Soạn bài và Chia sẻ Kinh Thánh

 MỤC LỤC

  1. Phương cách học Kinh-thánh cá nhân 

  2. Phương cách kể chuyện 

    • Khái niệm.

    • Soạn bài kể chuyện.

    • Tập kể.

    • Cách kể.

  3. Phương cách soạn một bài chia sẻ Kinh-thánh  

    • Khởi đầu bài giảng.

    • Các loại bài giảng.

    • Các yếu tố cần thiết của một bài giảng.

    • Tài liệu dùng cho bài giảng.

    • Những ví dụ.

    • Cách giảng bằng câu, khúc kinh thánh.

    • Cách giảng theo đề tài.

    • Sườn bài giảng.

    • Nhập đề.

    • Thân bài.

    • Kết luận.

    • Sửa soạn để giảng.

Phương cách

HỌC KINH THÁNH CÁ NHÂN

  1. Cầu nguyện và đọc nhiều lần khúc Kinh Thánh muốn học.

  2. Tóm lược chủ đề chính của khúc Kinh Thánh ấy.

  3. Phân tích từng câu:

  1. Tìm hiểu: (Cần có tài liệu)

    • Giải thích nghĩa đen và từ ngữ.

    • Câu Kinh Thánh của ai nói và nói với ai.

    • Được nói hoặc viết trong bối cảnh nào, lý do?

    • Liên quan đến những câu Kinh Thánh nào khác?

  1. Ý nghĩa:

    • Câu nầy đã nêu lên những sự dạy dỗ nào?

    • Ứng dụng gì cho cá nhân, cho Hội Thánh?

    • Hướng tích cực và tiêu cực của câu Kinh Thánh nầy?

  1. Qua đoạn Kinh Thánh nầy:

  • Tôi đã học được gì về Đức Chúa Trời, về Chúa Giê-xu , về Đức Thánh Linh?

  • Tôi đã nhận được mệnh lệnh nào để biết cách bước đi với Chúa và chung sống với mọi người?

  • Tôi đã nhận định về tội lỗi thế nào và quyết tâm chiến đấu ra sao?

  • Tôi có được thúc giục để lập một hứa nguyện với Chúa lập tức về những điều vừa nhận được?

  1. Cầu nguyện về chủ đề của lẽ thật vừa học.

Phương cách KỂ CHUYỆN

I. KHÁI NIỆM.

    • Kể chuyện là gì? Thuật lại một câu chuyện đã xảy ra.

    • Tính chất khác nhau của các thể loại: Kể chuyện, Bài đọc, Diễn văn, Giảng luận....(Khác về cách soạn bài, về nội dung, về giọng trình bày)

II. SOẠN BÀI KỂ CHUYỆN.

    1. Chọn chuyện ưa thích. Tìm những tình tiết tạo thích thú.

    2. Suy tư về nhân vật và tình tiết trong chuyện.

    3. Phân bố cục:

  1. Bố cục thường: Theo đúng trình tự thời gian.

  1. Bố cục đảo: Thay đổi trình tự thời gian.

    • Phần mở đầu phải hấp dẫn.

  • Phần kể chuyện cần linh hoạt trong mỗi tình tiết.

  • Những điểm nóng và lạnh. (Chỗ hấp dẫn, hào hứng, hồi hộp)

  • Phần kết phải mang tính chất độc đáo.

  • Rút bài học và ứng dụng:  

  1. Ứng dụng xen kẽ giữa các tình tiết.

  1. Ứng dụng ở phần kết chuyện.

    1. Dùng nhiều phương pháp tỉ sánh và từ ngữ tượng hình.

    2. Lưu ý các phần đối thoại. Văn viết và văn kể khác nhau, không nên kể chuyện y theo cách viết, nhất là những phần đối thoại. Việc lặp lại nhiều lần: “Ông A hỏi…, Ông B trả lời…., Ông A nói…, Ông B hỏi lại …,” v.v... sẽ làm chuyện kể nhàm chán. Người kể biết cách lọc lựa các mẫu đối thoại sao cho đơn giản mà vẫn giữ được nội dung.

III. TẬP KỂ.

  1. Phải thuộc câu chuyện, nắm vững bố cục.

  2. Đặt tâm trạng mình vào các nhân vật của chuyện.

  3. Tập kể một mình như có thính giả.

  4. Kể chuyện trước kính soi mặt để xem động tác và cách diễn đạt.

  5. Nếu được, nên ghi âm để thấy rõ khuyết điểm của giọng kể và những từ ngữ thừa thường dùng trong lúc kể.

IV. CÁCH KỂ.

  1. Giọng kể: Tình chất quan trọng, cách tập giọng, việc giả giọng Như người già nói thì giả giọng già, trẻ thì giả giọng trẻ, con cọp thì giả giọng ồ ề, con chim thì giả giọng líu lo, ríu rít. Kể cho thiếu nhi thì cần phải giả giọng, nhưng kể cho người lớn thì không nên giả giọng.

  2. Đôi mắt. Đừng nhìn chăm lên trần hay vào góc nhà, đôi mắt có sức thu hút khi kể chuyện, vì nó cùng với giọng kể diễn tả tình tiết chuyện. Tránh nhìn chăm chú vào riêng ai, ánh mắt lướt qua đều và chậm trên tất cả người nghe.

  3. Gương mặt. Kể chuyện mà cử tọa không nhìn, là thất bại. Một gương mặt lạnh như tiền giữa những tình tiết chuyện hấp dẫn sẽ không thu hút được người nghe. Gương mặt phải diễn tiến theo tình tiết chuyện, nhưng đừng thái quá sẽ thành lố bịch.

  4. Bán thân trên: Đầu và hai tay, việc đi lại trong lúc kể. Cần khoan thai trong tư thế kể, đầu và hai tay phụ thêm để diễn tả chuyện một cách sinh động. Nhưng tránh việc lăng xăng sẽ như làm trò hề. Nếu trên diễn đàn thì tránh đi lại, nhưng kể chuyện trong vòng tròn thì nên chuyển hướng đều để mọi người có thể theo dõi.

  5. Tốc độ và cường độ trong kể chuyện. Tình tiết dồn dập hấp dẫn thường kéo theo tốc độ kể nhanh, lúc đến đoạn buồn thì phải kể chậm. Tình tiết đau thương mà kể sôi nổi thì không lắng vào lòng. Có những đoạn kể bằng giọng thật nhẹ như ru, có lúc phải kể to hoặc hét lớn. Nghiên cứu kỹ chuyện sẽ có tốc độ và cường độ thích hợp, câu chuyện sẽ rất hấp dẫn, nhất là cho trẻ.

  6. Sự diễn cảm. Diễn cảm là rung động của người kể hòa lẫn trong chuyện kể. Kể như chuyện của chính mình, kể bằng cả tâm tình và sự cảm thông với nhân vật trong chuyện. Cũng như người hát sống hết mình trong lời hát, diễn viên sống với vai diễn, người kể chuyện cần suy tư nhiều và hóa thân vào chuyện mới có thể diễn cảm thành công. Nhiều người kể chuyện hay, nhưng không để lại ấn tượng sâu sắc trong người nghe, vì kể lưu loát nhưng thiếu diễn cảm.

 Phương cách

SOẠN MỘT BÀI CHIA SẺ KINH THÁNH.

      1. KHỞI ĐẦU BÀI GIẢNG.

  1. Soạn theo nhu cầu của người nghe.

  1. Khả năng bản thân có thể đáp ứng đề tài không?!

  2. Người nghe đã tin Chúa hay chưa tin Chúa!

  3. Cảm hứng bởi những sự kiện bên ngoài, trong cuộc sống.

  4. Cảm hứng ở văn phòng, học Kinh thánh, sách, báo, TV.

  5. Cảm hứng từ những tư tưởng đến bất chợt trong trí.

  6. Một bài giảng sâu sắc cần có giai đoạn ấp ủ, đôi khi là ấp ủ không ý thức.

     

      1. CÁC LOẠI BÀI GIẢNG.

  7. Giải nghĩa: Giải nghĩa Kinh-thánh rồi ứng dụng.

  8. Đề tài: Nêu một vấn đề rồi luận giải cho sáng tỏ.

  9. Thực tiễn: Giảng luân lý, đạo đức, các vấn đề xã hội.

  10. Cổ động: Kêu gọi tham gia hoặc thực hiện một điều gì.

     

      1. CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT CỦA MỘT BÀI GIẢNG.

    1. Đặt nền tảng trên Kinh thánh.

    2. Phải bén nhọn, sáng sủa, rõ ràng.

    3. Xác tín, lý luận chính xác.

       

      1. TÀI LIỆU DÙNG CHO BÀI GIẢNG.

    4. Trực tiếp về tôn giáo: Thánh ca, sách khảo cổ, lịch sử…

    5. Gián tiếp: Văn thơ, báo chí, danh ngôn, danh nhân...

    6. Những sự kiện khoa học, xã hội, sinh hoạt hằng ngày.

    7. Tích trữ tài liệu, câu nói, đoạn văn, ví dụ, chuyện ngụ ngôn, danh ngôn... cần ghi lại và nắm vững xuất xứ.

       

      1. NHỮNG VÍ DỤ.

    Ví dụ chỉ là phương tiện dẫn đến cứu cánh, nó không là cứu cánh.

Tại sao phải dùng ví dụ.

    • Đem những lẽ thật trừu tượng đến với người ta một cách thực tế.

    • Để cho vấn đề được sáng tỏ, dễ nhận ra.

    • Để tô điểm cho bài giảng. Làm bài giảng được hoàn hảo.

Tìm kiếm các ví dụ.

  • Từ thiên nhiên, Kinh thánh, sinh hoạt hằng ngày, phong tục tập quán, sử sách, báo chí...

  • Nên giới hạn số lượng ví dụ trong bài giảng.

  • Nếu ví dụ là chuyện dài thì chỉ nên lấy phần trọng tâm.

  • Nên thay đổi ví dụ ở nhiều thể loại khác nhau.

Những lỗi nên tránh khi dùng ví dụ.

    1. Đừng dùng ví dụ đã dùng rồi.

    2. Tránh dài dòng, chi tiết quá đáng, phải vắn tắt.

    3. Hạn chế kể chuyện hoang đường, chuyện không có hoặc không thể có được. Tránh những chuyện quái đản, trữ tình quá đáng.

    4. Cẩn thận, đừng dùng ví dụ để ám chỉ ai.

    5. Hạn chế lấy chuyện của mình ra làm ví dụ.

    6. Đừng kể một loạt ví dụ liên tiếp.

    7. Nếu dùng thơ làm ví dụ thì trích dẫn vừa phải.

    8. Đừng dùng ví dụ tiêu cực hoặc có nguy cơ phản tác dụng.

  1. CÁCH GIẢNG BẰNG CÂU, KHÚC KINH THÁNH.

    1. Chắc chắn là sứ điệp của Đức Chúa Trời.

    2. Khuyến khích người giảng lẫn người nghe tra cứu Kinh thánh và cầu nguyện.

    3. Đáp ứng được các vấn đề thuộc linh.

Cách chọn câu Kinh thánh.

  1. Đặt chủ đích rồi chọn phần Kinh thánh thích hợp.

  2. Căn cứ theo Mùa, Lễ mà chọn.

  3. Chọn câu có ý nghĩa, nên là câu xác định hơn phủ định.

  4. Nên chọn câu gợi trí tưởng tượng.

  5. Nên chọn câu ngắn, dễ nhớ, dễ lặp lại.

  6. Mỗi bài giảng chỉ nên chọn một câu gốc mà thôi.

  7. Nên chọn câu có thể chia phần dễ dàng, rõ ràng.

  8. Không phải câu Kinh thánh nào cũng áp dụng được.

  9. Gặp câu quá dài và nhiều ý không thể diễn đạt hết được.

  10. Dễ đưa đến những bài giảng gượng ép.

  11. Đôi khi trở nên máy móc, rời rạc, vô bổ.

(Áp dụng phần 1: Phương cách học Kinh-thánh cá nhân)

 

V. CÁCH GIẢNG BẰNG ĐOẠN KINH THÁNH.

    1. Giảng đoạn Kinh thánh khó hơn câu Kinh thánh. Nên chọn đoạn dễ giảng, tránh đoạn quá dài.

    2. Lối giảng nầy đòi hỏi trí tưởng tượng phong phú, phân tích và tổng hợp.

    3. Cần rút ý chính, xếp đặt mạch lạc, cô đọng và linh hoạt.

    4. Hội thánh từ xưa có truyền thống giảng cách nầy.

    5. Là phương pháp nuôi dưỡng Hội thánh tốt nhất.

    6. Làm phát triển khả năng của người soạn bài giảng.

    7. Dễ khiến ỷ lại và sanh lười biếng khi soạn bài.

    8. Nếu thiếu công phu, dễ sanh nhàm chán, khô khan.

    9. Nếu điêu luyện quá chỉ thấy tài của người giảng mà không bộc lộ được hết sứ điệp đoạn Kinh thánh.

  1. CÁCH GIẢNG THEO ĐỀ TÀI.

  • Giảng theo đề tài khác hẳn với cách giảng theo câu Kinh thánh hoặc đoạn Kinh thánh.

    • Có thể giảng bất cứ đề tài nào thấy cần thiết.

    • Phạm vi sử dụng để đáp ứng nhu cầu thính giả rất rộng.

    • Bài giảng được thống nhất.

    • Dễ bị ảnh hưởng của thế tục vì chỉ cần tài liệu bên ngoài, bài giảng ít nói về Chúa, người giảng dễ xao lãng lời Chúa

    • Nếu trình bày hời hợt, không nuôi dưỡng được tín đồ.

  1. BỐ CỤC BÀI GIẢNG. (Sườn bài)

  Một bài giảng lý tưởng gồm có: Phần nhập đề hào hứng, thân bài rõ ràng và lập luận thuyết phục, phần kết luận mạnh mẽ, có tác động.

Một sườn bài tốt.

    1. Thống nhất. Bài giảng phải là đơn vị duy nhất, thống nhất.

    2. Thứ tự. Phải sắp xếp hẳn hoi các tài liệu, tránh lộn xộn.

    3. Cân đối. Hài hòa giữa nhập đề, thân bài và kết luận.

    4. Tiến bộ. Mang tính phát triển, mỗi lúc rộng hơn, sáng hơn.

  1. NHẬP ĐỀ.

Một lời nhập đề tốt.

  1. Thích thú mà không sôi động quá.

  2. Gọn gàng nhưng đừng cộc lốc.

  3. Thích hợp, nhưng đừng tầm thường, vô vị quá. Thích hợp với hoàn cảnh, cơ hội, người giảng, loại bài giảng...

  4. Nhập đề cách gần gũi, nhưng đừng quá thân mật, sỗ sàng.

  5. Sáng sủa, nhưng đừng bộc lộ hết nội dung, gợi lên suy nghĩ.

  6. Nên thường thay đổi cách nhập đề, nếu không sẽ chán.

Những loại nhập đề.

    1. Đọc một câu Kinh thánh.

    2. Đọc một khúc hoặc một đoạn Kinh thánh.

    3. Miêu tả, kể tóm tắt phần Kinh thánh.

    4. Nói về đề tài mình muốn trình bày.

    5. Nêu ra thắc mắc, những nan đề, câu hỏi, nêu lên vấn đề.

    6. Một câu nói trực tiếp về chủ định, nói thẳng chủ định.

    7. Một câu trích dẫn. (Danh ngôn, thơ...)

    8. Một câu chuyện.

    9. Một mẫu tin, một bức tranh, tư liệu trên báo...

    10. Nhân dịp Mùa, Lễ, sự kiện nào đó.

    11. Tâm lý thính giả hiện đang quan tâm.

    12. Thế sự, thời sự.

Sử dụng câu chủ đề.

      Câu chủ đề là câu tóm tắt nội dung bài giảng một cách trong sáng. Chủ đề là bài giảng cô đọng, còn bài giảng là chủ đề được giảng rộng. Có thể nêu lên câu chủ đề ở bất kỳ chỗ nào trong bài giảng khi thấy thích hợp.

      Câu chủ đề lý tưởng: Làm thành một câu đầy đủ, nên là câu xác định, mang tính tích cực, cần được nhấn mạnh nhiều lần trong bài giảng.

  1. THÂN BÀI.

  Thính giả không có thì giờ suy nghĩ hoặc ôn lại những gì vừa nghe. Điều nầy có lợi vì ta thu hút, lôi cuốn họ theo bài giảng. Nhưng nếu bài giảng nhàm chán sẽ có hại vì họ không theo dõi chăm chú. Bài viết sáng sủa một phần, bài nói phải sáng sủa gấp ba lần.

    1. Vài phương pháp lý luận.

  • Phép Tam đoạn luận: A = B, A = C, suy ra B = C.

  • Phép Quy nạp: Dùng chân lý riêng suy ra chân lý chung.

  • Phép Liên đoạn luận: A = B, B = C, C = D, suy ra A = D.

  • Phép Phản chứng: Chứng minh điều ngược lại chân lý rồi kết luận chân lý.

    1. Những điều nên tránh trong khi lý luận.

    • Chưa định nghĩa đã lý luận.

    • Định nghĩa sai rồi lý luận.

    • Lấy một trường hợp cá biệt rồi kết luận chung.

    • Lầm về nguyên nhân.

    • Lầm nguyên nhân với kết quả.

    • Lẩn quẩn. Lấy A chứng minh B, rồi lấy B chứng minh A.

    1. Vài lối hành văn.

      • Ý nào mạnh nhất đưa ra sau. Ý thường, mạnh, mạnh nhất.

    • Dùng nhiều lối văn tả cảnh, tả người, kể chuyện, thơ ca...

      • Sắp đặt khéo léo câu chuyện để thêm phần hứng thú.

      • Chuyển ý. Chuyển ý rất khó, nếu có câu chuyển thì tốt, nếu không thì ngừng một chút rồi qua ý khác, tránh chuyển vụng về.

    • Với câu gốc, nên thuộc lòng sẽ gây ấn tượng mạnh mẽ.

    • Khi trích đoạn những bài thơ, văn... nên thuôc lòng thì rất tốt, sẽ tạo sự thuyết phục.

  1. KẾT LUẬN.

1. Những cách kết luận.

    • Kêu gọi trực tiếp.

    • Ứng dụng thực tiễn.

    • Tóm tắt.

    • Đưa ra một lẽ thật tương phản.

    • Gợi trí tưởng tượng.

    • Dùng một bài thơ.

    • Kể một ví dụ.

    • Không có kết luận. Để thính giả tự kết luận, cách nầy cần có kinh nghiệm mới thành công.

    • Bằng một câu nói cuối cùng.

2. Đặc điểm của phần kết luận.

    • Phải thích hợp và ăn khớp với các phần đã giảng.

    • Phải đơn giản.

    • Phải vắn tắt. Tránh lòng vòng không có đường kết thúc.

    • Phải có tính tích cực.

    • Phải thân mật nhưng đừng thái quá.

    • Nói bằng giọng thuyết phục, chân tình, thương mến.

3. Những điều nên tránh khi kết luận.

  • Đừng cáo lỗi trong phần kết luận, sẽ gây thất vọng cho thính giả.

  • Tránh hài hước. Phải nghiêm túc vì đây là phần tác động và sâu sắc nhất.

  • Tránh la hét. Kết luận là phần lắng đọng, phải êm dịu.

  • Đừng nêu thêm ý mới.

  • Đừng xao lãng bằng các động tác: xếp Kinh thánh, xếp tài liệu, xếp bài giảng, xem đồng hồ...

  • Đừng dùng hoài một cách kết luận.

  1. SỬA SOẠN ĐỂ GIẢNG.

      Bài giảng một phút phải chuẩn bị một giờ. Cần cầu nguyện nhiệt thành và soạn bài có phương pháp. Thánh Linh chỉ hành động khi ta chuẩn bị tốt tấm lòng và bài soạn.

Bốn cách trình bày bài giảng.

    1. Không để bài giảng trước mặt, sắp xếp bài giảng trong trí.

    2. Viết bài giảng, học thuộc lòng, rồi giảng.

    3. Chép toàn bộ bài giảng rồi đọc.

    4. Để bố cục bài giảng trước mặt, rồi giảng.

Trên toà giảng.

    1. Nói cho đúng văn phạm, dễ nghe.

    2. Đọc đúng giọng, phát âm các từ ngữ chính xác.

    3. Nhấn mạnh những chỗ cần thiết.

    4. Giảng cho có nhiệt tình.

    5. Đừng nói quá mau.

    6. Nên có động tác, nhưng đừng nói và điệu bộ cùng nhịp với nhau, giống như chơi trò chơi hoặc làm hề.

    7. Đừng bối rối, uể oải, sợ sệt.

    8. Điệu bộ tự nhiên, thong thả, phong cách lịch sự.

    9. Tránh lối dạy đời, dùng lời lẽ khiêm nhường.

    10. Tránh huyênh hoang, tránh ra vẻ khiêm tốn quá đáng.

    11. Không dùng toà giảng để xỉa xói, xuyên tạc.

    12. Không giảng để tỏ ra mình tài ba.

    13. Chỉ giảng những gì mình đã từng trải.

    14. Phải nói rõ xuất xứ các chuyện, danh ngôn, tránh đạo văn, đạo ý. (lấy văn hoặc ý của người khác, rồi cho là của mình)

    15. Tránh giảng quá lâu dù bài giảng hay.

      Giảng là một hành động thờ phượng Đức Chúa Trời, bạn đang đứng giữa Chúa và con người, mọi bất cẩn, thiếu chuẩn bị đều sẽ hạn chế ơn phước Đức Chúa Trời định sẵn cho Hội thánh. Cần cầu nguyện thành tâm, đừng quá chú trọng phô trương tài năng qua bài giảng, khi vinh hiển thuộc về bạn, đó không phải là vinh hiển của thiên đàng.

      Bài giảng sống động là bài giảng bằng cuộc đời chính mình, đừng chờ đến gần ngày giảng mới soạn, hãy ấp ủ các ý tưởng, những bài học Chúa dạy trong cuộc sống hằng ngày, đó là kho tích lũy bài giảng.

 

Ms. Dương Quang Thoại

Tổng hợp tài liệu

 

 

 

* HIỆP MỘT

*  TRÁI  TIM  TÂM  LINH ...

*  PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CHẲNG THẤY MÀ TIN !

 

 

 Copyright @ 2006 codocphuclam.com All Rights Reserved. Since July-01-2006