Home

 

Hy vọng của chúng ta!
Mục sư Lê Hựu



Mục lục
Hy vọng của chúng ta
Giê-su phục-lâm để làm ǵ?
Giê-su phục-lâm cách nào?
Khi nào Giê-su phục-lâm?
Dấu-hiệu sự phục-lâm của Giê-su.

 

 


HY VỌNG CỦA CHÚNG TA


Giê-su hồi lai” là hy-vọng trọng-tâm của người Cơ-Đốc Phục-Lâm. Giê-su trở lại nghĩa là có lần Giê-su đă đến và đă đi. Không ai chối bỏ việc Giê-su đă đến. Sự giáng-sanh của Ngài vào đời đă là một sự kiện lịch-sử mà hằng năm mọi người trên thế-giới đều kỷ-niệm để nhắc lại sinh-nhựt của vị cứu-tinh vĩ-đại của nhân loại.
Giê-su đă ra đời vào đúng thời-điểm mà các tiên-tri xưa đă dự ngôn. Phao-lô viết cho người Ga-la-ti để làm chứng về sự xuất-hiện đúng kỳ hẹn của Giê-su như sau:Nhưng khi kỳ hạn được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sinh ra... (Ga-la-ti 4:4).
Cái kỳ-hạn mà Đức Chúa Trời đă định từ khi sáng thế ấy đă đến đúng vào năm, tháng, ngày mà hoàng-đế César Auguste của đế-quốc La-mă ra chiếu-chỉ lập sổ dân trong cả thiên-hạ. Và cứ theo lời phê-b́nh của sử-gia Lu-ca th́ việc lập sổ dân nầy mới có lần đầu trong lịch-sử đế-quốc La-mă. Do có chiếu-chỉ của đại hoàng-đế César Auguste đó mà Ma-ri đă về cố-quận, tưởng chỉ là để khai tên vào sổ kiểm-tra thôi, chớ ngờ đâu để thực-hiện lời tiên-tri của Mi-chê, về tiểu thôn Bết-lê-hem của nàng như sau: “Hỡi Bết-lê-hem, đất Giu-đa! Thật ngươi chẳng kém ǵ các thành lớn của xứ Giu-đa đâu, v́ từ ngươi sẽ ra một tướng, là Đấng chăn dân Y-sơ-ra-ên, tức dân ta.(Ma-thi-ơ 2:6; Mi-chê 5:1, 2)
Ma-ri, thôn-nữ đồng trinh, sinh-trưởng tại miền Bắc xa-xôi, không chồng mà thai-nghén, theo lệnh của nhà vua La-mă, về cái thành mà năm, sáu thế-kỷ trước một tiên-tri đă tiên-báo sẽ là nơi ra đời của Đấng Cứu-Thế: thành Bết-lê-hem cố quận của Đa-vít. Ấy thế mà năm Giê-su ra đời đă biến thành giới-tuyến chia đôi hai kỷ-nguyên Tây-lịch, Ngài xuất hiện vào đúng địa điểm và thời-điểm đă ấn định hằng bao nhiêu thế kỷ trước. Cuộc đời và chức vụ của Giê-su là sự thực-hiện của những lời tiên-tri trong Cựu-ước. Năm 31 S. C. Giê-su bị xử treo trên thập-tự, làm ứng-nghiệm một loạt lời tiên-tri khác. Người ta chôn Chúa trong mồ, niêm-phong cẩn-thận, và có lính canh. Nhưng ba ngày sau, Ngài phục-sinh, nghĩa là sống lại. Có vô số người chứng-kiến, sau khi Ngài đă phục-sinh. Trước một số thính-giả khổng-lồ, Phi-e-rơ đă dơng-dạc làm chứng: “Người đó (tức là Giê-su) bị nộp theo ư-định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đă mượn tay độc-ác mà đóng đinh Người trên thập-tự-giá và giết đi. Nhưng Đức Chúa Trời đă khiến người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, v́ nó không thể giữ người lại dưới quyền nó.” (Công-vụ 2: 23, 24). Sau đó, Phi-e-rơ trích dẫn một lời tiên-tri của Đa-vít để chứng minh sự sống lại của Giê-su là điều tất phải diễn ra. Phao-lô cũng ghi lại mấy lời chứng sau đây: “Đấng Chirst chịu chết v́ tội chúng ta theo lời Kinh-thánh; Ngài đă bị chôn, đến ngày thứ ba. Ngài sống lại theo lời Kinh-thánh và Ngài đă hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ-đồ. Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ c̣n sống nhưng có mấy người đă ngủ rồi.” (I Cô-rinh-tô 15: 3-6). Điểm chúng ta cần lưu-ư trong đoạn văn trên của Phao-lô, là sứ-đồ nhấn mạnh rằng những biến cố trong cuộc đời của Chúa Giê-su đều đă có dự-ngôn trước trong Kinh-thánh. A-mốt đă nói chí-lư: “Thượng-đế chẳng làm một việc ǵ mà Ngài chưa tỏ sự kín-nhiệm Ngài ra trước tôi-tớ Ngài, là các Đấng tiên-tri.”(A-mốt 3: 7). Phao-lô cũng nhắc đến lần Đức Chúa Giê-su hiện cho năm trăm anh em xem thấy. Đây có lẽ là lần cuối cùng Đức Chúa Giê-su hiện ra với các môn-đồ Chúa trên núi Ô-li-ve, gần thành Giê-ru-sa-lem. Trong buổi tập-họp quan-trọng ấy (theo mấy gịng sử của bác-sĩ Lu-ca), vừa khi Đức Chúa Giê-su nói xong mấy chỉ-thị cuối cùng th́ một hiện tượng kỳ-lạ đă xảy ra làm kinh ngạc các người hiện-diện. Đây, ta hăy nghe Lu-ca thuật chuyện: “Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, th́ được cất lên trong lúc các người đó nh́n xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa. Các người đó đương ngó chăm trên trời trong lúc Ngài ngự lên, xảy có hai người nam mặc áo trắng hiện đến trước mặt, và nói rằng: Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm chi? Giê-su nầy đă được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đă thấy Ngài lên trời vậy.”(Công-vụ 1: 9-11).
Đó là hiện-tượng thăng-thiên của Giê-su, một sự-kiện hơn năm trăm người đă chứng-kiến trên đỉnh núi Ô-li-ve, bốn mươi ngày sau khi Ngài phục-sinh.
Thế là Giê-su đă đến và đă từ-giă thế-giới chúng ta. Ngài đă đi như lời Ngài đă tiên-báo với các môn-đồ trước khi xả thân, rằng: “C̣n ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy Ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy Ta, v́ Ta đi về cùng Cha. ” (Giăng 16: 16); hay là lời giă-từ đầy hứa-hẹn của Chúa: “Ḷng các ngươi chớ hề bối-rối; hăy tin Đức Chúa Trời cũng hăy tin Ta nữa. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, Ta đă nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm-sẵn cho các ngươi một chỗ, khi Ta đă đi và đă sắm-sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu th́ các ngươi cũng ở đó”. (Giăng 14: 1-3).
Đức Chúa Giê-su đă cam-kết những ǵ trong mấy lời giă-biệt ấy? Chúa chắc là Ngài sẽ trở lại, sau khi đă lên trên thiên-đàng một thời gian để chuẩn bị cho các thánh-đồ một quê-hương.
Hai mươi thế-kỷ trước, Giê-su đă đến đúng kỳ-hẹn để làm thỏa-măn ḷng mong-chờ của dân Y-sơ-ra-ên nói riêng và nhân-loại nói chung. Ngài đến phục-hồi chánh-đạo; Ngài đến để thực-hiện giai-đoạn thứ nhứt trong chương-tŕnh cứu-rỗi là phó dâng mạng sống Ngài làm của lễ hy-sinh, và của lễ chuộc-tội cho cả chúng-sinh. Ngài đến để chứng-minh t́nh yêu-thương vô-hạn, và quyền-phép vô-biên của Đức Chúa Trời. Ngài đến để khôi-phục đức-tin của loài người trong năng-lực cứu-rỗi của Thượng-đế. Sự chết của Ngài và sự sống lại của Ngài là những bằng-chứng cụ-thể và hùng-biện về ḷng nhơn-từ vô bờ-bến và sức-mạnh vô song của Ngài. Và sau khi đă vong-thân v́ tội-nhân đặng thỏa măn sự công-b́nh mà luật-pháp đ̣i-hỏi, Ngài đă về trời để bước vào giai-đoạn khác trong chương-tŕnh cứu-rỗi, là cầu-thay cho chúng ta bên cạnh ngôi Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Giê-su đă báo trước cái ǵ đă làm, và đă làm cái ǵ Ngài đă báo trước. Ngài đă đi như lời Ngài đă phán: “Ta đi... sắm-sẵn cho các ngươi một chỗ”. Và hiện ta vắng-bóng Chúa, y như lời Chúa bảo trước rằng “các ngươi sẽ chẳng thấy Ta”. Nhưng, ta tin-tưởng rằng nếu Ngài đă đi như lời Ngài phán, và đă vắng bóng như lời Ngài tiên-báo th́ chắc-chắn Ngài cũng sẽ tái-lâm như lời Ngài đă hứa chắc như đinh đóng rằng: “Ít lâu nữa các ngươi lại thấy Ta”, và “Khi Ta đă đi và đă sắm-sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta”. “Khi Ta đă đi ?” Ngài đă đi rồi. “Và đă sắm-sẵn... một chỗ?” Ngài đă sắm-sẵn từ nhiều thế kỷ qua. Nay mai giai-đoạn chuẩn-bị hoàn-tất. Rồi ǵ nữa? “Ta sẽ trở lại”, “ít lâu nữa các ngươi lại thấy Ta”.
“Giê-su phục-lâm” là hy-vọng trọng-đại nhất của chúng ta, là sự trông-đợi phước-hạnh của người tín-đồ CƠ-ĐỐC. Giê-su chắc-chắn sẽ trở lại. Và Ngài đă hứa th́ Ngài sẽ thực-hiện.
Ngày xưa trong thời-kỳ Cơ-Đốc giáo bị đế-quốc La-mă bách-hại dữ-dội, những người tín-đồ của Giê-su gặp nhau ngoài đường chào nhau: “Ma-ra-na-tha”, nghĩa là “Chúa sắp trở lại”. “Chúa sắp trở lại” là nguyện-vọng thiết-tha của người Cơ-Đốc, mà cũng là giải-pháp duy-nhất để giải-quyết vấn-đề đau khổ của thế-giới lầm-than của chúng ta.
Ngài hứa: “Nầy, Ta đến mau chóng!” Ngài sẽ đến đúng ngày Ngài đă ấn-định, duy có thể là không sớm như sự kỳ-vọng của chúng ta. Có lẽ sự việc xảy đến cho nhóm người chờ-đợi sự phục-lâm của Giê-su sẽ giống như kinh-nghiệm của những người nữ đồng-trinh chờ chàng rể trong ví-dụ mà Đức Chúa Giê-su kể. Ngài ví rằng: “Nước thiên-đàng sẽ giống như mười người nữ đồng-trinh kia cầm đèn đi rước chàng rể... V́ chàng rể đến trễ, nên các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ gục. Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Ḱa, chàng rể đến, hăy đi ra rước người.” Phải chăng dụng-ư của Đức Chúa Giê-su khi kể ví-dụ này là để nói với chúng ta rằng Ngài sẽ lại chậm hơn sự mong muốn của chúng ta.
Chúa đến chậm phải chăng là để lựa-lọc những kẻ bất-trung, những người thờ Chúa v́ những lợi vị-kỷ và thiển-cận. Họ là những người đầy-tớ xấu, không chịu đựng nổi những thử-thách của thời-gian. Chúa Giê-su có phán: “Nếu, trái lại, là một đầy-tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm, bèn đánh kẻ cùng làm việc với ḿnh, và ăn uống với phường say rượu, th́ chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết. Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả-h́nh. Đó là nơi sẽ có khóc-lóc và nghiến-răng”. (Ma-thi-ơ 24: 47-51).
“Nầy Ta đến mau chóng”, Ngài đă cam quyết với chúng ta. Song đă 20 thế-kỷ qua, thế-hệ của các sứ-đồ đă ngủ trong bụi đất với hy-vọng nồng-cháy trong tim, và cùng theo với họ vào giấc ngủ triền-miên là đă bao thế-hệ liên-tiếp, mà cái mộng nh́n thấy Vị Sư-trưởng hồi-lai trong vinh-quang chói sáng vẫn chưa trở thành sự thật. Phải chăng cần có thời-gian để thử-thách ḷng trung-kiên của những kẻ xưng ḿnh là tín-đồ Cơ-Đốc Phục-lâm?
Năm 1958, tổng-thống Lư-Thừa-Văng của Cộng-ḥa Triều-tiên hứa đến thăm Việt-Nam. Thủ-đô Việt Nam trang-hoàn tiếp-đón thượng-khách của ḿnh. Nhưng hai lần Tổng-thống Hàn-Quốc không đến. Và lần cuối-cùng ông đă đến, song chậm mất mười mấy tiếng đồng hồ. Một vài tờ báo đinh-ninh thế nào vị tổng-thống cũng không trễ nữa, nên căn-cứ theo chương-tŕnh cuộc tiếp-rước đă ấn-định mà thông-tin một buổi lễ nghinh-tiếp tưởng-tượng trên mặt báo phát-hành trước giờ Tổng-thống đến. Nhiều đoàn-thể đă túc-trực trên các nẻo đường để cung-nghinh vị quốc-khách, đến giờ chót mới được tin chính-thức là chuyến bay của Tổng-thống Cộng-ḥa Triều-Tiên phải hoăn đến sáng hôm sau. Mấy tờ báo vội-vàng đính-chánh và cáo-lỗi với độc-giả.
Đức Chúa Giê-su hứa sẽ đến, và chắc-chắn Ngài sẽ trở lại; nhưng có thể có những lư-do khiến Ngài không đến sớm như chúng ta mong-ước. Khác với lần giáng-lâm thứ nhứt, sự phục-lâm của Đức Chúa Giê-su không được loan báo ngày và giờ. Chúa có những lư do chánh đáng không tiết-lộ cho chúng ta biết đích-xác ngày và giờ Chúa trở lại. Và cứ như lời Giê-su thổ-lộ cho với môn-đồ Chúa th́ “về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một ḿnh Cha biết mà thôi.” (Ma-thi-ơ 24: 36). Mấy phút trước khi từ giă các môn-đồ về thiên-quốc, Ngài an ủi những kẻ băn-khoăn muốn biết ngày trở lại của Chúa như sau: “Kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đă tự quyết định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết.” (Công-vụ 1: 7).
Thấy thời-gian cứ trôi qua biền-biệt, mà lời hứa “Nầy, Ta đến mau chóng” măi không thực-hiện, những kẻ vô-tín gièm-chê, giễu-cợt người Cơ-Đốc: “Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? V́ từ khi tổ-phụ của chúng ta qua đời rồi, muôn-vật vẫn c̣n nguyên như lúc bắt đầu sáng-thế”. Biết trước những lời gièm chê có tác-dụng làm suy-giảm đức-tin của tín-đồ trong những ngày sau-rốt như vậy, nên sứ-đồ Phi-e-rơ đă nhắn-nhủ mấy lời tâm-huyết: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày. Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy ḷng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn-năn. Song le ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm”. (Phi-e-rơ 3: 8-10).
Chúng ta không biết đích-xác bao giờ Chúa đến, và không biết bao giờ lời Chúa phán “Ít lâu nữa các ngươi lại thấy Ta” sẽ được thực-hiện. Đến nay đă hai mươi thế kỷ qua, chữ “ít lâu” của Chúa vẫn c̣n là “ít lâu” và chữ “mau chóng” trong lời hứa “Nầy, Ta đến mau chóng” vẫn c̣n chưa tới. Chúng ta không biết ngày và giờ nhưng có điều chúng ta có thể đoán định được là Giê-su chưa phục lâm v́ điều-kiện chưa chín muồi. Ngài muốn đến mau chóng nhưng t́nh-thế chưa thuận-tiện. Những lời nói của Phi-e-rơ trong đoạn Kinh-Thánh vừa trích dẫn trên kia, cho ta thấy một lư do tại sao chàng rể đến trễ ấy là: Thượng-Đế “không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn-năn”. Bạn mến! Biết chừng đâu, Giê-su chẳng đă tŕ-hoăn sự tái-lâm của Ngài, v́ Ngài c̣n chờ bạn và tôi ăn-năn? Chúa đă nhịn-nhục chờ đợi chúng ta. Chữ “nhịn nhục” mà Phi-e-rơ dùng đă bộc-lộ cho ta thấy tâm trạng của Đức Chúa Trời. Ngài cũng nóng ḷng đến lắm; nhưng Ngài c̣n nhẫn-nhục chờ kẻ có tội ăn-năn.
Ngài nhịn-nhục và Ngài muốn chúng ta nhịn-nhục chờ Ngài. Từ thế-kỷ đầu-tiên Gia-cơ đă viết: “Hỡi anh em, vậy hăy nhịn-nhục cho đến kỳ Chúa đến. Hăy xem kẻ làm ruộng: họ bền ḷng chờ đợi sản-vật quí-báu dưới đất cho đến chừng nào đă được mưa đầu mùa và cuối mùa. Anh em cũng vậy, hăy nhịn-nhục và bền ḷng; v́ kỳ Chúa đến gần rồi.” (Gia-cơ 5: 7-8).
Những chữ “sắp”, “gần rồi”, “mau chóng” chỉ định những thời-gian bất định. Chúa không nói bao lâu, chỉ biểu-thị một thời-gian gần. Nhưng gần xa, mau chậm là vấn-đề tương-đối, chưa nói là một ư-niệm chi-phối bởi tâm-trạng. Ta bảo 19 thế-kỷ là một thời gian dài, nhưng với cái ư-niệm “một ngày như một ngàn năm, một ngàn năm như một ngày” của Đấng vô cùng, th́ khoảng thời-gian 19 thế-kỷ ấy mới như ngày hôm qua thôi. Hơn nữa, ta nóng ḷng vào thiên-đàng, ta bảo là Chúa chậm đến, nhưng v́ thấy nhiều linh-hồn c̣n chơi-vơi trong biển khổ phải được cứu vớt, biết chừng đâu Chúa chẳng thấy là phục-lâm hăy c̣n sớm quá.
Vậy để hối-thúc ngày Chúa đến, để cắt ngắn thời-gian chờ đợi ngột-ngạt hiện-thời, chúng ta là những người thành-tâm chờ Chúa đến, hăy quay về với Chúa hết ḷng, hăy ráo-riết chuẩn- bị sự phục-lâm của Chúa. Hăy gia-nhập vào phong-trào đang xúc-tiến mạnh-mẽ việc dự-bị nghinh-tiếp Giê-su hồi lai mang danh xưng là: “Cơ-Đốc Phục-Lâm”.
Việc đă đến và sẽ đến. Chỉ c̣n vấn-đề thời-gian. Chúng ta có thể góp phần vào việc giải-quyết vấn-đề thời-gian bằng cách, như đă nói ở trên, dọn ḿnh và dọn người. Hai mươi thế kỷ trước chúng ta, Phao-lô đă khuyên-bảo người La-mă: “Hăy ăn ở như vậy, v́ biết thời-kỳ đương lúc chúng ta đây: giờ anh em từ ngủ thức dậy đă đến, bởi sự cứu hiện nay đă gần chúng ta hơn lúc chúng ta mới tin. Đêm đă khuya, ngày gần đến; vậy, chúng ta hăy lột bỏ những việc tối-tăm mà mặc lấy áo giáp sáng-láng. Hăy bước đi cách hẳn-hoi như ban ngày. Chớ nộp ḿnh vào sự quá-độ và say-sưa, buông-tuồng và bậy-bạ, rầy-rà và ghen-ghét; nhưng hăy mặc lấy Đức Chúa Giê-su Christ, chớ chăm-nom về xác-thịt mà làm cho phỉ ḷng dục nó.” (Rô-ma 13: 11-14). Hai mươi thế-kỷ trước chúng ta. Phao-lô đă bảo là ngày tái-lâm vinh-quang của Giê-su đă gần hơn lúc những người đồng-thời của ông mới tin huống-hồ là chúng ta, những kẻ sống sau Phao-lô hai mươi thế-kỷ. Vậy th́, hỡi các bạn cùng thời-đại, “đêm đă khuya, và ngày gần đến” hơn bao giờ hết, chúng ta hăy tu-tỉnh dọn ḿnh, tin-tưởng Giê-su, Đấng đă đến và sẽ trở lại, ngơ hầu khi Chúa đến, chúng ta không bị cùng số phận với tên đầy-tớ xấu trong câu chuyện ví dụ, đă thầm nghĩ rằng: “Chủ ta đến chậm, rồi ăn uống với phường say rượu, và bị chủ nó đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết.”
Nhưng v́ không biết lúc nào Chúa đến, nên chúng ta phải tỉnh-thức thường-trực, và chuẩn-bị không ngừng, Phao-lô nói với chúng ta: “Hỡi anh em, về thời và kỳụ, th́ không cần viết cho anh em; v́ chính anh em biết rơ lắm rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy... Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối tăm, nên nỗi ngày đó đến th́nh-ĺnh cho anh em như kẻ trộm. Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về sự mờ-tối. Vậy, chúng ta chớ ngủ như kẻ khác, nhưng phải tỉnh thức và dè giữ. V́ kẻ ngủ th́ ngủ ban đêm, kẻ say th́ say ban đêm. Nhưng chúng ta thuộc về ban ngày, nên hăy dè-giữ, mặc áo giáp bằng đức-tin và ḷng yêu-thương, lấy sự trông-cậy về sự cứu-rỗi làm măo-trụ.” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:1-8).
Đức Chúa Giê-su sẽ ngự-lai th́nh-ĺnh và như một kẻ trộm không báo trước. “Vậy hăy tỉnh thức,” lời khuyên của Đức Chúa Giê-su, “v́ các ngươi không biết ngày nào Chúa ḿnh sẽ đến.” (Ma-thi-ơ 24:42). Đa số nhân-loại sẽ không chờ đón Chúa. “Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. V́ trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu. Và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy.” (Ma-thi-ơ 24:37-39).
Thế nhưng, Phao-lô quả-quyết với chúng ta rằng có một nhóm người “chẳng phải ở nơi tối-tăm, nên nỗi ngày đó đến th́nh-ĺnh” cho họ “như kẻ trộm.” Những người đó là ai? Đó là những người đă nghiên cứu lời tiên tri và luôn-luôn theo dơi thời-cuộc để am tường và thông-giải sự phục-lâm của Giê-su qua các sự kiện xảy ra trên toàn thế giới. Họ là ai khác, nếu không phải là những người Cơ-Đốc Phục-Lâm đang chuẩn-bị ngày tái-lâm vinh-quang của Cơ Đốc. Và tại sao bạn không thể là người Cơ-Đốc Phục-Lâm?

 

 


GIÊ-SU PHỤC-LÂM ĐỂ LÀM G̀?
Ở chương trước chúng tôi đă trưng dẫn nhiều bằng chứng, và trích-dẫn nhiều lời Kinh-thánh để quí vị nhận biết rằng, Đức Chúa Giê-su đă đến thế-gian một lần, đúng theo điều dự-ngôn của các tiên-tri tiền-bối. Ngài đă đến theo kỳ-định, nghĩa là vào năm 1 của kỷ-nguyên Cơ-đốc. Ngài đă chết vào kỳ-định, vào một ngày lễ Vượt-qua của dân Do-thái, tắt thở vào đúng cái giờ người ta dâng con sinh tế của lễ Vượt-qua, để chuộc tội toàn dân, tức con chiên mà từ đời Môi-se đă được dâng hằng năm, làm h́nh-bóng về của-lễ chuộc tội mà Giê-su phải dâng để làm lễ chuộc tội cho cả nhân-loại. Giê-su đă được chôn theo lời tiên-tri, đă sống lại vào ngày thứ ba, y như lời dự-ngôn. Và bốn mươi ngày sau, Giê-su đă thăng-thiên trước sự hiện-diện của một số đông môn-đệ của Ngài tập họp trên đỉnh núi Ô-li-ve cách thành Giê-ru-sa-lem độ một cây số. Ngày nay, cứ hằng năm, ta thấy thế-giới nói chung, và giới Cơ-đốc nói riêng, c̣n giữ ngày kỷ-niệm sự về trời của Giê-su, gọi là lễ “Thăng-Thiên.” Tất cả những biến-cố trọng-đại trong đời sống Giê-su đều đă được dự ngôn và đều đă xảy đến đúng như tiên báo.
Giê-su về trời để khai-mạc một giai-đoạn mới trong chức-vụ của Ngài cho nhân-loại: Giai-đoạn cầu thay cho tội-nhân, những ai tin nhận Ngài là Đấng Cứu Thế. Xong giai-đoạn cầu thay nầy, Giê-su sẽ trở lại trần-gian lần thứ hai, y như lời Ngài đă hứa, và đúng như sự dự-ngôn của nhiều tiên-tri trước Chúa và sau Chúa. Nhưng có lẽ bạn đang phân-vân muốn biết: Giê-su trở lại để làm ǵ?
Phao-lô trả lời cho chúng ta, trong bức thơ gởi cho người Hê-bơ-rơ, như sau: “…Đấng Cơ-đốc đă dâng ḿnh chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội đi nữa, nhưng để ban sự cứu-rỗi cho kẻ chờ-đợi Ngài.” (Hê-bơ-rơ 9:28). Học giả làm chứng việc ḿnh biết Giê-su đă đến lần đầu để xả thân làm của lễ chuộc tội cho mọi người. Và học-giả nói sự ḿnh tin-quyết: Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, lần nầy không phải để cất tội nữa, (v́ chỉ cất một lần là đủ) nhưng để ban sự cứu-rỗi.
Giê-su giáng-lâm lần thứ nhất, 20 thế-kỷ trước chúng ta, là để trả giá chuộc tội. Ngài về trời để lập danh-sách những người muốn được chuộc và đáng được chuộc. Hai mươi thế-kỷ qua là thời-gian để mỗi người trên dương-thế xác-định nguyện-vọng của ḿnh: bằng ḷng thừa-nhận sự cứu-rỗi của Đấng Cơ-đốc, hay là không thừa-nhận sự linh-nghiệm qua của-lễ hy-sinh của Ngài. Thời-kỳ mà ta đang sống đây, được mệnh-danh là thời-kỳ ân-điển, nghĩa là thời-kỳ mà ta có quyền lựa chọn để tự định-đoạt số phận đời-đời của chúng ta.
Trong lịch-sử nhân-loại có một giai-đoạn giống như giai-đoạn ta đang sống hiện nay, ấy là thời-gian 120 năm trước trận Đại Hồng-Thủy. Trong 120 năm đó, một sứ-giả của Thượng-đế là Nô-ê đă giảng đạo và đóng tàu để tránh trận nước lụt sẽ tràn ngập thế-giới. Đây là thời-gian ân-điển mà Thượng-đế, trước khi dùng đến biện-pháp tàn-diệt tội-nhân ngoan-cố, đă cho loài người có cơ-hội hối-cải, ăn năn trở về với chánh-đạo. Kinh-nghiệm lịch-sử cho ta thấy rằng người phạm tội lạm-dụng sự khoan-hồng, và sự nhịn-nhục của Thượng-đế để ch́m đắm trong tội-lỗi cho đến lúc cửa ân-điển của chiếc tàu Nô-ê đóng lại, và cả thảy đều bị ḍng nước lũ đùa đi đến chỗ diệt-vong.
Từ khi Giê-su thăng-thiên, đạo của Ngài phát triển khắp năm châu bốn biển, để rao-truyền sự cứu-rỗi cho muôn dân trên mặt đất. Thượng-đế đă ban cho nhân-loại một cơ-hội sử-dụng quyền tự-quyết của ḿnh: theo Chúa, hay từ chối Chúa. Thời-kỳ ân-điển, thời-kỳ quyết định, sẽ không kéo dài măi măi. Nước lụt đă chậm đến trong đời Nô-ê 120 năm, nhưng rồi cũng đến, đến để thực-hiện nguyện-vọng của mỗi linh-hồn đă xác-định trong thời-kỳ ân-điển. Những mỏ dầu hiện đang là cớ tranh-chấp cho các cường quốc; những mỏ than, Ḥn-gai Bắc-Việt, mỏ than Nông-Sơn Quảng-Nam, trong nhiều mỏ than khác trên khắp thế-giới; những con voi khổng lồ vùi sống trong những băng tuyết miền Si-bê-ri c̣n ngậm cỏ xanh trong mồm; những vỏ ṣ t́m thấy trên nhiều đỉnh núi cao; những địa-tầng hỗn-độn, đảo ngược trong nhiều vùng địa chất – tất cả những hiện tượng ấy là những bằng chứng cụ-thể về trận thiên-tai toàn-diện của địa-cầu mà Kinh-thánh đă ghi chép lại, gọi là trận Đại Hồng-Thủy trong đời Nô-ê.
Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hai thành-phố đă một thời rất phồn-thịnh trong vùng biển Chết hiện-tại, cũng đă trải qua một thời-kỳ ân-điển như chúng ta ngày nay. Vào một chiều tà, các sứ trời đă vào thành Sô-đôm, với sứ mạng cảnh-cáo dân chúng về tai ương sắp giáng xuống để hủy-diệt hai thành gian-ác nầy. Nhưng các đấng được sai xuống của Thượng-đế đă bị họ – bọn người sống theo thú-tính ở Sô-đôm – cưỡng-ép. Song chưa diễn được những tṛ đồi bại rất phổ-thông của họ, đám dân ấy đă bị những thiên sứ làm cho mù-ḷa. Ngày hôm sau lửa diêm-sinh từ trời giáng xuống thiêu-đốt Sô-đôm và Gô-mô-rơ gian ác. Trong số những người bị lửa trời đốt, có mấy người rể của người công-b́nh là Lót, tuy họ đă được khuyên-giục phải thoát-ly thành-phố đă bị kết án. Trong lúc chạy trốn, vợ Lót tiếc của cải đă bỏ lại trong thành, quay nh́n lại và liền trở nên một tượng muối. Ngày nay Sô-đôm và Gô-mô-rơ không c̣n nữa, chỉ c̣n trên địa-điểm xưa một vùng biển kỳ-dị mang tên là biển Chết, với những trụ muối khổng-lồ ở bờ Tây, với một làn nước rất mặn; và bềnh-bồng trên mặt nước là những mảng dầu hắc thỉnh-thoảng từ dưới đáy biển trồi lên. Phải chăng Thượng-đế muốn duy-tŕ những tàn-tích ấy để nhắc-nhở chúng ta một bài học lịch-sử rằng thời-kỳ ân-điển hữu-hạn tùy sự khoan-hồng của Chúa vô-hạn. Sở-dĩ ân-điển không vô-tận v́ lẽ công-b́nh cần phải được tôn-trọng. Và lẽ công-b́nh đ̣i hỏi phải trả cho mỗi người tùy theo công-việc họ làm. Cũng như phải có thời-kỳ gieo, và thời-kỳ gặt để thu-hoạch những ǵ ḿnh đă gieo. Bởi lẽ đó Kinh-thánh c̣n gọi sự phục-lâm của Giê-su là mùa gặt hái.
Giê-su phục-lâm để làm ǵ? Không phải để cất tội-lỗi như lần đầu Ngài giáng lâm, nhưng để ban sự cứu-rỗi cho một số người mà Phao-lô xác định là “những kẻ chờ đợi Ngài.”
Nhà sứ-đồ lăo-thành, trước khi lên đoạn đầu-đài để tên đao phủ La-Mă lấy thủ cấp, đă tuyên-bố một câu đầy xác-tín: “Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm lễ-quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đă đánh trận tốt lành, đă xong sự chạy, đă giữ được đức-tin. Hiện nay măo triều-thiên của sự công-b́nh đă để dành cho ta; Chúa là quan án công-b́nh, sẽ ban măo ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài.” (II Ti-mô-thê 4:6-8).
Cá-nhân đă chịu-đựng bao nhiêu sự gian-khổ, đem thân gánh chịu bao nhiêu cay-đắng ê-chề trong chức-vụ ấy, đă thỏa-măn mỉm cười trước lưỡi kiếm độc ác sẽ kết-liễu kiếp sống tạm bợ của ḿnh, v́ biết rằng nguyện-vọng của ḿnh sẽ sớm được thực hiện với sự trở lại của Đấng mà ḿnh hằng mong-chờ. Phao-lô thấy trước giờ tái-lâm vinh-quang của Giê-su lúc Ngài sẽ đem phần thưởng tượng-trưng bằng măo triều chói sáng đến cho mọi người.
Giê-su đă phán với Giăng trong một sự hiện thấy trên hoang-đảo Bát-mô: “Nầy, Ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với Ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.” (Khải-huyền 22:12).
Giê-su phục lâm để làm công việc tính sổ. Mỗi dịp cuối năm, các nhà buôn đóng cửa một thời gian để tính toán sổ sách, để thanh-toán các món nợ-nần: thiếu nợ ai th́ lo trả, ai thiếu nợ th́ lo đ̣i.
Đức Chúa Giê-su ví “nước thiên-đàng sẽ giống như một người kia, khi đi đường xa, gọi các đầy tớ giao của-cải ḿnh. Chủ đó cho người nầy năm ta-lâng, người kia hai, người khác một, tùy theo tài mỗi người; đoạn, chủ lên đường... Cách lâu ngày, chủ của những đầy-tớ ấy trở về khiến họ tính sổ.” Chủ nói với người làm lợi các ta-lâng của ḿnh rằng: “Hỡi đầy-tớ ngay-lành trung-tín kia, được lắm; ngươi đă trung-tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hăy đến hưởng sự vui-mừng của chúa ngươi.” C̣n người đầy-tớ biếng-nhác, chủ truyền rằng: “C̣n tên đầy tớ vô-ích đó, hăy quăng nó ra ngoài là chỗ tối-tăm, ở đó sẽ có khóc-lóc và nghiến răng.” (Ma-thi-ơ 25:14-30).
Giê-su kể ví-dụ để ám-chỉ sự Ngài về trời, chốn xa-xăm, và trở lại trần-gian để tính sổ với các đầy-tớ của Ngài. Ngài đă đi, và Ngài đă kư-thác cho mọi người chúng ta, cho bạn và tôi, mỗi người một số tài-sản để làm lợi. Những tài-sản ấy, kẻ ít người nhiều. Nhưng số lượng không quan-trọng, mà quan-trọng ở chỗ chúng ta có trung-thành làm lợi tài-sản đă phó-thác cho chúng ta hay không. Tài-sản của Chúa giao cho chúng ta có thể là thời-giờ, hay những cơ-hội thuận-tiện. Bạn nghe một buổi, hai buổi, chương tŕnh phát-thanh; bạn nghe một bài giảng ở một giảng-đường; bạn đọc một tập sách nhỏ về đạo; một bài báo giải thích chân-lư; hay một hai lần tín-đồ Cơ-đốc đến viếng nhà bạn để làm chứng đạo; hoặc bạn đă một hai lần tiếp-xúc với những người Cơ-đốc trong một cơ-quan y-tế. Nói tóm lại, tất cả những dịp tiện nào Thượng-đế đă sắp đặt để bạn có cớ nhận biết Chúa, và được giải-thích về sự cứu-rỗi của Đức Chúa Giê-su đều là những ta-lâng cho bạn sử-dụng. Nếu bạn tận-dụng những cơ-hội hiếm có ấy để t́m về với Chúa đặng phát-triển con người đạo-đức, nhờ đạo Chúa rèn luyện tâm-tính; lợi-dụng thời-giờ, tức những ngày Chúa cho bạn sống trong thể-xác, để chia xẻ sự hiểu biết về Chúa đến những người c̣n xa-lạ với đạo lành; nếu bạn dùng của-cải vật-chất mà Tạo-hóa ban cho bạn vào những công-cuộc lợi-ích cho xă-hội như cứu trợ, hoặc ủng hộ những phương-tiện phổ-biến đạo Chúa, tức là bạn đă làm lợi các ta-lâng mà Chúa giao cho bạn đó. Nếu bạn hành-động trái lại, chẳng hạn lạnh-lùng trước sự kêu-gọi của Chúa qua những cơ-quan truyền giáo, chống lại sự cáo-trách của lương-tâm, sống buông-lung trong tội-ác, phung-phí những ngày sống quí-báu vào những việc làm tội-lỗi hay thụ-hưởng một cách ích-kỷ những tài-sản vật-chất, ngang-nhiên hành động trên những đau khổ của người khác, tức là tự liệt ḿnh vào hàng đầy-tớ biếng-nhác và vô-ích, sẽ đón chịu số phận dành cho hạng người ấy khi Chúa trở lại tính sổ. Bạn sống thọ hay chết yểu, bạn giàu hay nghèo, bạn có nhiều hay ít điều kiện biết Chúa, bạn thân mến ạ, cái đó không cần. Bạn theo đạo lâu hay mới, cái đó cũng không cần. Bạn học-thức rộng hay hẹp, cao hay thấp; bạn sang hay hèn - tất cả đều không cần-thiết. Điều cần-thiết là bạn có tận dụng những ǵ Thượng-đế đă ban cho bạn để giúp cho sự cứu-chuộc linh-hồn bạn, và linh-hồn những người bạn gần-gũi hay không?
Người xưa nói: “Thiện-ác đáo đầu chung hữu báo.” Ngày Giê-su hồi-lai là ngày cáo-chung của muôn vật, ngày mà Đấng công b́nh sẽ báo-trả cho mỗi người tùy theo việc thiện hoặc ác đă làm ở dương-thế.
Hàn-Tín khi c̣n nghèo khổ, được Phiếu-Mẫu thương cho cơm-ăn, có hứa lúc toại-chí sẽ đền ơn một chén vàng bù cho một chén cơm lúc sa-cơ. Cũng trong thời-kỳ nung chí ấy, người anh-hùng chưa gặp thời, bị tên côn-đồ ngoài chợ bắt phải ḷn trôn, và đă cắn răng chịu nhục ḷn trôn kẻ lưu-manh. Đến khi công thành danh toại, vinh-vang trên đỉnh quyền-uy, đă giữ lời thề mà đong vàng đền ơn cho Phiếu-Mẫu. Người anh-hùng lúc toại-chí cũng không quên cái nhục của người sỉ nhục ḿnh lúc hàn-vi, gọi tên côn-đồ thưởng cho chức tri-huyện, rồi lấy cớ tham-nhũng để chém đầu.
Sẽ có ngày nhân-loại phải thanh-toán những ân với oán, và ngày đó là ngày Chúa Giê-su trở lại. Đây ta hăy nghe Đức Chúa Giê-su phác-họa quang-cảnh trần-gian lúc Ngài tái-lâm: “Khi Con người ngự trong sự vinh-hiển ḿnh mà đến với các thiên-sứ thánh, th́ Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh-hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả. Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha Ta ban phước, hăy đến mà nhận lấy nước thiên-đàng đă sắm-sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất … Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hăy lui ra khỏi Ta; đi vào lửa đời đời đă sắm-sẵn cho ma-quỉ và những quỉ-sứ nó ... Rồi những kẻ nầy sẽ vào h́nh-phạt đời đời, c̣n những người công-b́nh sẽ vào sự sống đời đời.” (Ma-thi-ơ 25:31-46).
Trước khi về trời, Đức Chúa Giê-su phán với các môn-đồ đang buồn rầu của Ngài rằng: “Ḷng các ngươi chớ hề bối-rối; hăy tin Đức Chúa Trời, cũng hăy tin Ta nữa. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, Ta đă nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đă đi và đă sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu th́ các ngươi cũng ở đó.” (Giăng 14:1-3). Nơi Đức Chúa Giê-su đi là thiên-đàng.
Giê-su đến lần đầu tiên, hai mươi thế-kỷ trước chúng ta, trong h́nh-thể một hài nhi nghèo-hèn, sinh hạ tại chuồng chiên, máng cỏ, lớn lên và trưởng thành trong gia-đ́nh thợ mộc nghèo. Ngài không được trọng-nể, lại thường bị bạc đăi, chà-đạp, giày-ṿ, phỉ-bán cho đến chết mà không oán-hờn. Nhưng sự giáng-lâm đầu tiên của Giê-su thấp-hèn bao nhiêu, th́ sự tái-lâm của Ngài sẽ vinh-hiển và quyền-uy của Ngài to-tát vĩ-đại bấy nhiêu.
Ngài phục-lâm để làm ǵ? Để phân chia ra làm hai hạng người: hạng thuận với Chúa, và hạng nghịch với Ngài: kẻ th́ được khen thưởng về những việc công-b́nh, và kẻ bị trừng-phạt về những việc làm tội lỗi; kẻ được nhận thiên-đàng đă sắm-sẵn cho từ khi dựng nên trời đất; kẻ th́ bị rủa, và bị quăng vào lửa đời đời đă sắm sẵn cho ma-quỉ và những quỉ-sứ nó.
Đời Chiến-quốc bên Tàu có Tấn Văn Công, tên tộc là Trùng-Nhĩ. Khi vua cha qua đời, hoàng-tộc tranh giành nối ngôi. Trùng-Nhĩ đang lúc ban đêm bỏ cung, lén ra ngoài thành, chạy sang nước khác. Từ đó lang-thang hết chỗ nầy đến chỗ khác, ông hoàng sống một đời thất-thế. Đám cận-thần theo hầu hạ lối hai mươi người, toàn là những bậc tài-danh trong nước. Nếu pḥ vua mới tất được hưởng quyền cao lộc cả, nhưng họ bỏ hết phú-quí, vợ con, gia đ́nh, quê hương, làm tôi theo hầu Trùng-Nhĩ, lang-bạt, bữa đói bữa no. Cả bọn chúa tôi chịu kiếp ăn mày. Nhưng tuy cực-khổ, nhục-nhă như vậy, nhưng đám cận thần vẫn trung thành với Trùng-Nhĩ. Thậm-chí có người tên Giới Tử Thôi đă cắt thịt đùi cho Trùng-Nhĩ ăn lúc lương-thực cạn kiệt. Bi-thiết đến thế mà vua tôi không bỏ nhau, hy-vọng ngày về phục-vị. Ngày nọ, vua Tấn băng, hai ba ông hoàng chực xâu-xé nhau v́ chiếc ngai vàng. Nhân-gian đă chán ghét cảnh nhiễu-nhương, nên quay đi t́m Trùng-Nhĩ. Thế là hai mươi kẻ ăn mày phút chốc lên trị-vị cả một quốc-gia, vinh quang chói ḷa.
Một ngày không xa, Giê-su sẽ phục-lâm trong vinh-hiển và quyền-uy tột bực để đem măo triều vinh-hiển muôn đời, và hạnh-phúc bất-tuyệt ân-thưởng những kẻ bền ḷng chờ đón ngày trở lại của Ngài.
Lúc ấy nhân-gian sẽ chia ra làm hai hạng người với hai phản-ứng nghịch nhau về sự phục-lâm của Giê-su. Một hạng th́ hân-hoan nghinh-đón Chúa. Ta hăy nghe Ê-sai miêu tả họ: “Trong ngày đó, người ta sẽ nói rằng: Ḱa, ấy là Đức Chúa Trời chúng ta; chúng ta đă mong đợi Ngài, và Ngài sẽ cứu chúng ta. Ấy là Đức Giê-hô-va; chúng ta đă mong đợi Ngài, chúng ta sẽ nức ḷng mừng-rỡ và đồng vui về sự cứu-rỗi của Ngài!” (Ê-sai 25:9). Thật vui mừng hơn cảnh nhân-dân Tấn trong ngày đại hân-hỉ, tiếp đón sự vinh-qui của Trùng-Nhĩ sau nhiều năm lang-bạt ở xứ người.
Và đây, Giăng miêu tả cảnh-trạng trời long đất lở trước sự tái-lâm hùng-tráng của Giê-su và cảnh-trạng kinh-hoàng của người chống Giê-su bằng tư-tưởng và hành-động: “Trời bị dời đi như quyển sách cuốn tṛn, và hết thảy các núi các đảo bị quăng ra khỏi chỗ ḿnh; các vua ở trên đất, các quan lớn, các tướng quân, các kẻ giàu, các kẻ quyền-thế, các kẻ tôi-mọi, các người tự-chủ đều ẩn ḿnh trong hang hố cùng ḥn đá lớn trên núi, chúng nói với núi và đá lớn rằng: Hăy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con! V́ ngày thạnh-nộ lớn của Ngài đă đến, c̣n ai đứng nổi?” (Khải-huyền 6:14-17)
Địa-vị không c̣n nghĩa lư ǵ khi Chúa ngự-lai. Kẻ giàu, người nghèo, kẻ sang, người hèn, kẻ quyền-thế, người cô-đơn, đều kinh-hoàng trước sự tái-lâm của Chúa, nếu họ là những kẻ từ chối huyết của Đức Chúa Giê-su.
Bạn ơi “hiện nay là th́ thuận-tiện, hiện nay là ngày cứu-rỗi,” bạn c̣n chần chờ mà chi? Đừng đợi đến ngày mai, v́ ngày mai có thể là cửa ân-điển hiện đang mở rộng chờ đón bạn sẽ đóng lại mất!


GIÊ-SU PHỤC-LÂM CÁCH NÀO?
Sứ-giả Lu-ca ghi những phút cuối cùng của Đức Chúa Giê-su trước khi từ-giă thế-gian mà về thiên-đàng như sau: “Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, th́ được cất lên trong lúc các người đó nh́n xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa. Các người đó đương ngó chăm trên trời trong lúc Ngài ngự lên, xảy có hai người nam mặc áo trắng hiện đến trước mặt, và nói rằng: Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm chi? Giê-su nầy đă được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đă thấy Ngài lên trời vậy.” (Công-vụ 1:9-11).
Đoạn sử trên hé cho ta xem một phần nào cách-thức Đức Chúa Giê-su phục-lâm. Theo ánh-sáng của câu Kinh-thánh vừa trích-dẫn, quí vị sẽ thấy quan điểm đích-thực của Giáo Hội Cơ-Đốc Phục-Lâm về cách Đức Chúa Giê-su trở lại.
Các vị thiên-sứ đă hiện đến khi Đức Chúa Giê-su vừa khuất-dạng trong không gian sâu-thẳm, và quả-quyết với người Ga-li-lê đang xúc-động mănh-liệt về sự từ biệt đột-ngột của Chúa họ rằng: “Đứng ngóng lên trời làm chi? Giê-su nầy đă được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại NHƯ CÁCH CÁC NGƯƠI ĐĂ THẤY NGÀI LÊN TRỜI VẬY.”
Nh́n ngóng làm chi nữa, đại-khái thiên-sứ dạy. Ngài đă đi, nhưng sẽ trở lại. Các ngươi thấy Ngài đi làm sao sẽ thấy Ngài trở lại như cách Ngài lên trời. Vậy, Ngài đă lên cách nào?
“... Ngài được cất lên trong lúc các người đó nh́n xem Ngài.” Ngài không thăng-thiên một cách lén lút? Hiện người ta chưa t́m thấy năm sinh và năm chết đích xác của Lăo-Tử. Người ta bảo là ngày kia có người thấy Lăo-Tử đi qua phương Tây th́ phải, rồi từ đó không trở lại nữa, hẳn người đă đi lên cơi tiên mà không chết. Người ta cũng tin Quỉ-Cốc đă lên trời cách bí-mật như thế. Nhưng Đức Chúa Giê-su đă thăng-thiên trước sự chứng-kiến của một quần chúng đông đảo, không biến đi một cách bí-mật, hay lẻn đi một cách chùng vụng. Tất cả những hành-động của Giê-su không để lại cho những người tra-cứu một nghi-vấn nào. Ít nhất là ngày ấy có 500 đôi mắt trên đỉnh núi Ô-li-ve mục-kích sự lên trời của Giê-su, người Na-xa-rét. Chính Phao-lô công-khai thách-đố những người đồng-thời của ông hăy thử đánh-đổ sự kiện hiển-nhiên ấy khi ông tuyên-bố: “Cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn 500 anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ c̣n sống.” (I Cô-rinh-tô 15:6). Sứ-đồ ngầm thách họ: các anh có hoài-nghi th́ cứ đi t́m những người đă mục-kích Giê-su đó mà hỏi. Vâng, Đức Chúa Giê-su đă giă-biệt chúng ta vào một ngày có ghi lại, tại một địa-điểm có ghi lại trước một số người chứng-kiến đông-đảo, mà sử-sách c̣n ghi chép rành rành. Vậy nếu Giê-su trở lại như cách Ngài lên trời, th́ nghĩa là Giê-su sẽ trở lại một cách đường đường chính chính, một cách công khai, chớ không bí mật.
Thế mà ngày nọ, một vị chức sắc của một giáo phái kia đă cố thuyết cho tôi nghe rằng Giê-su là một vị La-hán trong số các La-hán cứ lâu-lâu đảo kiếp lại một lần. Và Giê-su người Do-thái trước kia, hiện trở lại thế-gian trong h́nh-thể một người, đang sống với các La-hán khác ở dăy Hy-mă-lạp-sơn. Ṭ-ṃ tôi hỏi, dựa vào đâu để biết là Giê-su đă trở lại trong h́nh thể một người cùng với các La-hán khác ẩn cư ở vùng núi rừng thâm-u Ấn-độ? Vị chức-sắc ấy quả quyết với tôi là đă có những vị đạo-sĩ trong những phút thiền-định xuất hồn đến Hi-mă-lạp-sơn và đă gặp các vị ấy. Tôi không khỏi liên tưởng đến các lời phán của Đức Chúa Giê-su Christ: “Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Ḱa, Đấng Cơ-Đốc ở đây, hay là: Ở đó, th́ đừng tin … Vậy nếu người ta nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở trong đồng vắng, th́ đừng đi đến; nầy, Ngài ở trong nhà, th́ đừng tin.” (Ma-thi-ơ 24:23-26). Ở Mỹ đă một lần có kẻ mạo xưng là Giê-su tái-hiện. Dân chúng ùn-ùn đến xem và cũng có một số người nhẹ dạ tin. Họ bị bùa-ếm cho đến ngày anh chàng mạo-danh kia bị bắt quả tang phạm-tội vô-luân. Không, Giê-su không trở lại theo kiểu ấy, Ngài đă cẩn-thận đề pḥng chúng ta bị những tṛ lừa-bịp như vậy. Ngài cảnh-giác chúng ta: “Nầy, Ta đă bảo trước cho các ngươi ... Nhiều Cơ-đốc giả và tiên-tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được th́ họ cũng đến dỗ-dành chính những người được chọn.” (Ma-thi-ơ 24:24-25).
Lợi dụng tâm-trạng chờ mong tha thiết của tín-giáo, Sa-tan cho nhiều kẻ trá-h́nh làm tiên-tri, làm Cơ-đốc để dỗ-dành họ. Thậm chí những kẻ được tuyển chọn cũng mắc mưu chúng.
Trước đây, tôi có mua một chiếc máy ảnh Rolleiflex mới tinh-hảo. Thích chí quá tôi đem ra trước sân ngắm-nghía. Có kẻ lạ mặt đứng lại nh́n. Lúc đầu y đứng xa, sau y lân-la lại gần. Tôi hơi khó chịu về hành-động của người lạ ấy. Lát sau, tôi đem máy chụp h́nh vào nhà, th́ con người kỳ-dị kia bỏ đi. Hôm sau là ngày Sa-bát thứ bảy, tôi đi nhà thờ. Khi ở nhà thờ về, đứa cháu gái của tôi bảo là hồi sáng, khi tôi đi vắng, có người đem giấy lại, tự giới-thiệu là thợ sửa máy ảnh, và đă được tôi bảo đến nhà nhận lại chiếc máy Rolleiflex mới mua về để sửa một chỗ trục-trặc nào đó. Y vừa nói, vừa lấy sổ ra kư. Tôi nghe nói, lạnh toát cả người. Nhưng may là đứa cháu gái khôn ngoan, không tin người lạ, không chịu giao máy ảnh, nên tôi không bị mất.
Nói cho đúng đứa cháu gái của tôi không bị dối gạt, v́ nó đă theo lời dặn chúng tôi mà không bao giờ tiếp một người lạ mặt trong lúc chúng tôi đi vắng. Đức Chúa Giê-su biết trong lúc Ngài đi vắng sẽ có những kẻ giả-mạo đến lừa gạt những ai đang chờ đợi Ngài. Để pḥng ngừa tṛ phỉnh-dối ấy, Chúa đă thận-trọng dặn-ḍ chúng ta.
Ngài sẽ không đến một cách lén lút, Ngài không đến riêng cho một vùng nào, nhưng cho cả thế-giới. Ngài đă phán trước: “V́ như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, th́ sự Con người đến sẽ cũng thể ấy.” (Ma-thi-ơ 24:27). Sự ngự-lai của Giê-su là một biến-cố quốc-tế, và muôn dân trên địa-cầu sẽ phải chứng-kiến. Chớp-phát ra từ Đông phương nháng sang Tây phương thế nào, th́ Giê-su cũng sẽ ngự đến như vậy. Cả Tây phương và Đông phương đều sẽ mục-kích hiện-tượng vinh-hiển ấy. Nếu ta hiểu đúng Kinh-thánh, th́ khi Giê-su hiện đến lần thứ hai, Ngài sẽ không đặt chân lên đất, mà sẽ ngự trên không-trung như một định-tinh bất-động trong lúc địa-cầu quay trên trục nó từ Tây sang Đông để mọi dân-tộc đều chiêm ngưỡng sự vinh-hiển chói-ḷa của Ngài.
Nhà tiên-tri ở đảo Bát-mô ghi lại rằng: “Ḱa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đă đâm Ngài cũng trông thấy; hết thảy các chi họ trong thế-gian sẽ than-khóc v́ cớ Ngài. Quả thật vậy. A-men!” (Khải-huyền 1:7).
Giê-su đă lên trời, cũng sẽ trở lại như cách Ngài lên trời vậy. Khi Ngài lên trời có đám mây, và có thiên-sứ, th́ khi Ngài ngự đến cũng thế. Ngài đă báo trước rằng: “Khi Con người ngự trong sự vinh-hiển ḿnh mà đến với các thiên-sứ thánh, th́ Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh-hiển của Ngài.” (Ma-thi-ơ 25:31).
Khi Đức Chúa Giê-su giáng-sanh, thiên-sứ của Đức Chúa Trời đă hiện đến trên ngọn đồi ngoại vi Bết-lê-hem, báo tin cho các kẻ mục-đồng biết. Các thiên-sứ sẽ cùng ngự-lâm với Đấng Cơ-đốc, để làm sứ-mạng ǵ? Ta hăy nghe Đức Chúa Giê-su giải-thích vai-tṛ của họ trong ngày trọng-thể ấy: “Ngài sẽ sai thiên-sứ ḿnh dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đă được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia.” (Ma-thi-ơ 24:31).
Chúng ta có thể đoán rằng trong ngày ngự-lại của Đấng Cứu Thế, trần-gian sẽ tràn-ngập trong ánh-sáng huy-hoàng ngoài cả sức chịu-đựng của mắt người nói riêng, và sức người nói chung. Thiên-sứ có vinh-quang sáng-láng của họ. Bằng-chứng dễ hiểu là giữa đêm Giê-su giáng sinh, một thiên-sứ của Chúa hiện đến với các mục-đồng. Ở đây, chỉ có một thiên-sứ mà thôi, nhưng ta hăy nghe lời thuật lại của bác-sĩ Lu-ca: “Một thiên-sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh-hiển của Chúa chói-ḷa xung-quanh, họ rất sợ-hăi. Thiên-sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi ...” (Lu-ca 2:9-10).
Một thiên-sứ mà đă sáng-láng như thế, th́ hàng muôn hàng ngàn thiên-sứ tùy-tùng Đức Chúa Giê-su sẽ phát ra một vinh-quang đến mức độ nào? Đó là ta chưa nói đến sự vinh-hiển của chính Đức Chúa Giê-su. Ở đây, tưởng chúng ta nên nhớ lại rằng Đức Chúa Giê-su sẽ tái lâm trong sự chói sáng chớ không lu-mờ như trong thân-h́nh bé-bỏng của một hài-nhi đă ra đời tại Bết-lê-hem bé nhỏ ngh́n xưa. Trước khi giáng-thế làm người, một người thấp-hèn nhất trong đám người thấp-hèn, để cứu toàn thể ḍng dơi loài người, Ngài đă từng sống trong sự vinh-hiển của thiên-đàng. Trong lời cầu nguyện với Chúa Cha trước mặt các đồ-đệ, Ngài đă khấn: “Cha ôi! Bây giờ xin lấy sự vinh-hiển Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế-gian mà làm vinh-hiển Con nơi chính ḿnh Cha.” (Giăng 17:5). Vinh-hiển của Chúa chói sáng đến mức ngoài cả sự tưởng tượng của chúng ta. Ít lâu sau khi về trời, Đức Chúa Giê-su có hiện ra đặc-biệt cho một người, và về sau người ấy làm chứng như sau: “Muôn tâu, lúc giữa trưa, tôi thấy có ánh sáng từ trên trời, giáng xuống chói lói hơn mặt trời sáng ḷa chung quanh tôi và kẻ cùng đi. Chúng tôi thảy đều té xuống đất, và tôi nghe tiếng phán cùng tôi bằng tiếng Hê-bơ-rơ rằng: Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao người bắt-bớ Ta?... Tôi thưa: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa đáp rằng: Ta là Giê-su mà ngươi đương bắt-bớ.” (Công-vụ 26:13-15).
Giữa tiếng kèn vang dậy và trước ánh-sáng chói-ḷa của các thiên-sứ, ai có thể không hay biết là Giê-su hồi-lai? Vậy nên Chúa ví sự tái-lâm của Ngài “như chớp phát ra từ phương Đông, nháng đến phương Tây” thật chính xác vậy. Thế th́, bạn ơi! Nếu có ai bảo với bạn rằng Giê-su đă tái-lâm, hiện ở đây hay ở đó, trong h́nh-thể, một nhân-vật nầy hay một nhân-vật khác, xin đừng nhẹ dạ tin theo.
Sự tái-lâm của Đức Chúa Giê-su là một hiện-tượng toàn-cầu, nghĩa là nơi nơi đều hay biết. “Ngài sẽ sai thiên-sứ ḿnh dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đă được lựa-chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia.” (Ma-thi-ơ 24:31). Để chúng ta có một ư-niệm rơ-rệt về sự phổ-biến của hiện-tượng, và cũng để cho ta thấy rơ thêm vai tṛ của thiên-sứ, Đức Chúa Giê-su ví chúng ta, những người được chọn, với xác chết, và các thiên-sứ như chim ó. “Nơi nào có xác chết, th́ những chim ó sẽ nhóm tại đó.” (Ma-thi-ơ 24:28) Nói khác đi, chỗ nào có người chờ Chúa, th́ tất-nhiên các thiên-sứ đến để tiếp đón họ. Những người chờ Chúa tản-mác khắp bốn phương trời. Và họ không cần đi đâu để gặp Chúa cả, chẳng hạn trèo đồi lội suối để lên tận đỉnh Hy-mă-lạp-sơn, song các sứ trời sẽ đến tận nơi đón họ đi.
Sự vinh-hiển chói-lói của Chúa lúc Ngài hiện đến với các thiên-sứ sẽ có mănh-lực tiêu-diệt những kẻ ác. Họ không chịu nổi sự vinh-quang của Chúa. Thế nên Phao-lô đă viết: “Đức Chúa Giê-su sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy-diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói-sáng của sự Ngài đến.” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8).
Bạn phân-vân tự hỏi: “Liệu những người chờ Chúa có chịu-đựng nổi sự vinh-quang của Chúa không?” Bạn thân mến, nếu đạo Chúa đă thấm-nhuần trong chúng ta th́ vào giây phút Chúa hiện đến, chúng ta sẽ trở nên vinh-hiển như các thiên-sứ sáng-láng, và chúng ta sẽ không lóa mắt trước vinh-quang của Ngài. Sở-dĩ chúng tôi tin như vậy v́ đă có lời xác-chứng của Phao-lô như sau: “Khi nào Đấng Cơ-đốc, là sự sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh-hiển.” (Cô-lô-se 3:4). Sự vinh-hiển nguyên-thủy của chúng ta mà trước đây tội-lỗi của tổ-tiên ta đă làm cho lu-mờ, th́ nay đă dần được phục hồi một cách âm-thầm trong bản-chất của người tín-giáo Cơ-đốc, khi Đức Chúa Giê-su trở lại chúng ta sẽ trở nên thánh thiện một cách hoàn-hảo.
Trước khi Đức Chúa Giê-su đến thành Giê-ru-sa-lem để chịu thương khó, nghĩa là khi giờ quyết-liệt sắp đến, Ngài đem ba môn-đồ thân-cận của Ngài là Gia-cơ, Phi-e-rơ, và Giăng lên núi cao. Tại đây, Ngài đă cho họ chứng kiến trước hiện-tượng vinh-hiển như lúc Ngài tái-lâm. Thuật-lại hiện-tượng ấy, sử-gia Ma-thi-ơ chép như sau: “Ngài biến-hóa trước mặt các người ấy, mắt Ngài sáng ḷa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng. Nầy, có Môi-se và Ê-li hiện đến, nói chuyện cùng Ngài.” (Ma-thi-ơ 17:2-3). Sử-gia đă phải dùng ánh-sáng chói ḷa nhất mà ta biết được là ánh-sáng của mặt trời để giúp ta h́nh dung phần nào sự vinh-quang của Chúa. Cùng trong sự vinh-hiển ấy, ta thấy có Môi-se, vị lănh-tụ của Y-sơ-ra-ên, người đă chết trên đỉnh Phích-ga thuộc núi Nê-bô gần đồng bằng Mô-áp. Về xác của người, sử thánh chép: “Đức Chúa Trời bèn chôn người trong trũng tại xứ Mô-áp, đối ngang Bết-phê-o; cho đến ngày nay không có ai biết được mộ của người.” (Phục-truyền 34:6). Người ta không biết mộ của người và thi-hài của người đâu cả, nhưng một tác-giả Kinh-thánh đă quả quyết với chúng ta: “Chính ḿnh thiên-sứ-trưởng Mi-chen chống với ma-quỉ giành xác Môi-se...” (Giu-đe 9). Lời tuyên-bố ấy được xác-chứng trên núi kia, trước những con mắt chứng-kiến của các sứ-đồ. Môi-se: đại-biểu cho nhóm người tin Chúa đă chết rồi. Khi Chúa trở lại trong sự vinh-quang tột-bực, họ sẽ sống lại trong sự vinh-hiển với Chúa như Môi-se. C̣n nhân-vật đứng bên cạnh Giê-su trong phút hóa h́nh là Ê-li. Ê-li là một tiên-tri Do-thái trong đời vua A-háp. Người đă hoàn thành sứ-mạng của ḿnh một cách vẻ-vang trong những t́nh-thế cam-go nhất của dân-tộc, và người đă được cất lên trời, trên một chiếc xe bằng lửa trước sự chứng-kiến của Ê-li-sê, người nối nghiệp tiên-tri Ê-li. Ê-li đă hiện đến núi hóa-h́nh trước sự ngạc-nhiên êm-đềm của các môn-đồ Đức Chúa Giê-su, để bảo-đảm với họ rằng trong giờ phút hồi-lai vinh-quang của Chúa, những kẻ trung-kiên với Chúa mà đang sống sẽ được vinh-hiển với Đấng mà họ mong chờ.
Chúng ta thấy Phao-lô hoàn-toàn đồng ư với quan-điểm ấy, khi ông viết: “Nầy là sự mầu-nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến-hóa … Vả, thể hay hư-nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết.” (Cô-rinh-tô 15:51-53).
Tất cả tôi tớ, con cái của Chúa, dù sống dù chết rồi đều sẽ biến hóa. Với thân-thể biến-hóa ấy, chúng ta sẽ có bản thể bất-diệt và bất-tử. V́ vậy nên sự vinh-hiển sáng-ḷa của Chúa giết kẻ ác mà không hại những người đang chờ đón Ngài.
Có người căn-cứ trên điều-kiện sinh-hoạt b́nh-thường của con người trần-thế, và dựa vào những khám-phá của khoa-học về vật-lư và không-gian mà quả-quyết rằng, việc các người địa-cầu du-hành trên không-gian không thể thực-hiện được. Thân-thể mỏng-manh của con người sẽ không chịu nổi sức nóng, sức lạnh, chất phóng xạ, và bao nhiêu điều-kiện gây chết người như thiếu dưỡng khí, v.v... Nhưng họ không biết rằng có những bản-thể sống được. Một bằng chứng trong Kinh-thánh là câu chuyện về ba người Hê-bơ-rơ bị quăng vào ḷ lửa hực, mà sức nóng gấp bảy lần lửa b́nh thường, nhưng họ vẫn sống. Nguyên văn đoạn sử như sau: “Nhơn v́ mạng vua truyền kíp lắm, mà ḷ lửa th́ đốt nóng lạ thường, nên những người quăng Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bị ngọn lửa cháy chết. C̣n ba người, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-Nê-gô, vẫn bị trói mà rơi vào giữa ḷ lửa hực … Đoạn, vua Nê-bu-cát-nết-sa đến gần cừa ḷ lửa hực, cất tiếng nói rằng: Hỡi Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, là tôi-tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, hăy ra và lại đây! Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bèn từ giữa đám lửa mà ra. Các quan trấn-thủ, lănh-binh, các người cai-trị và các nghị-viên của vua đều nhóm lại, thấy lửa không có quyền làm hại thân-thể ba người ấy được, cũng chẳng có một sợi tóc nào trên đầu họ bị sém; áo xống họ chẳng bị si-sứt chút nào, và mùi lửa cũng chẳng qua trên họ.” (Đa-ni-ên 3:22-27).
Sự-kiện trên đây chứng-minh một cách hùng-hồn rằng trong thân-thể biến-hóa của chúng ta, những mănh-lực thiên-nhiên không thể làm hại chúng ta được. Và cuộc du-hành không-gian mà các nhà khoa-học chưa thấy khả-năng thực-hiện trước bao trở-lực của vũ-trụ không c̣n là vấn-đề đối với những người được Chúa cứu trong ngày tái-lâm vinh-quang của Chúa. Ví thử các nhà khoa-học của chúng ta có giải-quyết được vấn-đề bảo vệ thân người khỏi những trở lực của không gian, th́ con người vẫn phải giải quyết vấn đề thời-gian, để du-hành sang các tinh cầu xa xôi đ̣i hỏi đến hằng ngàn hằng triệu năm ánh sáng, mới đến được các tinh cầu gần thái-dương hệ của chúng ta. Kiếp sống phù-du của con người không đưa họ đến một trạm nào trong không-gian diệu-vợi cả. Nhưng, với thân-thể biến-hóa của người tin Chúa sau nầy – chưa nói đến tốc-lực vận-chuyển kinh hồn mà khối óc con người hiện chưa ư-niệm được – họ sẽ sống măi măi với thời-gian để thực-hiện bất-cứ một cuộc hành-tŕnh dài nào, nếu muốn.
Nói tóm lại, Giê-su đă lên trời, th́ Giê-su sẽ trở lại. Giê-su đă lên trời làm sao, th́ Ngài cũng sẽ ngự xuống như vậy. Ngài đi tỏ-tường th́ cũng sẽ trở lại tỏ-tường, không thầm-kín, không lén-lút, không có tính-cách địa-phương như nhiều người bị lừa phỉnh. Ngài sẽ ngự-lai giữa tiếng kèn của muôn vàn thiên-sứ. Trước vinh-quang chói sáng ấy, hết thảy những kẻ đối-lập Giê-su sẽ bị thiêu hủy. Nhưng những kẻ bền ḷng và trung-kiên chờ Chúa, gồm cả kẻ sống, người chết trong Giê-su, đều sẽ biến-hóa và vinh hiển muôn đời. Chúng tôi mong quí vị sẽ tham-dự vào cuộc du-hành liên-tinh-tú sẽ thực hiện nay mai ấy, trong ngày Chúa của cả nhân loại hồi lai.


KHI NÀO GIÊ-SU PHỤC-LÂM?
Trong thời Đức Chúa Giê-su, dân Do-thái rất tự-hào về thành Giê-ru-sa-lem đồ-sộ và nguy-nga của họ. Nhưng một hôm, khi các môn-đồ chỉ cho Chúa xem các ngôi nhà thuộc về đền-thờ, th́ Ngài phán rằng: “Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không c̣n một ḥn đá nào chồng trên một ḥn khác mà không bị đổ xuống.” (Ma-thi-ơ 24:2).
Các môn-đồ nghĩ thầm rằng Đức Chúa Giê-su phán như vậy là tiên-tri về số-phận ngôi đền-thờ kiên-cố của họ trong ngày tàn-phá chung của thế-giới, v́ họ yên-trí như mọi người Do-thái khác rằng, ngoài những biến-động phi-thường làm kinh-thiên động-địa để lật đổ tất cả những công-tŕnh kiến-trúc vĩ-đại của nhân-loại, th́ đền-thờ cất bằng những tảng đá khổng lồ của họ sẽ không bao giờ chuyển dời được. Họ tin-tưởng ở khả năng tiên-tri của Đức Chúa Giê-su, nên họ chẳng bỏ qua cơ-hội hỏi Chúa cho biết lúc nào sẽ tận thế. Thế rồi, họ lẳng-lặng theo Chúa lên tận núi Ô-li-ve. “Ngài đương ngồi trên núi Ô-li-ve, môn-đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? Và có điềm ǵ chỉ về sự Chúa đến và tận-thế?” (Ma-thi-ơ 24:3). Tuy các môn-đồ đă lầm về tính-cách nguy nga của đền-thờ, nhưng họ đă nhận-định đúng rằng: Ngày Giê-su đến lần thứ hai là ngày tận cùng của thế-giới.
Đức Chúa Giê-su tách rời hai biến-cố, và trả lời câu hỏi của họ về sự tàn-phá của đền-thờ như vầy: “Khi các ngươi sẽ thấy quân-lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hăy biết sự tàn-phá thành ấy gần đến. Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hăy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành.” (Lu-ca 21:20, 21).
Lịch-sử thế-giới cho chúng ta biết rằng năm 70 S.C. nghĩa là khoảng năm 40 sau khi có lời dự-ngôn của Đức Chúa Giê-su, chư-hầu Pha-lê-tin nổi lên chống lại với chánh-quyền bảo-hộ La-mă, nên tướng Titus kéo quân đội vây thủ-đô Giê-ru-sa-lem. T́nh-h́nh quân dân trong thành, sau một thời-gian bị vây hăm đă nao núng lắm. Cảnh hỗn-độn đă diễn ra trong thành, và người ta cũng đă nói đến chuyện đầu hàng vô điều-kiện. Nhưng bỗng dưng – và măi đến nay người ta cũng chưa t́m ra lư do – đội hùng-binh La-mă dưới quyền chỉ-huy của mănh-tướng Titus hấp-tấp rút lui, nới rộng sự phong tỏa, như chạy trốn trước một sức phản công mănh liệt. Thu hết tàn-lực, quân-đội Do-thái truy kích quân-đội La-mă. Biến-chuyển kỳ-quái ấy đập mạnh vào tâm trí của những người tín-đồ Cơ-đốc, và họ nhớ lại lời của Đức Chúa Giê-su phán tỏ-tường rằng: “Khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hăy biết sự tàn-phá thành ấy gần đến. Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hăy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành.” (Lu-ca 21:20, 21). Không do-dự ǵ nữa, họ biết là giờ tàn-phá của thành đă gần kề, họ bèn ngoan-ngoăn nghe theo lời Chúa dạy mà bồng-bế nhau di tản ra khỏi thành, trước sự ngạc-nhiên của những người vô-tín, và sự gièm chê của những sự lạc-quan trước biến-chuyển đột-ngột của t́nh-thế. Quả-nhiên, cuộc di tản của nhóm người Cơ-đốc-đồ vừa hoàn-tất th́ quân-đội La-mă đánh quật lại, đẩy lui quân-đội Do-thái trở về thành, ṿng vây lại siết chặt và kiên cố hơn trước. Kết quả là pḥng-tuyến Do-thái bị chọc thủng, quân lính La-mă tràn vào thành như nước vỡ bờ. Sự phiến-loạn của dân-quân Do-thái và đầu óc ương-ngạnh của họ làm sôi gan quân lính La-mă. Chúng hăm-he tàn-sát dân trong thành và thiêu-hủy đền-thờ là nơi dân chúng kéo vào và cố thủ. Tướng chỉ-huy quân đội La-mă muốn bảo vệ thành Giê-ru-sa-lem như một di-tích lịch-sử thế-giới, nên ra lịnh cho binh sĩ không được xâm phạm đền thánh, và toan dùng phương-pháp ḥa b́nh khuyến-dụ dân chúng đầu hàng. Thế mà có kẻ đă trái thượng lệnh, ném lửa vào đền thờ gây nên hỏa-hoạn, thiêu-rụi công-tŕnh kiến-trúc vĩ-đại của dân Do-thái, và một cổ-tích lịch-sử rất có giá-trị của thế-giới. Nhưng nếu chỉ thế thôi th́ lời dự-ngôn của Giê-su cũng chưa ứng-nghiệm hoàn-toàn, v́ nền đá hăy c̣n trơ trơ như thách thức sức tàn-phá của lửa và của quân-đội. Mà Giê-su th́ đă quả-quyết với môn-đồ Ngài rằng: “Đây sẽ không c̣n một ḥn đá nào chồng trên một ḥn khác mà không bị đổ xuống.” (Ma-thi-ơ 24:3) Nhưng rồi, người ta thấy quân lính La-mă hung-hăng, cuồng-nhiệt nạy tung tất cả nền của đền-thờ, đến nỗi không c̣n một ḥn đá nào nằm nguyên chỗ cũ. Hết thảy đều bị lật lên bừa-băi, hỗn-độn ngổn-ngang. Họ làm như vậy v́ mục-đích ǵ? Để đập tan di-tích tượng trưng cho ḷng kiêu-hănh của dân-tộc Do-thái bất-khuất? Không, họ chỉ lật đá lên để t́m những vàng trong đền thờ bị lửa đốt chảy xuống các khe đá. Những tên lính La-mă ham vàng ấy không ngờ rằng hành động của họ đă vô h́nh chung thực-hiện lời tiên-tri của Đức Chúa Giê-su: “Sẽ không c̣n một ḥn đá nào chồng trên một ḥn khác mà không bị đổ xuống.”
Để thỏa-măn óc hiếu-kỳ của các môn-đồ, và của cả chúng ta nữa, về thời-kỳ tận-thế, hay là thời-kỳ Giê-su phục-lâm, Chúa đă cho họ một số điềm báo trước. Các điềm Chúa kể thuộc nhiều lănh vực khác nhau như: Tôn-giáo, chính-trị, xă-hội, khoa-học v.v... Bạn nên nhớ kỹ: Đức Chúa Giê-su chỉ cho biết những điềm tiên-báo sự phục-lâm của Ngài, chứ không ấn-định trước với chúng ta ngày và giờ Ngài trở lại. Có những kẻ sống trước chúng ta cũng đă từng băn-khoăn và nôn nóng, họ đă bạo dạn đến trực tiếp hỏi Đức Chúa Giê-su về ngày và giờ Ngài hồi-lai. Với nhóm người tập-họp tiễn-biệt Chúa thăng-thiên, Ngài đáp: “Kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đă tự quyền định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết.” (Công-vụ 1:7). Và trước đó, khi Ngài chưa thọ h́nh trên thập-tự, Ngài đă phán bảo các môn-đồ của Ngài rằng: “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên-sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một ḿnh Cha biết mà thôi.” (Ma-thi-ơ 24:36). Đây là một trong những thiên-cơ mà Thượng-đế thấy không tiện tiết-lộ cho loài người.
Tuy không cho ta biết đích-xác ngày Chúa Tái-lâm, cũng như không báo trước ngày giờ thành Giê-ru-sa-lem bị tàn-phá, nhưng Đức Chúa Giê-su có cho chúng ta các dấu-hiệu về ngày tận-thế, cũng như Ngài đă lấy việc phong tỏa thành Giê-ru-sa-lem làm ám-hiệu cho dân-sự của Ngài chạy khỏi thủ-đô sắp bị tàn phá kia. Và, nếu không một môn-đồ nào của Chúa đă cùng số-phận với những kẻ bị giết trong thành Giê-ru-sa-lem trong năm 70 S.C., theo sử gia khách-quan Josephus, th́ chúng ta có thể xác-tín rằng khi theo dơi các điềm của Chúa báo trước, chúng ta rất có thể phỏng đoán được thời kỳ nào Chúa sắp tái-lâm.
Lănh vực tôn-giáo và đạo-đức cung cấp cho ta những điểm nào? Đức Chúa Giê-su dự-ngôn: “Nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Cơ-đốc; và sẽ dỗ-dành nhiều người.” (Ma-thi-ơ 24:5). Sau những năm chiến-tranh, con người chán-ngán với tất cả những tranh-chấp, với máu và lửa, và nhận-thức cảnh bấp-bênh của đời người, nên quay về với tôn-giáo để t́m những giá-trị tinh-thần thực-sự và trường-cửu. Kẻ thù của linh-hồn nhân-loại đă lợi-dụng t́nh-thế để tung biết bao thứ đạo mới, lung-lạc niềm tin của con người. Như một đoàn người sắp chết khát thấy bóng-dáng của nước là giành-giựt nhau mà uống, những linh-hồn khao-khát điều thiêng-liêng để xoa dịu những vết thương tinh-thần, những ǵ tươi mát để làm tỉnh táo phần tâm-linh đă khô-héo kia, đă hăm-hở đón lấy tất cả những nhăn hiệu tôn-giáo đến với họ trước nhất. Ngay trên dải đất Việt-nam mến-yêu của chúng ta, một luồng sinh-khí đă thổi lên các giáo-phái mới và cũ. Các chùa-chiền, đền miếu tranh nhau mọc lên như nấm. Hơn bao giờ hết, thời gian qua, lănh vực tôn-giáo đă bày ra một quang cảnh rộn-rịp, tấp-nập. Người muốn đi t́m chân-lư bị lạc-lơng trong một rừng bảng hiệu tôn giáo mà cái nào cũng rêu-rao là chính-đạo cả. “Nhiều Cơ-đốc giả và tiên-tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được th́ họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn.” (Ma-thi-ơ 24:24).
Ngay trong giới Cơ-đốc, những người xưng ḿnh là đồ đệ của Chúa Cơ-Đốc nhưng cố t́nh làm lu mờ h́nh ảnh của Ngài bằng cách thần thánh hóa những nhân vật lănh đạo tôn giáo, phong tặng cho các nhân vật ấy những thẩm quyền và tước vị mà chỉ một ḿnh Chúa Giê-su Cơ-đốc là Con Đức Chúa Trời mới xứng đáng được mà thôi. Giê-su đă bị đẩy lùi xuống vị trí thứ yếu để giành địa-vị chánh yếu cho các nhân-vật mà họ tôn sùng. Gần đây trong các lễ của Đạo Chúa nói chung, những lễ linh-đ́nh nhất, xa-hoa nhất, bạn có để ư chăng? – không phải là lễ để tôn vinh Giê-su!
T́nh-trạng chung của thế-giới Cơ-đốc th́ sao? “Lại v́ cớ tội-ác sẽ thêm nhiều, th́ ḷng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần.” (Ma-thi-ơ 24:12).
Tôi thành-khẩn xin hỏi nhỏ các tín-hữu Cơ-đốc Phục-Lâm: Các bạn có nhận thấy chăng t́nh-trạng hâm-hẩm của hội-thánh Lao-đi-xê ngay trong thế-hệ Cơ-đốc chúng ta? Sự uy-hiếp của lực-lượng tội-ác đang gia tăng trong một xă-hội tôn sùng vật chất làm nguội dần ḷng sùng-đạo nồng-nhiệt ban đầu của chúng ta. Nào đâu những ngày ta say-sưa với lư-tưởng Cơ-đốc? Nào đâu bầu nhiệt-huyết ta đă dốc đổ vào việc chứng-đạo? Và nào đâu ḷng mến yêu Chúa nồng-nàn trong huyết-quản chúng ta? Bạn có nhận thấy chăng thực trạng của giới Cơ-đốc là một trong những dấu hiệu của thời-kỳ sau rốt?
Phao-lô góp lời để minh-họa bức tranh đạo-đức của xă-hội ngày nay như sau: “Trong ngày sau-rốt, sẽ có những thời-kỳ khó-khăn. V́ người ta đều tư-kỷ, tham tiền, khoe-khoang, xấc-xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, bội-bạc, không tin-kính, vô t́nh, khó ḥa-thuận, hay phao-vu, không tiết-độ, dữ-tợn, thù người lành, lường thầy phản bạn, ... ưa thích sự vui chơi hơn là yêu-mến Đức Chúa Trời.” (II Ti-mô-thê 3:1-4). Đây không phải là diễn-đàn để tố-cáo những tội ác của xă-hội chúng ta; nhưng hẳn bạn đồng ư rằng báo-chí hằng ngày đang phản-ảnh thực trạng đạo-đức xă-hội hiện thời, và h́nh-ảnh của xă-hội chúng ta gần như hoàn toàn giống với cái xă hội băng hoại mà Phao-lô đă miêu tả trong Kinh-thánh.
Trong lănh vực chính-trị có điềm ǵ chăng? Đức Chúa Giê-su báo trước: “Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: Hăy giữ ḿnh, đừng bối-rối, v́ những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu. Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia.” (Ma-thi-ơ 24:6-7).
Chiến-tranh chấm-dứt, nhân-loại như qua một cơn ác-mộng kinh-hoàng. Tưởng thế là loài người đă học bài học nên sống ḥa-b́nh với nhau, nhưng ngờ đâu khói lửa vẫn tiếp-tục cháy sau ngày Đồng-minh hoàn-toàn đánh găy trục Đức, Ư, Nhật. Những nước trước kia là bạn chiến-đấu, bây giờ trở thành thù-địch nhau. Chiến tranh tiếp tục dưới h́nh-thức nóng, lạnh không ngừng, lúc ở Đông, lúc ở Tây, khi th́ Nam, khi th́ Bắc. Các cường-quốc thi đua chế-tạo vũ khí nguyên-tử, và cả vũ-khí vi-trùng. Rồi c̣n bao nhiêu thứ khí-giới khủng khiếp khác được giữ kín mà sức tàn-phá có thể tiêu-diệt toàn-thể dân-cư trên thế-giới trong khoảnh khắc.
Thế-giới đang ngồi trên họng một Hỏa-diệm-sơn có thể phun lửa bất-cứ giờ phút nào. Để pḥng-ngừa những cuộc tấn-công bất-ngờ, quân-đội các cường-quốc như ở trong t́nh-trạng báo-động thường-xuyên. Trên trời Tây, lúc nào người ta cũng thấy những chiếc máy bay tuần-hành với những quả bom nguyên-tử. Những giàn hỏa-tiễn đă thiết-lập trên những điểm chiến-lược, sẵn-sàng hoạt-động khi có dấu-hiệu tấn công của đối-phương.
T́nh-h́nh thế-giới bao giờ cũng căng-thẳng. Tiếng súng chưa phút nào thật sự im ắng trên địa-cầu, tuy người ta bảo đây là thời ḥa-b́nh trên nguyên-tắc. Thật chưa bao giờ như bây giờ, chiến-tranh phổ-biến trên toàn thế-giới. Từ những cuộc xâm lăng cho đến những cuộc nội chiến, họ đánh nhau v́ dầu hỏa, v́ phân biệt sắc tộc, v́ hiềm khích tôn giáo. Trong lúc đó nước nào cũng hô-hào ḥa-b́nh, dân-tộc nào cũng tự-hào ḿnh là dân-tộc yêu-chuộng ḥa-b́nh nhất. Mikoyan thừa-nhận dân-tộc Mỹ thích ḥa-b́nh; Khrushchev quả-quyết dân Nga không thích ǵ hơn là sống ḥa-b́nh với các dân khác. Thế mà, các nhà lănh-tụ thế-giới vẫn thủ thế với nhau, tuyên-truyền bằng đủ h́nh-thức để châm ngọn lửa căm-hờn vào tư tưởng của nhân-dân, thúc đẩy chiến tranh. Có thể các nhà lănh-tụ ấy và nhân dân các nước thực-tâm yêu-chuộng ḥa-b́nh, nhưng lại sử dụng chiến tranh làm phương tiện để ổn định t́nh h́nh. Họ đă hành-động trái với nguyện-vọng của họ, theo sự thúc-đẩy của một thế-lực chinh-chiến vô-h́nh.
Đứng trước hiện t́nh thế-giới, mọi người không thể không tin rằng lời dự-ngôn của Chúa Giê-su đang được ứng-nghiệm: “Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc ... Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia...” (Ma-thi-ơ 24:6, 7).
Kinh-thánh không phủ-nhận thiện-chí ḥa-b́nh của các dân tộc trong thời-kỳ sau-rốt. Kinh-thánh dự-ngôn sẽ có những phong-trào ḥa-b́nh thế-giới. Ngoài ra, tổ-chức Liên-hiệp-quốc với Hội-đồng Bảo-an là những tượng-trưng cụ-thể cho ư-chí ḥa-b́nh của các nước, ta thấy có biết bao phong-trào vận-động ḥa-b́nh. Có bao nhiêu cuộc hội-nghị đă mở ra giữa các cường-quốc, giữa các mặt trận, có biết bao cuộc đàm-phán ở nhiều cấp của các chính phủ, cả thảy đều nhằm mục-đích đem lại ḥa-b́nh giữa các dân-tộc, và làm dịu t́nh-h́nh căng-thẳng của thế-giới. Những cuộc vận-động ấy, những hội-nghị ấy cũng đem lại một vài kết-quả đáng ca-tụng và đáng ghi nhận. Song, thành-khẩn mà nói, ta phải khẳng định rằng chiến-tranh vẫn c̣n hăm-dọa nhân-loại.
Ta có thể kết luận nền ḥa-b́nh hiện-thời là vô cùng mỏng-manh, chỉ là một bề mặt tạm bợ mà thôi.
Trước đây, Mỹ tố-cáo Nga chủ-trương chiến tranh lạnh, mà Khrushchev trong bài diễn-văn đọc vào kỳ đại-hội 21 Đảng Cộng-sản Nga th́ quả-quyết là phải chấm-dứt chiến-tranh lạnh v́ không có lợi. Tuyên-bố th́ tuyên-bố, chiến-tranh vẫn tiếp-tục, tạm thời, dưới h́nh-thức kinh-tế, tâm lư v.v... để một ngày nào đây biến thành chiến-tranh nguyên-tử.
Chiến-tranh và những tin-tức về chiến-tranh ta đọc trên mặt báo-chí hằng ngày, là một dấu-hiệu của thời-đại chúng ta, hay nói chính xác hơn, là một điều chắc-chắn về sự phục-lâm rất gần của Đức Chúa Giê-su.
Đừng để những lời tuyên-truyền ru-ngủ chúng ta. Ḥa-b́nh trong hiện t́nh thế-giới chỉ là giả-tạo, chính nó phải là tiếng chuông báo-thức chúng ta, v́ Đức Chúa Giê-su sắp trở lại rồi.
Phao-lô nói: “Hỡi anh em, về thời và kỳ, th́ không cần viết cho anh em; v́ chính anh em biết rơ lắm rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy. Khi người ta sẽ nói rằng: B́nh-ḥa và yên-ổn, th́ tai-họa th́nh-ĺnh vụt đến, như sự đau-đớn xảy đến cho người đàn-bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu. Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối-tăm, nên nỗi ngày đó đến th́nh-ĺnh cho anh em như kẻ-trộm.” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:1-4).
Ngày hủy-diệt của thành Giê-ru-sa-lem năm 70 S.C. quả là một biến cố bất ngờ cho đa số dân-chúng trong thành. Họ tưởng ḥa-b́nh được thiết lập trong ngày quân đội La-mă bỗng dưng rút lui khỏi thủ-đô của họ trước sự truy kích của quân-đội Do-thái. Họ đă ngộ-nhận tính cách dối gạt của nền ḥa-b́nh ấy, và kết-quả như thế nào? – Sự hủy-diệt đă th́nh-ĺnh đến trên họ, trong lúc những môn-đồ của Chúa đă di tản ra khỏi thành. Sự tàn-diệt đă không đến trên người Cơ-đốc-đồ một cách th́nh-ĺnh. Bạn đă biết v́ sao rồi: V́ họ biết lời tiên-tri, biết phân-tích thời-cuộc để giải-thích những dấu hiệu đang diễn ra và hành-động đúng theo lời Chúa dạy. Để biết ngày Chúa gần kề, để dự-bị tránh cơn đại-nạn sắp tới, mong bạn hăy hành động như những môn-đồ của Đức Chúa Giê-su trong ngày sụp đổ của cố đô Giê-ru-sa-lem năm 70 S.C.


DẤU-HIỆU SỰ PHỤC-LÂM CỦA GIÊ-SU.
Giê-su đă giáng sinh theo lời hứa và lời dự-ngôn của tiên-tri, cũng như việc Ngài về trời ít lâu sau khi Ngài sống lại, đây là những sự-kiện lịch-sử hiển-nhiên. Căn-cứ trên những sự-kiện không thể chối-căi ấy, chúng ta không thể không tin rằng chắc-chắn Giê-su sẽ trở lại trần-gian như lời đă hứa. Những ǵ xảy ra gần đây trong thế-giới tôn-giáo, cũng như những hiện tượng thiên-văn kỳ-bí, như sự tối-tăm trong ngày 19-05-1780, hay hiện tượng sao sa kỳ-ảo trong đêm 12 và 13 tháng 11 năm 1833, là những dấu hiệu của thời-đại, báo trước ngày phục-lâm không c̣n xa nữa của Đấng Cơ-đốc.
Khi Đấng Tạo-hóa dựng nên các thiên-thể, Ngài phán rằng: “Phải có các v́ sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định th́-tiết, ngày và năm.” (Sáng-thế-kư 1:14). Mặt trời giúp ta phân-biệt ban ngày, mặt trăng ngự trị ban đêm. Trăng hết tṛn lại khuyết, hết khuyết lại đầy, để giúp ta một phương-tiện phân-định thời-gian, nhất là đối với những nhà làm lịch căn-cứ trên tuần trăng. Những vị trí tương-quan giữa mặt trời và trái đất quyết định các mùa và thời tiết trong năm. Những người thông-thạo về thiên-văn có thể nh́n vị-trí của các cḥm sao trên bầu trời mà dự báo thời tiết dưới đất. Thật đúng như lời phán của Đấng Tạo-hóa, mỗi tinh cầu có nhiệm-vụ khác nhau, nhưng riêng với dân-cư trên địa-cầu, th́ chúng dùng làm dấu định th́-tiết. Đức Chúa Trời đă dùng các hiện tượng đặc biệt của những tinh cầu trên trời để mang một sứ-mạng đặc-biệt, như là một dấu hiệu cho ngày Giê-su sắp tái-lâm.
Nếu các hiện-tượng ấy chưa đủ thuyết phục bạn tin vào ngày phục-lâm của Giê-Su th́ xin hăy tiếp tục với lời phán của Chúa: “Nhiều chỗ sẽ có đói kém.” (Ma-thi-ơ 24:7). Giê-su đă dự ngôn một biến-cố lẽ ra không thể tồn tại trong thời-đại văn minh của chúng ta. Ngày xưa con người chưa chinh-phục được thiên-nhiên, chưa biết phương-pháp tận-dụng khả-năng của ruộng đất, chưa biết cách đưa nước vào ruộng, c̣n dùng những dụng-cụ thô-sơ, làm cực-nhọc mà năng xuất thấp, không đủ thỏa-đáp nhu-cầu của xă-hội nông-nghiệp. V́ vậy, cuộc sống b́nh-thường, trông mưa thuận gió ḥa đă là chật-vật, huống chi những năm gặp thiên-tai như hạn-hán, th́ tránh sao khỏi đói kém. Đă thế, phương-tiện giao-thông không có hoặc quá khó-khăn giữa các xă-hội, không cho phép một nước giàu hỗ trợ một nước khác bị tai-ương. Nhưng cục-diện thế-giới ngày nay đă khác xưa, kỹ-thuật canh-tác đă tiến-bộ với những nông-cụ tối-tân. Chúng ta đă có những phương-tiện giao-thông và vận-chuyển mau lẹ để trong vài giờ hay vài ngày là một số lương-thực từ chân trời này có thể đem cứu trợ nơi một chân trời kia. Với những phương-pháp khoa học, người ta đă sản xuất các loại phân bón để đem hoa màu cho những vùng đất-đai xưa kia bỏ hoang; người ta đă lấn biển để tạo những phần đất trồng-trọt; người ta đă biến đồng vắng thành cánh đồng lúa ph́-nhiêu, hay vườn trái cây tươi tốt. Với những điều-kiện như thế, làm sao có người đói? Thế mà Đức Chúa Giê-su lại tiên-tri rằng thế-giới văn-minh sẽ bị nạn đói kém! Chúa đă dự-ngôn một điều vượt ngoài khả năng định liệu của con người, và thực-tế thế nào, bạn biết chăng?
Sau trận thế chiến thứ nhất, Trung Quốc đă trải qua một nạn đói kinh-khiếp, làm chết 3 triệu người trong số 15 triệu người không có lương thực. Nhưng nạn đói ấy, theo nhà thám-hiểm nổi tiếng Nansen, th́ cũng chưa sánh được với nạn đói “kinh-khủng chưa từng có trong lịch sử nhân loại”, là nạn đói ở Nga, cũng trong thời-kỳ hậu-chiến ấy.
Tại tỉnh Triết-Giang bên Trung-hoa, năm 1936 có nạn đói, v́ thóc lúa mấy năm trường chỉ dùng nuôi binh sĩ. Cứ theo các bản báo-cáo th́ “15 triệu nông dân – con số ấy bằng dân số của các thành-phố Nữu-ước, Connecticut, và Vermont hiệp lại – ḅ lết vào những túp lều tranh vách đất của họ mà chết đói. Một số khác, v́ cùng khốn quá, bán vợ lấy ba cắc bạc gạo, bán con gái lấy một đô-la.” The Literary Digest, 9-5-36, p. 16.
Sau thời-kỳ thế-chiến thứ hai, nạn đói trở thành một mối đe-dọa cho nhiều quốc gia. Theo những thống kê đáng tin-cậy, viễn-cảnh chết đói đă ám-ảnh 140 triệu dân Âu-châu, và 500 triệu người trên thế-giới. Năm 1943 ông Hallett Abend tính phỏng rằng trong số 604. Triệu dân sống ở Đức và các nước bị Đức chiếm đóng, có đến 10% “đă ở trong số phận phải chết đói hoặc chết v́ những bệnh do t́nh-trạng thiếu ăn gây ra.” – “Chắc là con số thống kê về người chết đói đă lên đến hàng triệu.” (The Saturday Evening Post, Oct, 23, 1943, p. 22) Trong bài xă-luận ra ngày 31-10-1943, tờ Nữu-ước Thời-báo loan tin rằng dân chúng tỉnh Bengale - Ấn-độ đang chết đói, chết v́ bệnh thổ-tả, và bệnh kiết-lỵ, trung-b́nh cứ mỗi tuần là 100 ngàn người.
Thế-giới ngày nay chưa giải-quyết nổi vấn đề lương-thực. Tờ Thời-báo ra ngày 31-05-1948 cảnh-cáo thế-giới: “Không phải bom nguyên-tử, nhưng chính là nạn thiếu lương-thực sẽ tiêu-diệt chúng ta ... Trong cuộc chạy đua giữa dân số và sự tiếp-tế lương thực, ... dân số sẽ thắng … Những mùa màng mười năm trước ta cho là bội thu, th́ bây giờ không c̣n đủ cung cấp nữa rồi.” (Courtesy of Time, copyright Time, Inc, 1948). Trên đây là những lời tuyên bố của ngài John Boyd Orr, lúc c̣n làm tổng giám đốc tổ-chức lương-thực của Liên-hiệp-quốc. Một lư do thật dễ hiểu, là đất sản xuất không đủ cung ứng lương thực cho dân số thế giới.
Đất mỗi ngày một nghèo-nàn trong khi dân-số mỗi ngày một gia tăng, dù rằng người ta đă chết rất nhiều v́ chiến-tranh, đói-kém, tật-nguyền, bệnh-hoạn, tai-nạn, quyên-sinh, ám-sát, và tuổi-già. Cứ mỗi năm dân-số thế-giới tăng lên khoảng 20 triệu người. Trước những thực tế ấy, chúng ta thấy lời tiên-tri của Chúa Giê-su có đầy đủ yếu tố cần-thiết để ứng-nghiệm – “nhiều chỗ sẽ có đói kém.”
Đói kém là dấu hiệu trước hết và chắc chắn nhất để báo động ngày trở lại vinh-quang của Đấng Cứu-thế. Vậy, trước những nạn đói ở Trung Hoa, ở Ấn-Độ, hay ở một địa-điểm nào khác trên địa-cầu, bạn hăy liên-tưởng ngay đến lời dự-ngôn của Đức Chúa Giê-su và nên nhớ rằng đó là một hồi chuông đánh thức bạn trước một biến cố trọng đại: Giê-su sắp trở lại rồi.
Bên cạnh dấu-hiệu đói kém, bạn hăy nghe Chúa liệt kê tiếp một dấu hiệu khác: “Sẽ … có đói kém và dịch lệ trong nhiều nơi...” (Lu-ca 21:11).
Dịch-lệ được kể như một điềm báo sự phục-lâm của Giê-su. Bạn có nhớ chăng, năm 1918, năm kết-thúc thế-chiến thứ I, khoảng 18 triệu người đă thiệt mạng do dịch cúm? Ngày nay, ngoài các bệnh dịch cũ, thế giới phải đối diện với đại dịch HIV – AIDS, viêm gan siêu vi, viêm năo Nhật-bản v.v… Dịch lệ c̣n ảnh hưởng trên hoa màu, cây cối, nhiều loại côn trùng nguy hiểm lây bệnh nhanh chóng trên mùa màng. Chiến tranh tạo nên cảnh sống thiếu điều kiện vệ sinh cũng là một trong nhiều nguyên nhân gây ra dịch lệ.
Người ta đă nghĩ đến một cuộc hiến tranh mà vũ khí không c̣n là súng đạn. Các loại vũ khí sinh học hoặc bom vi trùng đă được nghiên cứu và chế tạo. “Hiện nay trung tâm chiến tranh hóa học của Hoa Kỳ đă có thể sản xuất độc tố giống vi khuẩn botulinus, là một độc tố nguy hiểm nhất thế giới. Các nhà khoa-học đă t́m ra chất nầy từ lâu, nhưng đây là lần đầu tiên nó được tinh-luyện đủ tinh-vi để biến thành một vũ-khí tàn-khốc phục vụ chiến-tranh. Độc-tố botulinus độc hơn khí moutard một ngàn lần, độc cho đến nỗi chỉ cần 35 gram có thể giết tất-cả cư dân Mỹ và Ca-na-đa một cách nhanh-chóng và lặng-lẽ, không sót một người...
Đem một giọt nhỏ của độc-tố ấy và dùng máy bay rảy ra trong không khí, hoặc bỏ vào ống nước tiếp-tế cho cả thành-phố, là người ta có thể tiêu-diệt tất cả cư dân…
Trong cuộc chiến-tranh sinh học … có thể người ta sẽ tấn-công quân đội hoặc dân thường bằng những siêu vi-khuẩn gây bệnh, chẳng hạn bệnh cúm, bệnh bại liệt ở trẻ con, bệnh đậu mùa, bệnh ngủ; hoặc bằng những vi-khuẩn bệnh thổ-tả, bệnh kiết-lỵ, bệnh phung… hay loại nấm xâm-nhập được cơ-thể v.v…” – (Jackschuyler in America, Feb. 21, 1948).
Đức Chúa Giê-su gọi chung cái viễn-ảnh rùng rợn của chiến-tranh vi-trùng ấy, là “dịch lệ.” Tuy y-học đă tiến-bộ rất nhiều, và dược-học đă chế ra nhiều thuốc trụ-sinh, thuốc kháng-độc thần-hiệu đến nỗi dường như đă tiêu-diệt được những chứng bệnh mà cha ông ta ở thế kỷ trước c̣n coi là nan-y, vậy mà thế-hệ chúng ta vẫn phải hăi-hùng trước viễn-ảnh khủng-khiếp của vũ khí vi-trùng có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Những vũ-khí tối-tân khác như hỏa-tiễn, bom nguyên-tử, bom khinh-khí c̣n có cách pḥng-thủ, nhưng với vũ khí vi-trùng th́ không thể pḥng-ngừa, v́ một chiếc máy bay hiền-lành như một con chim bồ-câu lặng lẽ gieo vào không-gian một giọt độc tố, chẳng hạn độc tố botulinus, là đủ tiêu-diệt một dân-số vài trăm triệu người trong nháy mắt và âm-thầm như một giấc ngủ.
Ngoài ra, trong nhiều năm gần đây, ta thường nghe thấy và cả kinh-nghiệm bản thân nữa, là những luồng dịch, như dịch cúm chẳng hạn. Các giới y-học tin rằng đây là những chứng dịch do loại vi-khuẩn khác và hiền hơn loại vi-trùng cúm hồi năm 1918 đă giết chết hằng ngàn người. Hẳn chúng ta biết những dịch cúm đă lan rộng khắp thế-giới. Nhiều năm gần đây, tại các nước chậm phát triển và đang phát triển, các bệnh dịch-hạch và bệnh bại liệt ở trẻ con vẫn c̣n cướp đi sanh mạng của nhiều người. Bạn thân-mến, điều ấy phải chăng là một trong những điềm báo trước sự hồi lai của Đấng Cứu Thế chúng ta?
Nếu bạn c̣n cho đó là những hiện-tượng ngẫu-nhiên chưa đủ sức thuyết phục để xác-minh lời tiên-tri của Đức Chúa Giê-su, th́ xin mời bạn kiểm-chứng thêm một hiện tượng khác. Đức Chúa Giê-su báo trước: “Sẽ có sự động đất lớn, có đói kém và dịch lệ trong nhiều nơi.” (Lu-ca 21:11). Ở đây một hiện-tượng địa-chất được Chúa nêu ra làm điềm-báo sự hồi-lai của Ngài.
Cuối năm 1946, một cơn địa-chấn đă tàn phá một phần nước Nhật. Theo bản phúc-tŕnh của nhà địa-chấn học nổi tiếng, bác-sĩ Hagiwaga, th́ sức-mạnh của cơn địa-chấn bằng 100.000 quả bom nguyên tử.
Năm 1945, những phi-cơ B.29 bay trên không phận thành-phố Fukui, Nhật-bản, thả bom và đốt cháy mấy ngàn ngôi nhà cũ-kỷ tồi-tàn. Ba năm sau 60% thành-phố được trùng tu với những kiến-trúc đồ-sộ để bền-bỉ với thời gian. Nào ngờ năm 1948 lại bị tàn-phá bởi cơn địa-chấn.
Ông Cart Mydans, một phóng-viên tờ Thời-báo, tường-thuật như sau: “Chẳng có một dấu-hiệu ǵ cho hay trước cả, cái nền nhà dưới chân chúng tôi bỗng nhô lên, và những mảnh tường với những mảng trần nhà to tướng ngă đổ xuống xung-quanh chúng tôi … chúng tôi chạy ra nằm trên thảm cỏ ngoài sân, nhưng đất rung-chuyển mạnh quá đến nỗi một vài người trong số chúng tôi bị nhồi thẳng lên và tung đi tung lại như bột bắp trong nồi rang … Một đám bụi vàng bốc lên trên thành phố, rồi tự nhiên một luồng gió mạnh, như cuồng-dại, thổi lên, mới đầu th́ thổi một chiều, rồi lại xoay sang chiều khác. Sau một khoảnh-khắc im-lặng, đến tiếng kêu cứu của người nổi lên – tiếng hét, tiếng gào, hoảng loạn cả thành-phố. Một ngụm khói xám cuộn lên bên sau ngôi nhà đổ, rồi tỏa lớn dần. Cơn hỏa-hoạn bắt đầu … Dân chúng thành Fukui bảo rằng cơn địa-chấn đêm nay kinh-khủng hơn những chiếc phi-cơ B.29.” (Time, July 12, 1948, Courtesy of Time, copyright Time, Inc. 1948).
Sau chiến-tranh thế giới thứ nhất, nghĩa là trong năm 1920, Trung-hoa bị động đất làm thiệt mạng 200.000 người. Ba năm sau, tức năm 1923, Nhật-Bản trải qua một cơn địa-chất khủng khiếp. Trong thiên-tai tàn-khốc ấy, có 150.000 người thiệt-mạng. Chỉ trong khoảng mười năm đó, thế-giới đă hứng chịu một cuộc chiến-tranh thế giới bi đát nhất, hai cơn đói kém tàn-khốc nhất, và hai trận động đất mạnh-mẽ nhất.
Theo bản phúc-tŕnh sau đây của hội Phụng-sự Tiến-bộ Khoa-học nước Anh (British Association for the Advancement of Science), chúng ta ghi nhận được một sự gia tăng rơ-rệt của những cơn địa chấn:
Thế kỷ thứ 1 15 cơn địa chấn.
Thế kỷ thứ 16 253 cơn địa chấn.
Thế kỷ thứ 18 640 cơn địa chấn.
Thế kỷ thứ 19 2.119 cơn địa chấn.
Đức Chúa Giê-su đă dự-ngôn rằng: “Nhiều chỗ sẽ có đói kém và động-đất.” (Ma-thi-ơ 24:7). “Nhiều chỗ” ở đây có nghĩa là số lần địa chấn gia tăng trong những ngày sau rốt. Đất rung chuyển, sụp lở, nhà cửa và các công tŕnh kiến trúc trở thành những đống đổ nát, chứng kiến những cảnh tượng ấy, tâm hồn bạn có lay chuyển chăng để nhận thức một thực-trạng: Trái đất già cỗi của chúng ta đă lung lay, và đă đến lúc Giê-su phải ngự-lai để trùng-tu muôn-vật, đặng thành-lập một kỷ-nguyên thái-b́nh và hoan-lạc?
Nếu bạn thật ḷng muốn tin, th́ ngần ấy bằng-chứng cũng đủ để bạn nh́n-nhận rằng không c̣n bao lâu nữa, Giê-su sẽ trở lại để chấm dứt tấn bi kịch thê-lương đă diễn ra trên địa-cầu của chúng ta.
Giê-su đă thực-hiện những lời hứa của Ngài. Ngài đă đến theo kỳ định, trong h́nh-hài một bé thơ yếu-đuối, Ngài lớn lên và trưởng thành trong một gia-đ́nh bần-hàn nhưng thanh-bạch, sống để gieo phước lành, và chết để cứu nhân độ-thế. Tất cả đều theo lời hứa và lời tiên-tri đă có từ nhiều thế kỷ trước. Ngài chết, người ta chôn Ngài trong mồ, nhưng rồi Ngài sống lại. Từng sự việc đều theo lời dự ngôn và báo trước hằng nhiều năm. Rồi Ngài thăng thiên với lời hứa chắc chắn sẽ trở lại. “Giê-su sẽ trở lại” là nguyện-vọng tha-thiết nhất của nhân-loại. Giê-su đă vào đời, Giê-su đă đi theo lời hứa, th́ chắc chắn Giê-su thân yêu của chúng ta cũng sẽ trở lại một ngày nào đó? Chính xác là ngày nào? Chẳng có ai biết chính xác ngày nào cả!
Đă có lúc chúng ta nhận ra: “Ḱa, gà đă gáy canh ba, và sao mai đă mọc, trời sắp sáng rồi!” Vâng! Gà gáy và sao mai mọc là những điều cho biết b́nh minh sắp ló dạng. Một số dấu hiệu Chúa tái lâm mà chúng ta đă khảo-sát: những nạn đói kém, những trận dịch bệnh, những cơn địa chấn … chính là những tiếng gà gáy sáng báo hiệu một b́nh minh huy hoàng của địa cầu, lúc Chúa Giê-su xuất hiện giữa bầu trời!
Bạn biết chăng, chúng ta có thể ḍ theo dấu chân của thời-gian, để nh́n những biến-chuyển của tạo-vật mà đoán đúng bước chuyển-dịch của thời-tiết? Chẳng hạn: ta thấy sầu-đông trút lá, th́ biết là mùa Đông sang rồi. Hoa mai vàng khoe sắc, th́ ta reo lên: mùa Xuân đă trở lại! Phượng-vĩ nhuộm màu đầu cành, ta giật ḿnh: mùa hạ đă đến. Cúc trổ hoa, ta thích-thú nhận ra: mùa Thu đă sang. Sau khi đă báo trước những dấu hiệu về sự phục-lâm của Ngài, Đức Chúa Giê-su lại phán: “Hăy nghe lời ví-dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, th́ các ngươi biết mùa hạ gần tới. Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người (Con người đây tức là Chúa) gần đến, Ngài đương ở trước cửa.” (Ma-thi-ơ 24:32, 33).
Thế-hệ chúng ta chứng-kiến gần hết những dấu-hiệu về sự phục-lâm của Giê-su. Hơn thế-hệ nào hết, chúng ta sẽ được vinh-hạnh đón tiếp sự hồi lai quang-vinh của Giê-su, Đấng đă phán: “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, ḍng-dơi nầy chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến.” (Ma-thi-ơ 24:34). Vâng, Giê-su sẽ đến trong thế-hệ chúng ta, là thế-hệ đă chứng kiến những dấu-hiệu về sự phục-lâm của Ngài. Giê-su gần-đến, Ngài đang ở trước cửa. Mai vàng đang nở rợp trời, Chúa xuân sắp hồi-lai, nhưng ḱa bạn ơi, bạn đă sẵn sàng đón tiếp Chúa xuân của bạn chưa?
C̣n hoàng-hôn th́ c̣n b́nh-minh, nếu trời đất c̣n. Giê-su đă đi th́ Giê-su sẽ trở lại. Nhưng dẫu cho trời đất có qua đi, th́ lời Giê-su hứa trở lại sẽ không qua bao giờ. Vấn-đề không phải Giê-su phục-lâm hay không, nhưng là chúng ta có sẵn-sàng cho sự phục lâm của Ngài hay chưa!
Chúng ta hăy ghi nhận thêm mấy dấu hiệu trong thế-giới tôn-giáo và đạo-đức xă hội của chúng ta để tin rằng ngày tái-lâm của Giê-su không c̣n bao xa nữa. Để đáp câu hỏi khẩn-thiết của các sứ-đồ: “Có điềm ǵ chỉ về sự Chúa đến?” (Ma-thi-ơ 24:3). Đức Chúa Giê-su diễn-tả t́nh-trạng tôn-giáo trước thời-kỳ Chúa trở lại, như sau: “Lúc ấy sẽ có hoạn-nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa. Nếu những ngày ấy không giảm bớt, th́ chẳng có một người nào được cứu; song v́ cớ các người được chọn, th́ những ngày ấy sẽ giảm bớt.” (Ma-thi-ơ 24:21-22).
Đức Chúa Giê-su báo trước cho các môn-đồ đang nghe Chúa dạy trên núi Ô-li-ve rằng, ngày ấy sẽ có hoạn-nạn lớn cho những kẻ tin theo Chúa. Hoạn-nạn ấy không đến trong đời của Giê-su, cũng không xảy ra trong thời-đại các sứ-đồ. Đành rằng những tín-đồ đầu tiên của Giê-su đă bị bắt-bớ dữ-dội, trong số đó có những người bị ném đá, bị phân thây như Ê-tiên, bị đóng đinh như Phi-e-rơ, bị chặt đầu như Phao-lô, nhưng sự bắt-bớ đó không thấm vào đâu, so với những hoạn-nạn sẽ xảy đến về sau để đánh dấu một giai-đoạn mới trong lịch-sử, giai-đoạn trước khi Cơ-Đốc Phục-Lâm.
Chính tiên-tri Đa-ni-ên, sống vào thế-kỷ thứ VI trước kỷ-nguyên Cơ-đốc, cũng đă đề-cập đến biến-cố trọng đại và đau-thương ấy trong một lời dự-ngôn như sau: “Vua đó sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao, làm hao-ṃn các thánh của Đấng Rất Cao, và định ư đổi những thời-kỳ và luật-pháp; các thánh sẽ bị phó trong tay người cho đến một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ.” (Đa-ni-ên 7:25).
Trong ngôn-ngữ của các nhà tiên-tri Do-thái, một kỳ là một năm tiên-tri; một năm tiên-tri có 360 ngày tiên-tri; và một ngày tiên-tri là một năm của chúng ta. Vậy một kỳ, những kỳ (nghĩa là hai kỳ) và nửa kỳ là ba năm rưỡi, hay là 1260 ngày tiên-tri, tức là 1260 năm thực tế. Trong 1260 năm ấy, các thánh đồ của Đức Chúa Trời phải bị truy lùng và tiêu diệt bởi một thế lực nghịch lại với Đấng Cơ-đốc.
Một trăm năm sau khi Giê-su về trời, người môn-đồ yêu-dấu của Chúa, là Giăng, trong giây phút thần-cảm, đă tiên-báo về cuộc tàn-sát tôn giáo ấy như sau: “Vậy, nó mở miệng ra nói những lời phạm đến Đức Chúa Trời, phạm đến danh Ngài, đền-tạm Ngài cùng những kẻ ở trên trời. Nó lại được phép giao-chiến cùng các thánh-đồ và được thắng ... và nó lại được quyền làm việc trong bốn mươi hai tháng.” (Khải-huyền 13:6, 5).
Giăng sống trong kỷ nguyên sau Chúa cũng nói đến việc bắt bớ các thánh-đồ và ấn-định một kỳ-hạn cho biến-cố lịch-sử, là bốn mươi hai tháng. 42 tháng là ba năm rưỡi, v́ ba năm là 36 tháng, với nửa năm là 6 tháng, tổng cộng là 42 tháng. Nói khác đi là 1260 ngày tiên-tri, hay 1260 năm thực tế. Hai nhà tiên-tri trong hai thời-đại, dùng hai lối diễn tả khác nhau để biểu-thị một thời-gian giống nhau và cùng ấn-định chung cho một biến cố.
Nhưng ai đă chủ-động trong việc tàn-sát tôn-giáo đẫm máu ấy? Đa-ni-ên bảo là một vua, nhưng là một vua có cả quyền lực của tôn-giáo với những tham-vọng tôn-giáo. Chính người đă chịu trách-nhiệm về sự thay-đổi luật-pháp của Đức Chúa Trời, và thay-đổi ngày thờ phượng Chúa trong tuần-lễ. Ngày thứ nhất trong tuần, mà ta đă quen gọi là ngày Chủ-nhật, được chọn làm ngày thờ phượng Đức Chúa Trời thay cho ngày thứ Bảy cuối tuần của luật pháp trong Kinh-thánh, là kết-quả của việc thay đổi thời-kỳ và luật-pháp mà tiên-tri đă dự-ngôn trên kia. Người ta vẫn thừa-nhận – hănh-diện mà thừa nhận – hành-động phản Cơ-đốc ấy như biểu-hiện uy-thế của họ.
Những tín-đồ trong thời-kỳ Phao-lô đặc biệt là những tín-đồ ở thành Tê-sa-lô-ni-ca tưởng là Giê-su sắp phục-lâm trong thế-kỷ đầu-tiên. Có kẻ bất-lương thừa-cơ mà lừa-bịp rằng ngày hồi-lai của Giê-su đă gần. Nhận-định nguy-cơ đang hăm-dọa ḷng dễ tin của tín-hữu, sứ đồ Phao-lô liền viết cho họ một bức tâm thư cảnh-giác như sau: “Luận về sự đến của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta, và về sự chúng ta hội-hiệp cùng Ngài, th́, hỡi anh em, xin chớ vội bối-rối và kinh-hoảng hoặc bởi thần-cảm giả-mạo, hoặc bởi lời nói hay là bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đă gởi mà nói rằng ngày Chúa gần đến. Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa-dối ḿnh. V́ phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra, tức là kẻ đối địch, tôn ḿnh lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ-lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính ḿnh tự xưng là Đức Chúa Trời.” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-4).
Phao-lô quả quyết với người Tê-sa-lô-ni-ca, và với toàn-thể giáo-đồ Cơ-đốc cùng thời với ông rằng: Giê-su chưa trở lại. Trước khi Ngài tái lâm phải có sự bỏ đạo, nghĩa là có sự phản-bội bởi kẻ đă từng đứng trong hàng ngũ của Cơ-đốc giáo. Ta có thể gọi là một người phiến-loạn, kẻ chống lại chánh-đạo của Đấng Cơ-đốc. Người hành-động như một kẻ ngụy xưng ngay trong giới Cơ-đốc. Người tôn ḿnh lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ-lạy. Người ngang nhiên chiếm-đoạt địa-vị của Đấng Cơ-đốc, cướp đoạt những tước phẩm dành riêng cho Đấng Cơ Đốc. Người “ngồi trong đền Đức Chúa Trời, (nghĩa là trong giáo hội), chính ḿnh tự xưng là Đức Chúa Trời.” Thật là phạm-thượng, thật là xấc-xược! Nhân vật ấy không ai khác hơn là kẻ mà tiên-tri Giăng đă dự ngôn: “Nó được ban cho cái miệng nói những lời kiêu-ngạo phạm-thượng; và nó lại được quyền làm việc trong bốn mươi hai tháng” (Khải-huyền 13:5), nghĩa là chính kẻ chủ-mưu tàn-sát thánh-đồ trong thời gian 1260 năm.
Thời gian bách-hại tôn-giáo 1260 năm ấy chưa khởi sự trong thời các sứ đồ, nghĩa là trong thế-kỷ thứ nhất của kỷ-nguyên Cơ-đốc. Phao-lô giải-thích: “Hiện nay anh em biết rơ điều làm ngăn-trở nó, hầu cho nó chỉ hiện ra đúng kỳ nó thôi. V́ đă có sự mầu-nhiệm của điều bội-nghịch đương hành-động rồi; song Đấng c̣n ngăn-trở cần phải cất đi. Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật-pháp kia sẽ hiện ra.” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:6-8). Theo Phao-lô th́ mầm phản-bội đă ướm sẵn trong thời các sứ-đồ, nhưng chưa bộc-phát v́ chưa đến thời điểm Chúa ấn định. Giờ bắt đầu cho thời-kỳ 1260 năm chưa khởi sự trong đời Phao-lô. Nó khởi sự khi kẻ “nghịch cùng luật-pháp” - hay nói theo cách của Đa-ni-ên - là “kẻ thay đổi thời-kỳ và luật-pháp” xuất hiện. Thời-kỳ “hoạn-nạn” ấy, mà Đức Chúa Giê-su đă báo trước sẽ đến trên Hội-thánh để làm dấu hiệu cho sự tái-lâm của Ngài, đă chính-thức khởi sự năm 538 S.C., v́ năm ấy kẻ phản-bội đối-địch cùng Đấng Cơ-đốc đă công-khai xuất-hiện trong Hội-thánh mệnh danh là Hội-thánh của Chúa. Kể từ đó người ta bắt đầu phá-hoại uy-tín của Đấng Cơ-đốc, bằng cách xưng ḿnh là Đức Chúa Trời, và buộc tín đồ thờ lạy ḿnh như thờ lạy Đức Chúa Trời.
Sự đàn áp bắt-đầu khi có những nhóm trung-thành với Đạo Chúa một cách thuần-túy, không chịu khuất phục dưới sự chiếm đoạt quyền lực bất hợp-pháp, nhất-định không dung nạp sự phản-bội trắng-trợn nên đă cương-quyết ly-khai với tổ-chức chung. Họ liền bị tầng lớp lănh đạo giáo hội dùng uy-lực phàm tục đàn-áp mănh-liệt, bằng những biện-pháp rất dă man. Họ bị gán cho những tên gọi như “phản-đạo” hoặc “tà-giáo.” Họ bị bách-hại phũ-phàng: nhà họ bị đốt, tài sản họ bị tịch thu, vợ họ bị bắt, con họ bị giết, họ bị đốt, bị phân-thây, làm mồi cho dă thú, bị ngựa xé, voi chà. Thời-kỳ hoạn nạn kéo dài đến hơn 12 thế-kỷ. Họ bị tàn-sát ở Ư, ở Đức, ở Tây Ban Nha, ở Pháp, họ phải trốn sang Anh, sang Mỹ để bảo vệ niềm tin. Và những nạn-nhân của cuộc bách-hại tôn-giáo ấy đă đến đất Mỹ, để sau nầy trở thành tổ tiên của dân-tộc Hoa-kỳ. Trong thời-kỳ tối-tăm của lịch-sử ấy, chúng ta không thể tưởng-tượng là đă có hơn 100 triệu tín-đồ bị giết chăng! 100 triệu người! Hơn cả dân số của Việt-nam chúng ta!
Đức Chúa Giê-su phán: “Nếu những ngày ấy không giảm-bớt, th́ chẳng có một người nào được cứu; song v́ cớ các người được chọn, th́ những ngày ấy sẽ giảm-bớt.” (Ma-thi-ơ 24:22). Một trăm triệu người bị tàn-sát đă là một con số khủng khiếp; nhưng nếu những ngày ấy (nghĩa là những ngày bách-hại đạo Chúa) không giảm-bớt, th́ số người bị giết không biết sẽ lên đến bao nhiêu! Đến không c̣n một người Cơ-đốc cũng nên! Nhưng cảm-tạ Đức Chúa Trời, Ngài đă v́ những người được chọn mà cắt ngắn cơn hoạn-nạn. Thời kỳ hoạn-nạn đă dự-ngôn là 1260 năm khởi đầu từ năm 538 S.C. và kết thúc bằng cuộc cách-mạng nước Pháp, năm 1798, là năm mà uy-quyền của Giáo-hội đă bị tướng Berthier tước mất. Tuy nhiên gần một phần tư thế-kỷ trước đó thế-lực bách-hại đă bị nhiều lực-lượng khống chế, nên trên thực-tế cuộc tàn-sát đă giảm dần tính quyết-liệt.
Ta hăy trở lại lời cảnh-cáo của Phao-lô: “Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Giê-su sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy-diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến.” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8). Kẻ nghịch cùng luật-pháp kia sẽ hiện ra và hoành-hành trong gần 12 thế-kỷ rưỡi. Sau đó, theo lời Phao-lô “Đức Chúa Giê-su sẽ … trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến.” Như thế nghĩa là sau khi kẻ đối-địch Đấng Cơ-đốc hiện ra trong ḍng lịch sử thế-giới để hành động như những ǵ đă báo trước rồi, th́ Giê-su sẽ đến để trừ bỏ kẻ đối địch ấy đi. Nói cho dễ hiểu hơn, Đức Chúa Giê-su sẽ phục-lâm sau thời-kỳ bách-hại Hội-thánh. Thời-kỳ bách hại đă qua, như vậy Đức Chúa Giê-su có thể tái lâm bất-cứ giây phút nào trong thời đại chúng ta.
Sau khi cảnh giác Hội-thánh về thời-kỳ đại-nạn, Đức Chúa Giê-su dạy tiếp: “Sự tai-nạn của những ngày đó vừa mới qua, th́ mặt trời liền tối-tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống…” (Ma-thi-ơ 24:29).
Như đă tŕnh bày, Đức Chúa Trời v́ yêu những người được chọn mà can-thiệp vào để sự bách-hại tôn-giáo được kết thúc một phần tư thế-kỷ trước kỳ-định, tức trước năm 1776 S.C. Kế đó, nghĩa là nhằm lúc “sự tai-nạn của những ngày đó vừa mới qua”, th́ ngày 19-5-1780 mặt trời bỗng nhiên tối-tăm. Đây là một vài sử-liệu về hiện-tượng kỳ-lạ trên, theo sự miêu-tả của một người ở Massachusetts chứng-kiến: “Buổi mai mặt trời mọc lên trong sáng, nhưng chẳng mấy chốc bị che mờ. Mây giăng thấp, đen kịt, bỗng chớp-nhoáng, sấm vang, và mưa lưa-thưa rắc xuống đất. Vào khoảng 9 giờ, mây mỏng dần và biến thành màu đồng, hay màu thau, rồi đất, đá, cây, nhà cửa, nước và người ta trông thật khác thường trong cái ánh-sáng kỳ-dị lạ lùng ấy. Ít phút sau th́ một làn mây dày đặc và đen kịt tỏa ra che-phủ cả trời, chỉ chừa một đường biên rất nhỏ ở chân trời, và trời tối đen như khoảng 9 giờ tối một đêm mùa Hạ.
“Cảm-giác sợ-hăi, lo-âu, kinh khiếp lần lần xâm chiếm tâm-trí dân-chúng. Đàn bà tựa cửa, nh́n ra ngoài cảnh-vật đen tối; đàn ông ngoài đồng nghỉ việc về nhà; thợ mộc bỏ dụng cụ xuống, thợ rèn dẹp ống bệ, nhà buôn đóng cửa hàng. Các trường băi học, và trẻ con run-rẩy lật-đật chạy về nhà. Khách lữ-hành t́m vào nông-trại gần mà tá-túc. Mọi người đều hỏi nhau trong bối rối: “Chuyện ǵ vậy?” Người ta có cảm-tưởng như sắp có trận cuồng-phong thổi qua nơi đây, hoặc là thế giới đă đến hồi kết thúc rồi!
Người ta thắp đèn cầy; và đốt lửa trong các ḷ sưởi sáng bừng như một đêm mùa Thu không trăng … Gia-súc về chuồng ngủ, trâu ḅ kéo vô chuồng và người ta đóng cổng, ếch nhái kêu, chim hót những khúc nhạc hoàng-hôn của chúng, và những con dơi bay tứ-tung. Nhưng người ta th́ biết rơ rằng đêm chưa đến.” – The Essex Antiquarian, vol. 3 no. 4 (April, 1899). pp. 53, 54.
Rồi đêm hôm ấy cảnh tượng như thế nào, bạn biết không? Xin trích-dẫn một đoạn khác: “Màn tối ban đêm cũng không kém lạ-thường và hăi hùng như màn tối ban ngày; tuy trăng lúc ấy gần như là trăng tṛn, thế mà không thể nh́n thấy một vật nào rơ-ràng nếu không nhờ vào ánh-sáng đèn. Từ những chỗ xa xa khác, vạn vật được nh́n như qua một màn tối mịt của Ai-Cập trong khi bị tai họa, cái màn tối dày đặc tựa hồ như không cho ánh sáng xuyên qua.” Thomas! Massachusetts Spy, vol. 10. 472 (May 25, 1780).
Một nhân chứng khác thuật lại: “Lúc bấy giờ, tôi bất-giác nghĩ rằng nếu tất cả các tinh-thể trên vũ-trụ đều bị che trong bóng tối đen kịt đi nữa, hoặc chúng bị biến mất hết, th́ màn tối cũng không thể tối hơn như thế. Cầm một tờ giấy trắng cách xa mắt vài phân cũng không thấy được, y như không thấy một miếng nhung đen mướt.” – Letter of Dr. Samuel Tenney, dated Exeter, New Hampshire, December, 1785; cited in collections of Massachusetts Historical Society, vol. 1, 1792.
Một người khác miêu-tả như sau: “Bóng tối bao trùm suốt ngày, và vào lúc hoàng-hôn, màn đêm dày-đặc đến nỗi không thể nh́n thấy bất cứ một vật ǵ nữa cả. Người ta băn-khoăn run-rẩy chờ vầng trăng tṛn thường sẽ phải mọc lúc 9 giờ đêm, thậm-chí trẻ con cũng lẳng-lặng ngồi háo-hức chờ trăng sáng lên. Nhưng họ thất-vọng, v́ ánh trăng không thể phá tan màn hắc ám.” Rev. W.R. Cochrane, History of the Town of Antrim, New Hampshire, pp. 58, 59.
Vậy, mặt trời đă tối-tăm và mặt trăng không sáng y như lời Đức Chúa Giê-su đă tiên-tri. Lịch-sử gọi ngày ấy là “Ngày tối-tăm.” Quyển tự-điển Noah Webster’s dictionary, xuất-bản năm 1869 chép: “Ngày 19-5-1780 gọi là ngày tối-tăm v́ trong ngày ấy một bóng tối kỳ-dị bao trùm cả Bắc-Mỹ (New England) nguyên-do tại sao có hiện-tượng kỳ-lạ ấy không ai biết cả.”
Một nhà văn khác đă b́nh-luận rất ư-nhị: “Người ta không biết nguyên-nhân của những hiện-tượng ấy, nhưng chắc-chắn nó không phải là hiện tượng nhật thực hay nguyệt thực.” The Guide to Knowledge, or Repertory of Facts, edited by Robert Sears, p. 428.
Những hiện-tượng thiên-nhiên lạ-lùng ấy xảy ra đúng vào thời-kỳ đă chỉ-định để đánh dấu ḍng thời-gian. Tất cả những biến-động ở nhân-gian, trong lănh vực chánh-trị hay tôn-giáo, (dầu các nhân vật dường như đóng những vai tṛ chủ-động có ư-thức hoặc thụ động không ư-thức) cùng với những hiện-tượng kỳ-bí của thiên-nhiên trong vũ-trụ, th́ đều ở dưới quyền điều-khiển của Đức Chúa Trời. Các tinh cầu đă được bố-trí, ngoài sự lư giải của thiên-văn học, để cắm mốc cho chúng ta biết rằng ngày Giê-su trở lại trần gian đă gần lắm rồi.
Thiên-nhiên c̣n cung cấp một điềm khác nữa: Đó là hiện-tượng sao sa. Đức Chúa Giê-su phán: “Các ngôi sao từ trên trời sa xuống.” (Ma-thi-ơ 24:29). Ta nên hiểu rằng ngôi sao đây không phải là các v́ tinh-tú, các mặt trời, hay định-tinh, hành-tinh, mà đó là những mảnh lưu-tinh, các mảnh tinh thạch rơi ra, mà ta thường gọi là sao băng hay sao sa. Hiện-tượng sao sa xảy ra ngày 13-11-1833 trên một vùng bao trùm cả Hoa-kỳ, một phần Mê-hi-cô và West Indies.
Một nhà thiên-văn học miêu tả như sau: “Trong đêm 12 rạng ngày 13 tháng 11 năm 1833, một trận băo táp bằng sao sa đă diễn ra trên địa-cầu. Ở Bắc Mỹ sao sa nhiều hơn hết. Từ vịnh Mê-hi-cô cho đến Halifax, bầu trời chằng-chịt những đường xẹt sáng do những tinh thạch sáng tuyệt đẹp mà thậm chí nếu có ánh sáng ban ngày cũng không dễ ǵ làm lu-mờ.” Agnes M. CLERKE, History of Astronomy in the Nineteenth Century, p. 328.
Một vị giáo sư miêu tả: “Suốt đêm 13 tháng 11 năm 1833 đă trở thành một đêm lịch-sử v́ có hiện tượng gọi là sao sa nhiều và vô cùng ngoạn mục… Hẳn là từ khi Hoa-kỳ được thành-lập cho đến bây-giờ chưa từng có hiện-tượng nào trên bầu trời được nhiều người chiêm-ngưỡng một cách thích-thú như vậy, hoặc khiến cho một số người khác kinh-ngạc và sợ-hăi đến thế. Sau hiện-tượng sao sa nầy một thời-gian dài, công-chúng trong mọi giới vẫn c̣n lấy đó làm đề tài để bàn-tán.” Denison Olmsted in the American Journal of Science and Arts, vol, 25 (1834). pp. 363, 364.
C̣n nhiều tài-liệu khác về hiện-tượng sao-sa trong đêm 13 tháng 11 năm 1833; nhưng trong khuôn-khổ của tập sách nầy chúng tôi chỉ xin trích-dẫn hai đoạn trên mà thôi. Dù vậy, thiết tưởng cũng tạm đủ để chúng ta nhận-định đúng giai-đoạn chúng ta đang sống.
Sự bắt bớ tôn-giáo đă xảy ra theo lời dự-ngôn, với tất cả những đặc-tính của nó. Nó đă mở màn đúng giờ đă ấn-định, đó là năm 538, và đă kết-thúc đúng vào năm 1798 bằng cuộc cách-mạng Pháp, là cuộc cách-mạng giải-phóng con người, và truất-phế chế-độ độc-tài tôn-giáo. Thời gian đă kéo dài “một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ” nghĩa là 1260 năm, đă tàn-sát trên 100.000.000 (một trăm triệu) người không phạm tội ǵ khác ngoài tội yêu Giê-su và yêu chân-lư. Thời-kỳ ấy đă được cắt ngắn vào khoảng năm 1776 để bảo tồn những kẻ được chọn. Và y như đă tiên-báo, thời-kỳ tai-nạn vừa chấm-dứt th́ những hiện-tượng thiên-nhiên với những nguyên-nhân c̣n kỳ-bí đă xuất-hiện để rao-báo ngày Giê-su sắp trở lại.
Thưa các bạn thân mến, nhân danh một trăm triệu người đă chết v́ sự trông cậy phước-hạnh nơi sự tái-lâm của Đức Chúa Giê-su, tôi thiết-tha kêu gọi các bạn hăy nhận-định đúng thời điểm chúng ta đang sống đây, mà sớm quay về với Chúa để sửa-soạn đón tiếp Chúa trở lại trong niềm hân hoan phước hạnh.


Mục sư Lê Hựu
 

Main Page