỹ: Đức Chúa Giê-su chỉ cho biết những
điềm tiên-báo sự phục-lâm của Ngài, chứ không ấn-định trước với chúng ta ngày
và giờ Ngài trở lại. Có những kẻ sống trước chúng ta cũng đă từng băn-khoăn và
nôn nóng, họ đă bạo dạn đến trực tiếp hỏi Đức Chúa Giê-su về ngày và giờ Ngài
hồi-lai. Với nhóm người tập-họp tiễn-biệt Chúa thăng-thiên, Ngài đáp: “Kỳ hạn
và ngày giờ mà Cha đă tự quyền định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết.”
(Công-vụ 1:7). Và trước đó, khi Ngài chưa thọ h́nh trên thập-tự, Ngài đă phán
bảo các môn-đồ của Ngài rằng: “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả,
thiên-sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một ḿnh Cha biết mà thôi.”
(Ma-thi-ơ 24:36). Đây là một trong những thiên-cơ mà Thượng-đế thấy không tiện
tiết-lộ cho loài người.
Tuy không cho ta biết đích-xác ngày Chúa Tái-lâm, cũng như không báo trước
ngày giờ thành Giê-ru-sa-lem bị tàn-phá, nhưng Đức Chúa Giê-su có cho chúng ta
các dấu-hiệu về ngày tận-thế, cũng như Ngài đă lấy việc phong tỏa thành
Giê-ru-sa-lem làm ám-hiệu cho dân-sự của Ngài chạy khỏi thủ-đô sắp bị tàn phá
kia. Và, nếu không một môn-đồ nào của Chúa đă cùng số-phận với những kẻ bị
giết trong thành Giê-ru-sa-lem trong năm 70 S.C., theo sử gia khách-quan
Josephus, th́ chúng ta có thể xác-tín rằng khi theo dơi các điềm của Chúa báo
trước, chúng ta rất có thể phỏng đoán được thời kỳ nào Chúa sắp tái-lâm.
Lănh vực tôn-giáo và đạo-đức cung cấp cho ta những điểm nào? Đức Chúa Giê-su
dự-ngôn: “Nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Cơ-đốc; và sẽ
dỗ-dành nhiều người.” (Ma-thi-ơ 24:5). Sau những năm chiến-tranh, con người
chán-ngán với tất cả những tranh-chấp, với máu và lửa, và nhận-thức cảnh
bấp-bênh của đời người, nên quay về với tôn-giáo để t́m những giá-trị
tinh-thần thực-sự và trường-cửu. Kẻ thù của linh-hồn nhân-loại đă lợi-dụng
t́nh-thế để tung biết bao thứ đạo mới, lung-lạc niềm tin của con người. Như
một đoàn người sắp chết khát thấy bóng-dáng của nước là giành-giựt nhau mà
uống, những linh-hồn khao-khát điều thiêng-liêng để xoa dịu những vết thương
tinh-thần, những ǵ tươi mát để làm tỉnh táo phần tâm-linh đă khô-héo kia, đă
hăm-hở đón lấy tất cả những nhăn hiệu tôn-giáo đến với họ trước nhất. Ngay
trên dải đất Việt-nam mến-yêu của chúng ta, một luồng sinh-khí đă thổi lên các
giáo-phái mới và cũ. Các chùa-chiền, đền miếu tranh nhau mọc lên như nấm. Hơn
bao giờ hết, thời gian qua, lănh vực tôn-giáo đă bày ra một quang cảnh
rộn-rịp, tấp-nập. Người muốn đi t́m chân-lư bị lạc-lơng trong một rừng bảng
hiệu tôn giáo mà cái nào cũng rêu-rao là chính-đạo cả. “Nhiều Cơ-đốc giả và
tiên-tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được th́ họ
cũng đến dỗ dành chính những người được chọn.” (Ma-thi-ơ 24:24).
Ngay trong giới Cơ-đốc, những người xưng ḿnh là đồ đệ của Chúa Cơ-Đốc nhưng
cố t́nh làm lu mờ h́nh ảnh của Ngài bằng cách thần thánh hóa những nhân vật
lănh đạo tôn giáo, phong tặng cho các nhân vật ấy những thẩm quyền và tước vị
mà chỉ một ḿnh Chúa Giê-su Cơ-đốc là Con Đức Chúa Trời mới xứng đáng được mà
thôi. Giê-su đă bị đẩy lùi xuống vị trí thứ yếu để giành địa-vị chánh yếu cho
các nhân-vật mà họ tôn sùng. Gần đây trong các lễ của Đạo Chúa nói chung,
những lễ linh-đ́nh nhất, xa-hoa nhất, bạn có để ư chăng? – không phải là lễ để
tôn vinh Giê-su!
T́nh-trạng chung của thế-giới Cơ-đốc th́ sao? “Lại v́ cớ tội-ác sẽ thêm nhiều,
th́ ḷng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần.” (Ma-thi-ơ 24:12).
Tôi thành-khẩn xin hỏi nhỏ các tín-hữu Cơ-đốc Phục-Lâm: Các bạn có nhận thấy
chăng t́nh-trạng hâm-hẩm của hội-thánh Lao-đi-xê ngay trong thế-hệ Cơ-đốc
chúng ta? Sự uy-hiếp của lực-lượng tội-ác đang gia tăng trong một xă-hội tôn
sùng vật chất làm nguội dần ḷng sùng-đạo nồng-nhiệt ban đầu của chúng ta. Nào
đâu những ngày ta say-sưa với lư-tưởng Cơ-đốc? Nào đâu bầu nhiệt-huyết ta đă
dốc đổ vào việc chứng-đạo? Và nào đâu ḷng mến yêu Chúa nồng-nàn trong
huyết-quản chúng ta? Bạn có nhận thấy chăng thực trạng của giới Cơ-đốc là một
trong những dấu hiệu của thời-kỳ sau rốt?
Phao-lô góp lời để minh-họa bức tranh đạo-đức của xă-hội ngày nay như sau:
“Trong ngày sau-rốt, sẽ có những thời-kỳ khó-khăn. V́ người ta đều tư-kỷ, tham
tiền, khoe-khoang, xấc-xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, bội-bạc, không
tin-kính, vô t́nh, khó ḥa-thuận, hay phao-vu, không tiết-độ, dữ-tợn, thù
người lành, lường thầy phản bạn, ... ưa thích sự vui chơi hơn là yêu-mến Đức
Chúa Trời.” (II Ti-mô-thê 3:1-4). Đây không phải là diễn-đàn để tố-cáo những
tội ác của xă-hội chúng ta; nhưng hẳn bạn đồng ư rằng báo-chí hằng ngày đang
phản-ảnh thực trạng đạo-đức xă-hội hiện thời, và h́nh-ảnh của xă-hội chúng ta
gần như hoàn toàn giống với cái xă hội băng hoại mà Phao-lô đă miêu tả trong
Kinh-thánh.
Trong lănh vực chính-trị có điềm ǵ chăng? Đức Chúa Giê-su báo trước: “Các
ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: Hăy giữ ḿnh, đừng bối-rối, v́
những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu. Dân nầy sẽ dấy lên nghịch
cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia.” (Ma-thi-ơ 24:6-7).
Chiến-tranh chấm-dứt, nhân-loại như qua một cơn ác-mộng kinh-hoàng. Tưởng thế
là loài người đă học bài học nên sống ḥa-b́nh với nhau, nhưng ngờ đâu khói
lửa vẫn tiếp-tục cháy sau ngày Đồng-minh hoàn-toàn đánh găy trục Đức, Ư, Nhật.
Những nước trước kia là bạn chiến-đấu, bây giờ trở thành thù-địch nhau. Chiến
tranh tiếp tục dưới h́nh-thức nóng, lạnh không ngừng, lúc ở Đông, lúc ở Tây,
khi th́ Nam, khi th́ Bắc. Các cường-quốc thi đua chế-tạo vũ khí nguyên-tử, và
cả vũ-khí vi-trùng. Rồi c̣n bao nhiêu thứ khí-giới khủng khiếp khác được giữ
kín mà sức tàn-phá có thể tiêu-diệt toàn-thể dân-cư trên thế-giới trong khoảnh
khắc.
Thế-giới đang ngồi trên họng một Hỏa-diệm-sơn có thể phun lửa bất-cứ giờ phút
nào. Để pḥng-ngừa những cuộc tấn-công bất-ngờ, quân-đội các cường-quốc như ở
trong t́nh-trạng báo-động thường-xuyên. Trên trời Tây, lúc nào người ta cũng
thấy những chiếc máy bay tuần-hành với những quả bom nguyên-tử. Những giàn
hỏa-tiễn đă thiết-lập trên những điểm chiến-lược, sẵn-sàng hoạt-động khi có
dấu-hiệu tấn công của đối-phương.
T́nh-h́nh thế-giới bao giờ cũng căng-thẳng. Tiếng súng chưa phút nào thật sự
im ắng trên địa-cầu, tuy người ta bảo đây là thời ḥa-b́nh trên nguyên-tắc.
Thật chưa bao giờ như bây giờ, chiến-tranh phổ-biến trên toàn thế-giới. Từ
những cuộc xâm lăng cho đến những cuộc nội chiến, họ đánh nhau v́ dầu hỏa, v́
phân biệt sắc tộc, v́ hiềm khích tôn giáo. Trong lúc đó nước nào cũng hô-hào
ḥa-b́nh, dân-tộc nào cũng tự-hào ḿnh là dân-tộc yêu-chuộng ḥa-b́nh nhất.
Mikoyan thừa-nhận dân-tộc Mỹ thích ḥa-b́nh; Khrushchev quả-quyết dân Nga
không thích ǵ hơn là sống ḥa-b́nh với các dân khác. Thế mà, các nhà lănh-tụ
thế-giới vẫn thủ thế với nhau, tuyên-truyền bằng đủ h́nh-thức để châm ngọn lửa
căm-hờn vào tư tưởng của nhân-dân, thúc đẩy chiến tranh. Có thể các nhà
lănh-tụ ấy và nhân dân các nước thực-tâm yêu-chuộng ḥa-b́nh, nhưng lại sử
dụng chiến tranh làm phương tiện để ổn định t́nh h́nh. Họ đă hành-động trái
với nguyện-vọng của họ, theo sự thúc-đẩy của một thế-lực chinh-chiến vô-h́nh.
Đứng trước hiện t́nh thế-giới, mọi người không thể không tin rằng lời dự-ngôn
của Chúa Giê-su đang được ứng-nghiệm: “Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng
đồn về giặc ... Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng
nước kia...” (Ma-thi-ơ 24:6, 7).
Kinh-thánh không phủ-nhận thiện-chí ḥa-b́nh của các dân tộc trong thời-kỳ
sau-rốt. Kinh-thánh dự-ngôn sẽ có những phong-trào ḥa-b́nh thế-giới. Ngoài
ra, tổ-chức Liên-hiệp-quốc với Hội-đồng Bảo-an là những tượng-trưng cụ-thể cho
ư-chí ḥa-b́nh của các nước, ta thấy có biết bao phong-trào vận-động ḥa-b́nh.
Có bao nhiêu cuộc hội-nghị đă mở ra giữa các cường-quốc, giữa các mặt trận, có
biết bao cuộc đàm-phán ở nhiều cấp của các chính phủ, cả thảy đều nhằm
mục-đích đem lại ḥa-b́nh giữa các dân-tộc, và làm dịu t́nh-h́nh căng-thẳng
của thế-giới. Những cuộc vận-động ấy, những hội-nghị ấy cũng đem lại một vài
kết-quả đáng ca-tụng và đáng ghi nhận. Song, thành-khẩn mà nói, ta phải khẳng
định rằng chiến-tranh vẫn c̣n hăm-dọa nhân-loại.
Ta có thể kết luận nền ḥa-b́nh hiện-thời là vô cùng mỏng-manh, chỉ là một bề
mặt tạm bợ mà thôi.
Trước đây, Mỹ tố-cáo Nga chủ-trương chiến tranh lạnh, mà Khrushchev trong bài
diễn-văn đọc vào kỳ đại-hội 21 Đảng Cộng-sản Nga th́ quả-quyết là phải
chấm-dứt chiến-tranh lạnh v́ không có lợi. Tuyên-bố th́ tuyên-bố, chiến-tranh
vẫn tiếp-tục, tạm thời, dưới h́nh-thức kinh-tế, tâm lư v.v... để một ngày nào
đây biến thành chiến-tranh nguyên-tử.
Chiến-tranh và những tin-tức về chiến-tranh ta đọc trên mặt báo-chí hằng ngày,
là một dấu-hiệu của thời-đại chúng ta, hay nói chính xác hơn, là một điều
chắc-chắn về sự phục-lâm rất gần của Đức Chúa Giê-su.
Đừng để những lời tuyên-truyền ru-ngủ chúng ta. Ḥa-b́nh trong hiện t́nh
thế-giới chỉ là giả-tạo, chính nó phải là tiếng chuông báo-thức chúng ta, v́
Đức Chúa Giê-su sắp trở lại rồi.
Phao-lô nói: “Hỡi anh em, về thời và kỳ, th́ không cần viết cho anh em; v́
chính anh em biết rơ lắm rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm
vậy. Khi người ta sẽ nói rằng: B́nh-ḥa và yên-ổn, th́ tai-họa th́nh-ĺnh vụt
đến, như sự đau-đớn xảy đến cho người đàn-bà có nghén, và người ta chắc không
tránh khỏi đâu. Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối-tăm, nên nỗi
ngày đó đến th́nh-ĺnh cho anh em như kẻ-trộm.” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:1-4).
Ngày hủy-diệt của thành Giê-ru-sa-lem năm 70 S.C. quả là một biến cố bất ngờ
cho đa số dân-chúng trong thành. Họ tưởng ḥa-b́nh được thiết lập trong ngày
quân đội La-mă bỗng dưng rút lui khỏi thủ-đô của họ trước sự truy kích của
quân-đội Do-thái. Họ đă ngộ-nhận tính cách dối gạt của nền ḥa-b́nh ấy, và
kết-quả như thế nào? – Sự hủy-diệt đă th́nh-ĺnh đến trên họ, trong lúc những
môn-đồ của Chúa đă di tản ra khỏi thành. Sự tàn-diệt đă không đến trên người
Cơ-đốc-đồ một cách th́nh-ĺnh. Bạn đă biết v́ sao rồi: V́ họ biết lời
tiên-tri, biết phân-tích thời-cuộc để giải-thích những dấu hiệu đang diễn ra
và hành-động đúng theo lời Chúa dạy. Để biết ngày Chúa gần kề, để dự-bị tránh
cơn đại-nạn sắp tới, mong bạn hăy hành động như những môn-đồ của Đức Chúa
Giê-su trong ngày sụp đổ của cố đô Giê-ru-sa-lem năm 70 S.C.

DẤU-HIỆU SỰ PHỤC-LÂM CỦA GIÊ-SU.
Giê-su đă giáng sinh theo lời hứa và lời dự-ngôn của
tiên-tri, cũng như việc Ngài về trời ít lâu sau khi Ngài sống lại, đây là
những sự-kiện lịch-sử hiển-nhiên. Căn-cứ trên những sự-kiện không thể chối-căi
ấy, chúng ta không thể không tin rằng chắc-chắn Giê-su sẽ trở lại trần-gian
như lời đă hứa. Những ǵ xảy ra gần đây trong thế-giới tôn-giáo, cũng như
những hiện tượng thiên-văn kỳ-bí, như sự tối-tăm trong ngày 19-05-1780, hay
hiện tượng sao sa kỳ-ảo trong đêm 12 và 13 tháng 11 năm 1833, là những dấu
hiệu của thời-đại, báo trước ngày phục-lâm không c̣n xa nữa của Đấng Cơ-đốc.
Khi Đấng Tạo-hóa dựng nên các thiên-thể, Ngài phán rằng: “Phải có các v́ sáng
trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để
định th́-tiết, ngày và năm.” (Sáng-thế-kư 1:14). Mặt trời giúp ta phân-biệt
ban ngày, mặt trăng ngự trị ban đêm. Trăng hết tṛn lại khuyết, hết khuyết lại
đầy, để giúp ta một phương-tiện phân-định thời-gian, nhất là đối với những nhà
làm lịch căn-cứ trên tuần trăng. Những vị trí tương-quan giữa mặt trời và trái
đất quyết định các mùa và thời tiết trong năm. Những người thông-thạo về
thiên-văn có thể nh́n vị-trí của các cḥm sao trên bầu trời mà dự báo thời
tiết dưới đất. Thật đúng như lời phán của Đấng Tạo-hóa, mỗi tinh cầu có
nhiệm-vụ khác nhau, nhưng riêng với dân-cư trên địa-cầu, th́ chúng dùng làm
dấu định th́-tiết. Đức Chúa Trời đă dùng các hiện tượng đặc biệt của những
tinh cầu trên trời để mang một sứ-mạng đặc-biệt, như là một dấu hiệu cho ngày
Giê-su sắp tái-lâm.
Nếu các hiện-tượng ấy chưa đủ thuyết phục bạn tin vào ngày phục-lâm của Giê-Su
th́ xin hăy tiếp tục với lời phán của Chúa: “Nhiều chỗ sẽ có đói kém.”
(Ma-thi-ơ 24:7). Giê-su đă dự ngôn một biến-cố lẽ ra không t