|
|
|
Loạt bài Bồi Linh cho TUẦN LỂ CẦU NGUYỆN 2008 NHỮNG DẤU HIỆU CỦA NIỀM HY VỌNG Jan Paulsen chuyển ngữ: Trần thị Phương Mai LỜI MỞ ĐẦU Bài bồi linh năm nay nói về các dấu hiệu. Dấu hiệu được coi là quan trọng, bởi v́ Chúa Giê-su nhờ các dấu hiệu mà nhận ra chúng ta, và mỗi dấu hiệu đều mang một ư nghĩa. Chúa biết hành tŕnh của Cơ-đốc nhân c̣n dài và lắm lúc tôi tớ Chúa phải gặp khó khăn, gian khổ. Chúa dùng một số hiện tượng trong thiên nhiên, đời sống xă hội, chính trị, t́nh trạng tâm linh của con người … như là những lời khuyên cho chúng ta trong suốt cuộc hành tŕnh để nhắc nhở ta nhớ rằng ngày Chúa trở lại không c̣n lâu nữa. Nghiên cứu đến những dấu hiệu, chúng tôi muốn chia xẻ cùng các anh chị em mục đích và ư nghĩa của nó, cả những nguy hiểm liên quan, v́ chúng ta có thể thờ ơ với dấu hiệu hoặc biến dấu hiệu thành trung tâm điểm của niềm hy vọng. Chúng tôi sẽ khích lệ anh chị em tăng cường sự cảnh giác và cân nhắc khi tiếp cận với những sự kiện hiện đang xảy ra, nhờ sự soi sáng của lời tiên tri trong Kinh Thánh. Dấu hiệu liên quan đến t́nh trạng gia tăng bạo lực có thể làm xáo động sự b́nh yên nội tâm của chúng ta, nhưng những bài thảo luận sẽ t́m cách làm vững mạnh niềm tin chắc chắn nơi ân điển và sự hiện diện của Chúa bên cạnh chúng ta giữa những sự bạo ngược và nỗi khiếp sợ. Dấu hiệu cũng nêu lên t́nh trạng đạo đức suy đồi và cảnh người nghèo bị kẻ có quyền lực bóc lột, điều nầy sẽ thúc đẩy chúng ta ǵn giữ đời sống thánh khiết và dám lên tiếng để bênh vực người bị áp bức. Kế đến là những dấu hiệu đề cập đến mối de dọa của vong hồn hiện thuyết v́ những biểu hiện đa dạng của nó. Hơn bất cứ điều ǵ khác, vong hồn hiện thuyết biểu hiện sự giả mạo về sự sống lại dựa theo Kinh Thánh cho những ai tin Đức Chúa Giê-su và được dẫn dắt bởi Thánh Linh. Hội Thánh c̣n phải đương đầu với những hiểm họa từ trong giới Cơ-đốc giáo do giáo sư giả và tiên tri giả. Các dấu hiệu cảnh báo cho chúng ta về những mối nguy ấy. Đối với tất cả các dấu hiệu, dấu hiệu thật sự quan trọng chính là dấu hiệu Chúa Giê-su Tái lâm. Đó chính là tiêu điểm chính của chúng ta – Sự tái lâm vinh hiển của Chúa. Sự kiện đó và các dấu hiệu không thể tách rời khỏi trách nhiệm của người Cơ-đốc là truyền giảng tin lành cho cả thế giới. Đối với chúng ta, đó mới đúng nghĩa là toàn cầu. Người cần nghe là cả thế giới, sứ điệp rao truyền cho cả thế giới và sự trở lại của Chúa Cứu Thế cũng là sự kiện của cả thế giới. Khi các anh chị em nghe những bài bồi linh nầy, hăy để cho Thánh Linh nói với từng cá nhân anh chị em và hăy sẵn sàng làm mới lại niềm hy vọng trong ḷng anh chị em. Thân Ái trong niềm hy vọng nơi Chúa Cứu Thế. Jan Paulsen
Mục Lục:
1. GIÁO HỘI CƠ-ĐỐC PHỤC LÂM ĐỐI VỚI CÁC DẤU HIỆU CỦA THỜI ĐẠI. 2. KHI CÁC DẤU HIỆU TRỞ NÊN XƯA CŨ! 4. BÓC LỘT SỨC NGƯỜI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN. 6. SỰ LỪA DỐI CỦA CHỦ THUYẾT LINH HỒN. 7. ĐỪNG TIN VÀO NHỮNG CHIẾC ĐỒNG HỒ GIẢ. 8. TIN LÀNH CHO TOÀN THẾ GIỚI.
GIÁO HỘI CƠ-ĐỐC PHỤC LÂM ĐỐI VỚI CÁC DẤU HIỆU CỦA THỜI ĐẠI Mục sư Jan Paulsen. Hội Trưởng Toàn Cầu Tổng Hội Tại sao các dấu hiệu lại quan trọng đối với sinh hoạt của hội thánh? Hội thánh c̣n sót lại vào thời kỳ cuối cùng là một dấu hiệu! Kinh Thánh cung cấp một số các dấu hiệu mang chức năng báo trước về sự trở lại của Chúa. Chúng ta sẽ thảo luận ư nghĩa của những dấu hiệu đó. Nhưng trước hết, tôi muốn lưu ư tới một dấu hiệu mà chúng ta thường ít bàn đến. Đó là dấu hiệu chỉ rơ sự kiện mà kế hoạch của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài đă được thực hiện trong lịch sử. Sự hiện diện của hội thánh c̣n sót lại chính là dấu hiệu ấy. Điểm thứ nhất, đó là dấu hiệu đă xuất hiện trong lịch sử vào thời gian được ghi rơ trong Kinh Thánh. Lời tiên tri của Kinh Thánh mô tả sự tấn công của kẻ thù chống lại Đấng Cứu Thế (Khải Huyền 12:4, 5) và báo trước cuộc tấn công kế tiếp là chống lại hội thánh (Khải Huyền 12:13-16). Ngay từ buổi đầu của lịch sử hội thánh, hội thánh đă phải đương đầu với sự chống đối ở nhiều góc độ khác nhau. Hội thánh đă phải chịu sức ép từ xă hội, tôn giáo và pháp luật trong thời kỳ khó khăn cũng như dễ dàng, kết quả là nhiều người bất hạnh đă phải chịu chết v́ lẽ thật Kinh Thánh (Đa-ni-ên 7:25; 8:11, 12; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3, 4). Nhưng Chúa không bao giờ từ bỏ hội thánh Ngài. Ngài luôn kêu gọi hội thánh phải sửa đổi. Lời tiên tri nói rơ rằng đến phút cuối của cuộc xung đột, hội thánh c̣n sót lại sẽ được vực dậy. Điều đó sẽ xảy ra vào thời điểm chính xác. (Khải huyền 12:7). Thực hiện lời tiên tri đó giải thích cho kế hoạch của Đức Chúa Trời đă tiến triển đúng như điều Ngài đă định. Sự hiện hữu của hội thánh c̣n sót lại không phủ nhận mối quan tâm của Đức Chúa Trời đối với phần c̣n lại của giới Cơ-đốc giáo. Ngược lại, sự hiện hữu của hội thánh c̣n sót lại tỏ rơ rằng Đức Chúa Trời không hề từ bỏ giới Cơ-đốc giáo, nhưng Ngài đang t́m cách sử dụng họ để làm sáng danh Ngài, nếu như họ thật ḷng muốn. Hội thánh c̣n sót lại vào thời điểm cuối cùng là dấu hiệu của hy vọng dành cho Cơ-đốc giáo và cho cả giới không tin Chúa Giê-su. Điểm thứ hai, hội thánh c̣n sót lại là một dấu hiệu mà qua đó nó có thể được nhận diện. Để cho một dấu hiệu trở nên hữu ích và có thể thực hiện được mục đích của ḿnh th́ dấu hiệu ấy phải được nh́n thấy, (ví dụ như nạn đói, động đất, chiến tranh …) Những nét đặc trưng của hội thánh c̣n sót lại dễ dàng được nhận thấy v́ đó là nơi Đức Chúa Trời đang thực hiện công việc đặc biệt v́ lợi ích cho sự yên nghỉ của dân sự Chúa ở khắp nơi trên thế giới. Họ giữ điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Đức Chúa Giê-su Christ. (Khải huyền 12:17), họ có ḷng tin nơi Chúa Giê-su và có sự nhịn nhục của các thánh đồ (Khải–huyền 14:12). Họ không thể giấu kín điều nầy, cũng không thể bỏ qua. Rất dễ dàng nhận ra họ và v́ thế họ trở thành dấu hiệu sống động cho công việc Chúa trên thế gian nầy. Điểm thứ ba, hội thánh c̣n sót lại trong thời kỳ cuối cùng là một dấu hiệu mà qua đó nó chỉ rơ một thực tế c̣n quan trọng hơn cả chính nó. Hội thánh c̣n sót lại chỉ cho thấy chương tŕnh cứu rỗi của Đấng Cứu Thế hoàn thành ngay vào thời điểm Chúa Giê-su tái lâm, để được vậy hội thánh phải thực hiện xong sứ mạng của ḿnh. Đó cũng là mục đích để hội thánh c̣n sót lại hữu h́nh. Hội thánh c̣n sót lại có một sứ mạng đặc biệt đối với thế giới. (Khải huyền 14:6-12). Bởi vậy nó là dấu hiệu thuộc về hiện tại và có thể sử dụng trên toàn thế giới. Về một ư nghĩa nào đó, sự hiện diện của hội thánh c̣n sót lại trên khắp toàn cầu giúp cho người ta dễ nhận biết chức năng của hội thánh là một dấu hiệu. Khi chúng ta càng đến gần ngày Chúa trở lại, th́ lại càng cần cho thế giới biết điều đó, cần cho mọi người ở khắp các nước, các dân tộc hiểu được ư nghĩa cũng như chuẩn bị cho ngày nầy. Hội thánh c̣n sót lại trong thời kỳ cuối cùng là dấu hiệu của sự phục vụ yêu thương của Chúa dành cho mọi người thông qua hội thánh. Ư nghĩa của các dấu hiệu. Nhiều dấu hiệu báo về ngày tái lâm của Chúa đă từng và sẽ luôn luôn là quan trọng trong các sinh hoạt của hội thánh. Dĩ nhiên là tôi động viên anh chị em tín hữu hăy tiếp tục theo dơi các biến cố đang diễn ra chung quanh chúng ta và nh́n thấy trong các sự kiện ấy cũng có sự hiện diện của Đức Chúa Trời đang nhắc nhở chúng ta về niềm hy vọng phước hạnh. Các dấu hiệu vẫn c̣n giữ lại những điều thích đáng cho chúng ta bằng nhiều cách. Điều đầu tiên, hội thánh giúp chúng ta tập trung sự chú ư vào niềm hy vọng. Hy vọng có thể lụi tàn. Có thể điều ta hy vọng không c̣n thích hợp nữa và mất hết ư nghĩa. Châm ngôn 13:12 nói với chúng ta rằng: “Sự trông cậy (tức: hy vọng) bị tŕ hoăn khiến ḷng dạ đau đớn…” Đức Chúa Giê-su không muốn chúng ta lăng quên lời Ngài đă hứa, Ngài không muốn chúng ta mất niềm hy vọng mà Ngài đă in sâu vào ḷng ta. Các dấu hiệu không chỉ giúp chúng ta giữ cho niềm hy vọng sống măi mà c̣n muốn nói với chúng ta rằng Chúa vẫn giữ lời hứa của Ngài, Ngài không bao giờ quên chúng ta. Các dấu hiệu vẫn xuất hiện trong suốt giai đoạn lịch sử, thời điểm từ khi Chúa thăng thiên đến lúc Chúa trở lại (Ma-thi-ơ 24:6-14). Đôi khi, các dấu hiệu được thực hiện, nhắc những người tin Chúa nhớ đến lời hứa về sự chết và sống lại của Chúa “Ta sẽ trở lại” điều nầy góp phần giữ cho niềm hy vọng của chúng ta sống động. Chúa biết sống hy vọng là quan trọng như thế nào đối với những tôi tớ Ngài đang ở trong một thế giới đầy tội lỗi, đau khổ và chết chóc. Đi kèm với lời hứa về việc Chúa trở lại là những dấu hiệu nhằm giúp chúng ta giữ niềm hy vọng của chúng ta sống măi. Điều thứ hai, các dấu hiệu giữ điều quan trọng trong ṿng cộng đồng những người tin Chúa đó là sự trông chờ đầy hy vọng. Các dấu hiệu cảnh báo chúng ta rằng Chúa có thể trở lại sớm hơn chúng ta dự tính, thậm chí là có thể ngay trong khoảng thời gian chúng ta c̣n đang sống đây. Mỗi thế hệ đều thừa hưởng khả năng của thế hệ đi trước. Do đó, chúng ta sống trong sự mong đợi. Chúng ta tin chắc rằng Chúa đang ở rất gần. Chúa Giê-su phán về cây vả rằng: “32 Hăy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, th́ các ngươi biết mùa hạ gần tới. 33 Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đang ở trước cửa.” (Ma-thi-ơ 24: 32,33) Cuộc sống luôn trông đợi là một cuộc sống luôn hướng đến tương lai. Một cuộc sống không lo sợ, bởi v́ cuộc sống ấy chỉ mong chờ điều tốt đẹp, ấy là thực hiện niềm hy vọng của Cơ-đốc nhân. Điều thứ ba, các dấu hiệu động viên chúng ta hoàn thành sứ mạng. Các dấu hiệu ấy trở thành động lực thúc đẩy chúng ta phục vụ Chúa, là Đấng chúng ta biết chắc sắp đến. Chúng ta chia xẻ niềm hy vọng nầy v́ chúng ta tin rằng điều nầy có liên quan đến mọi người đang sống trong thế kỷ 21. Chúng ta hướng về Đấng Cứu Thế là nguồn của niềm hy vọng, nhưng đồng thời chúng ta cũng cho mọi người biết các dấu hiệu Chúa trở lại để động viên người khác hy vọng. Có thể sự giải thích các dấu hiệu không xác định chính xác thời khắc đặc biệt lúc Chúa trở lại. Tuy nhiên đó không phải là mục đích chúng ta muốn t́m. Các dấu hiệu có mối liên kết đặc biệt với sứ mạng của hội thánh. Chúng có mặt xuyên suốt trong lịch sử Cơ-đốc giáo, vận hành song song với việc thi hành sứ mạng của hội thánh khoảng giữa thời gian lúc Chúa thăng thiên đến ngày Chúa trở lại. Chúa Giê-su mô tả mối quan hệ chặt chẽ giữa hai sự kiện: “Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan mà người chủ đặt cai trị đầy tớ ḿnh, đặng cho đồ ăn đúng giờ? Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy!”(Ma-thi-ơ 24:45, 46). Có sự hiểu biết đúng đắn về các dấu hiệu sẽ góp phần giữ cho hội thánh định hướng sứ mạng của ḿnh. Đây là điều phải chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại dành cho những người tin Chúa. Họ chuẩn bị sẵn sàng khi Chúa đến nếu như Ngài thấy họ hoàn tất công việc đă giao cho. (câu 46). Lời Cảnh Báo Mối quan tâm của chúng ta vào các dấu hiệu Chúa tái lâm phải là những mối quan tâm đúng đắn dựa trên các thông tin rơ ràng của Kinh Thánh. Việc nghiên cứu các lời tiên tri trong Kinh Thánh phải làm cho chúng ta càng hy vọng nhiều hơn và làm vững lời giao ước giữa chúng ta với Chúa là Đấng đă hy sinh để cứu chúng ta. Nếu kết quả của việc nghiên cứu là sợ hăi, dao động và có thành kiến chống lại người khác, th́ như vậy đă có điều ǵ bất ổn trong cách chúng ta t́m hiểu các dấu hiệu Chúa Tái Lâm. Chúng ta phải trở thành những Cơ-đốc nhân tốt hơn khi chúng ta t́m hiểu kế hoạch của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài vào giai đoạn kết thúc cuộc xung đột mang tính toàn cầu. Chúng ta nên thận trọng không tự biện luận điều ǵ mà chúng ta không biết. Việc thừa nhận ḿnh không biết tất cả các chi tiết những ǵ sẽ xảy ra khi chúng ta càng đến gần ngày cuối cùng là điều đúng. Nếu không th́ chúng ta sẽ bị cám dỗ t́m đọc các biến cố về tôn giáo hoặc về xă hội đương thời mà các dấu hiệu th́ không có ở đó. Điều nầy tạo ra sự kích thích sẽ gây tổn hại đến đời sống cân bằng thích đáng của người Cơ-đốc. Chúng ta nên nói một cách chắc chắn về những ǵ được viết rơ ràng trong Kinh Thánh và cố gắng không chia xẻ những điều nghiên cứu của riêng chúng ta như thể đó là những lời khải thị thiêng liêng. Chúng ta hăy bảo vệ niềm hy vọng của chúng ta khỏi sự tổn hại như thế, bằng cách giữ trọn ḷng trung thành đối với những ǵ chúng ta thực sự hiểu biết và tuyên báo với cương vị là hội thánh. Ngoài ra chúng ta nên cố ḱm giữ sự ham muốn tranh luận về những ǵ chúng ta không biết. C̣n một mối nguy hiểm khác – Đó là bỏ qua những dấu hiệu, coi điều đó như chẳng liên quan ǵ đến ḿnh. Thái độ như thế bộc lộ sự thờ ơ đối với niềm hy vọng Cơ-đốc. Có người cho rằng: Hy vọng đang chết dần trong ḷng những người tin Chúa. Sự mong đợi chẳng bao lâu nữa sẽ chết và sự quan tâm đặc biệt đối với sứ mạng của hội thánh cũng sẽ chết. Không quan tâm đến các dấu hiệu Chúa tái lâm sẽ là một bi kịch nghiêm trọng cho toàn hội thánh và cho từng cá nhân. Không có hy vọng, hội thánh sẽ không c̣n là hội thánh như thường được nhắc đến. Qua các dấu hiệu, niềm hy vọng của hội thánh chẳng bao lâu sẽ được nhận ra. “Tôi kêu gọi các tín hữu trong hội thánh đừng coi thường sự tỏ bày của các dấu hiệu qua các thời đại. Dấu hiệu nói rất rơ rằng ngày cuối cùng sắp đến gần.” E. G. White – December 1, 1904. Chúng ta phải làm tất cả những ǵ có thể để tránh những mối nguy đó. Quá lo lắng về các dấu hiệu cũng tệ như thờ ơ với nó. Có lẽ cách tốt nhất để tránh các mối nguy hiểm là thấm nhuần lời Kinh Thánh về sự hy vọng mà Chúa đă trao cho dân sự c̣n sót lại của Ngài và hăy để cho niềm hy vọng ấy khuôn đúc toàn bộ cách sống chúng ta bằng t́nh yêu và sự phục vụ người khác. Thế nên, hăy cẩn trọng khi chúng ta chờ đợi ngày Chúa tái lâm. Các dấu hiệu nói cho chúng ta biết rằng “Ngài đang đứng trước cửa.” KHI CÁC DẤU HIỆU TRỞ NÊN XƯA CŨ! Sống trong sự mong đợi Chúa trở lại. Mục sư Jon Paulien, Giám thị khoa Tôn Giáo thuộc đại học đường Loma Linda. Vào ngày 16 tháng 11 năm 1966, các nhà khoa học tiên đoán sẽ có một cơn mưa sao băng lớn xảy ra. Carlos và tôi cùng các sinh viên của trường hy vọng được chứng kiến cảnh lặp lại của cơn mưa sao băng đă diễn ra vào năm 1833, biến cố đă từng thúc đẩy nhiều người đoán rằng Chúa Giê-su sắp trở lại. Nhưng đêm hôm đó bầu trời thật ảm đạm. Không thấy ǵ cả, không một v́ sao, lại càng không có sao băng. Chúng tôi đă lấy xe của ba mẹ chúng tôi chạy ngược về New Jersey, t́m kiếm một mảng trời trong sáng, nhưng vô ích. Cơn mưa sao băng năm 1966 đă xảy ra như dự đoán, cũng nhiều như cơn mưa sao băng năm 1833, nhưng người ta chỉ có thể thấy được từ trên máy bay và ở một vài nơi thuộc miền Tây Hoa kỳ. Cả hai cơn mưa sao băng đều liên quan đến mảnh vỡ c̣n sót lại của sao chổi Temple-Tuttle (Tem-bơ Tút-tô), ngôi sao đă đi theo ṿng quỹ đạo 33 năm một lần quay quanh mặt trời. Một vài mảnh vỡ của hành tinh đă gia tăng và rơi xuống vào mỗi tháng 11, dường như chúng bắt nguồn từ cḥm sao Sư tử (Leo). Carlos và tôi cố nắm bắt lại vài điều về tinh thần của các nhà tiên phong Cơ-đốc phục lâm. Trận động đất lớn tại Lisbon – Bồ Đào Nha năm 1755; Ngày bầu trời trở nên tối tăm tại một vài bang ở Hoa kỳ năm 1780; và trận mưa sao băng vĩ đại Leonid năm 1833, tất cả các biến cố nầy dường như xác nhận cho lời Kinh Thánh trong Khải-huyền 6:12, 13: “12 Tôi nh́n xem, khi Chiên Con mở ấn thứ sáu, th́ có một cơn động đất lớn; mặt trời bèn trở nên tối tăm như túi lông đen, cả mặt trăng trở nên như huyết. 13 Các v́ sao trên trời sa xuống đất, như những trái xanh của một cây vả bị cơn gió lớn lung lay rụng xuống.” Trận mưa sao băng năm 1833 đưa tổ tiên chúng tôi quay lại với Kinh Thánh, t́m hiểu kỹ hơn ư nghĩa về sự trở lại của Đức Chúa Giê-su. Những dấu hiệu nầy dường như xác nhận rằng Chúa Giê-su sẽ tái lâm vào thời của họ. Nhưng rồi thế kỷ 19 trôi qua, các dấu hiệu dần dần xưa đi. Đến năm 1966 các dấu hiệu nầy thật sự là đă xưa rồi. Chúng ta sẽ làm ǵ khi các dấu hiệu trở nên xưa cũ? Dấu hiệu của thời đại. Một điều chúng ta có thể làm là tự nhắc nhở chính ḿnh rằng: “Các dấu hiệu” ở trên trời và dưới đất luôn ở bên chúng ta. Khi chúng ta xem kỹ Tân Ước, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều biến cố trên thế giới mà những người tin Chúa cho là dấu hiệu thời kỳ cuối cùng, thật ra chỉ là dấu hiệu của thời đại. Chúng chỉ cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su biết trước đặc điểm của mọi thời đại. Ngài sẽ không sơ xuất về biến cố xảy ra, để người khác lầm tưởng ngày cuối cùng đă đến. Khi các môn đồ hỏi Chúa về dấu hiệu Chúa tái lâm và ngày tận thế Ngài trả lời: “Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hăy giữ ḿnh, đừng bối rối, v́ những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu.” (Ma-thi-ơ 24:3, 6) Chiến tranh và những tin đồn không phải là điềm báo về ngày tận thế, chúng là một phần trong cuộc sống phải như thế trước khi tận thế. Chúa Giê-su phán tiếp: “7Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất. 8 Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại.” (câu 7, 8) Đối với Chúa, chiến tranh, đói kém và động đất không phải là dấu hiệu của ngày tận thế – Chúng chỉ là những dấu hiệu khởi đầu! Các môn đồ hỏi về dấu hiệu ngày tận thế; Chúa Giê-su cho họ biết những dấu hiệu của thời đại. Trong sách Lu-ca thậm chí Chúa c̣n nói thêm “có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời.” (Lu-ca 21:11) là những dấu của thời đại. Những điều nầy không phải nói ra nhằm kích thích sự suy đoán về thời gian ngày tận thế. Thay vào đó, các dấu hiệu muốn nhắc nhở chúng ta phải cẩn trọng và tỉnh thức đối với ngày tận thế. Nếu chiến tranh, động đất, và đói kém là các dấu hiệu của thời đại , th́ chúng ta sẽ không ngạc nhiên đối với những ǵ mà người ta vốn vẫn thường quen gọi là “dấu hiệu tận thế” nhưng đă từng xảy ra từ thế kỷ đầu tiên. Trong khi ḥa b́nh được xem là tiêu biểu cho xứ Palestin vào năm 31 sau Công Nguyên, nhưng “giặc và tiếng đồn về giặc” đă diễn ra trong suốt những năm 60. Đă có đói kém (Công vụ các sứ đồ 11:28), động đất (tại Lao-đi-xê vào năm 60 sau Công Nguyên; tại Pôm-pê-i năm 63; tại Giê-ru-sa-lem năm 64 và tại La-mă năm 68) và các dấu hiệu xảy ra ở trên trời (xem Thiện Ác Đấu Tranh trang 29 – bản Anh ngữ) Ngay như Phao-lô, ông cũng đă rao báo về Tin Lành đă đến thế gian vào thời ông đang sống (Cô-lô-se 1:23; Rô-ma 1:8; 16:26). V́ thế, không lấy ǵ làm lạ khi các sứ đồ tin rằng họ đang sống trong những ngày cuối cùng. (Công vụ 2:14-21; Hê-bơ-rơ 1:2; I Phi-e-rơ 1:20; I Giăng 2:18). V́ thế, theo như lời Kinh Thánh, chúng ta không có ǵ phải ngạc nhiên đối với những dấu hiệu đă trở nên xưa cũ. Các dấu hiệu không phải ban cho để làm thỏa măn tính ṭ ṃ của chúng ta muốn biết chính xác thời giờ Chúa tái lâm, nhưng để khuyến khích chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh và sống đời trung tín. Những biến cố đă xảy ra từ năm 1755 đến 1833 khiến cho các nhà tiền xu Cơ-đốc phục lâm nhận ra là chúng ta đang bước vào giai đoạn cuối cùng và quan trọng của lịch sử địa cầu. Các sinh viên Cơ-đốc Phục-lâm nghiên cứu sách Đa-ni-ên và Khải-huyền đă phát hiện được thời gian mà chúng ta gọi là “Những ngày sau rốt” thật ra nó bắt đầu vào thời Tân Ước. C̣n “tận thế” là hiện tượng gần đây xảy ra nhiều hơn. Thông qua các lời tiên tri của Đa-ni-ên và Khải-huyền, hiện nay chúng ta đang sống trong thời kỳ cuối cùng. Trong khi chúng ta không thể biết chắc rằng đây là thế hệ cuối, nhưng chúng ta chắc biết mọi điều có thể kết thúc trong phút chốc. Và v́ lẽ đó chúng ta hăy tập trung vào một điều quan trọng nhất. Hăy giữ một đức tin sống động! Điều thật sự quan trọng là chuẩn bị gặp Chúa Giê-su khi Ngài trở lại. Đây là điều giữ cho đức tin chúng ta luôn sống động, khi các dấu hiệu trở nên xưa cũ. Dưới đây là câu Kinh Thánh minh họa. “Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gơ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, th́ ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.” (Khải-huyền 3:20) Bi kịch của những người bị bỏ lại vào ngày cuối cùng không phải là v́ thiếu kém khả năng thần học hay thiếu sự làm việc lành; mà thật ra là v́ không biết Chúa. Chúa Giê-su xót xa khi phán: “Ta chẳng biết các ngươi bao giờ!” (Ma-thi-ơ 7:21-23; 25:12) Cao điểm của ngày tận thế không phải là cuộc chiến tại trũng Ha-ma-ghê-đôn, nhưng là “sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ.” (Tít 2:13). Tận thế là nói đến Chúa Giê-su hơn là về những biến cố hay ư tưởng. Bà Ellen White tán đồng việc nhận biết Chúa Giê-su là yếu tố then chốt để mạnh mẽ đến gần ngày cuối cùng: “Thời gian ngắn ngủi là động lực thôi thúc chúng ta t́m kiếm sự công b́nh và kết bạn cùng Đấng Cơ-đốc. Tuy nhiên, đây không là động lực chính đáng. Nó phảng phất sự ích kỷ. V́ sợ hăi sự khủng khiếp của ngày Chúa đến sẽ diễn ra mà chúng ta ép ḿnh làm điều đúng đắn, có cần thiết phải làm như thế chăng? Điều nầy không nên. Chính Chúa Giê-su thu hút chúng ta … Chính Ngài đề nghị trở thành bạn của chúng ta, cùng bước đi với chúng ta vượt qua mọi nẻo đường đời trắc trở … Chúa Giê-su, là Thượng Đế đề nghị nâng cao t́nh bằng hữu của Ngài cùng với những ai yếu đuối, mang gánh nặng và lo lắng t́m đến bên Ngài.” (The Advent Review and Sabbath Herald, August 2, 1881) Thật là một mối quan hệ tốt đẹp, b́nh dị, hướng đến Chúa Giê-su trong sự mong đợi một cách tốt lành về ngày cuối cùng! Đó là từng ngày bước đi, từng ngày trong mối quan hệ bằng hữu chuẩn bị cho niềm hy vọng sống đời đời cùng với Con Người ấy! Khoảng 15 năm trước tôi đến dạy tại trường Helderberg ở Nam Phi. Lần đầu tiên, tôi sống xa nhà hơn một tháng trời. Đối với tôi, điều nầy thật không dễ dàng chút nào. Nhưng khi thời gian xa nhau ngày càng dài, liệu tôi có bắt đầu quên vợ ḿnh không? Tôi có mệt mỏi chờ đợi không? Tôi có bắt đầu xếp đặt trong trí những hẹn ḥ cho ngày trở về của ḿnh không? Không! Tôi dành một tháng xa nhà để nghĩ đến vợ ḿnh nhiều hơn trước đây. Thực tế là, tôi chưa bao giờ cảm thấy cô ấy ngọt ngào hơn, xinh đẹp hơn là trong suốt thời gian không gặp nhau. Thời gian càng trôi đi, tôi lại càng nôn nóng mong đợi ngày được đoàn tụ. Tôi ngẫm đi ngẫm lại trong trí nhớ, mối quan hệ của chúng tôi và ḷng mong mỏi gặp lại cô ấy càng lớn dần lên. Đối với sự trở lại của Chúa Giê-su cũng vậy. Ngài xứng đáng để chúng ta dành mọi thời gian và năng lực có thể có được để t́m hiểu về Ngài. Ngài xứng đáng đi cùng với chúng ta vượt qua mọi điều khó khăn trong thời kỳ cuối cùng. Ngài xứng đáng để chúng ta mỗi ngày ít nhất dành ra “một giờ trầm tư”, để ôn lại bản tánh tốt đẹp của Ngài trong tâm trí chúng ta. Khi mối quan hệ giữa chúng ta với Chúa được phục hồi, mong ước được ở bên Chúa càng tăng lên. Mọi biến cố trên thế gian hay ở trên trời đều kêu gọi chúng ta, bước đi càng khắng khít hơn với Ngài. Và khi anh chị em thực sự nhận biết Chúa Giê-su, các dấu hiệu không bao giờ là xưa, là cũ. THỜI BUỔI NGUY HIỂM Làm thế nào để sống b́nh yên giữa cảnh bạo loạn? Mục sư Israel Bamidele Olaore đại học đường Babcock Nigeria, miền Tây châu Phi. Cách đây sáu năm, vợ tôi và tôi đă bị bọn cướp có vũ trang tấn công trên đường cao tốc. Chúng lấy hết những vật quư giá nhưng Chúa đă giữ lại mạng sống chúng tôi. Gần đây nhất, bọn cướp có súng đă tràn vào sân trường đại học Babcook ở Nigêria để ẩn nấp sau một vụ cướp nhà băng. Tôi cảm nhận được sự hiện diện của Chúa thật mănh liệt, khi bọn chúng cố bắn một trong những nhân viên bảo vệ của trường bằng khẩu AK–47. Tên cầm súng bóp c̣, nhưng súng không nổ. Vậy mà khi hắn bắn chỉ thiên (bắn lên trời) th́ súng lại nổ. Bọn cướp lấy đi một ít tiền nhưng không có ai bị thương. Dưới ảnh hưởng của các thế lực hung ác, bạo lực sẽ gia tăng vào thời điểm gần đến ngày Chúa trở lại. Các hành động vô nhân đạo sẽ gia tăng. Làm thế nào để chúng ta đương đầu với t́nh trạng rối loạn đôi lúc xảy đến với chúng ta? Chúng ta sẽ chạy đến đâu khi thân thể bị xâm hại hoặc bị hành hạ về mặt tinh thần? Bằng cách nào Chúa nắm giữ được t́nh thế rối loạn? Có một dịp Chúa Giê-su đang ở trên thuyền cùng các môn đồ. (Mác 4:35-41). Đấng Cứu Thế nhanh chóng ngủ thiếp đi giữa lúc một cơn băo lớn đang ập đến. Các môn đồ lo tát nước ra khỏi thuyền, ḷng tự hỏi không biết Thầy ḿnh đang ở đâu? “Th́nh ĺnh, tia chớp xuyên thũng màn đêm, họ nh́n thấy Chúa Giê-su đang nằm ngủ, cảnh hỗn loạn không hề khuấy động Ngài. Trong tâm trạng ngạc nhiên lẫn tuyệt vọng, họ kêu lên ‘Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao?’ Sao Chúa lại có thể b́nh yên ngủ say trong khi họ đang ở trong sự nguy khốn và vật lộn với cái chết?” (The Desire of Ages, trang 334). Đôi khi chính chúng ta cũng cảm thấy giống như vậy, dường như Chúa từ bỏ chúng ta và chúng ta hoàn toàn đơn độc giữa “cơn băo”. Điều ǵ có thể khiến cho Chúa có thể ngủ giữa cơn băo? Câu trả lời nằm trong sự tin chắc vào sức mạnh của Lời Ngài phán. “35 Đến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hăy qua bờ bên kia.” (Mác 4:35) Đó là những lời có đủ thẩm quyền để cho Ngài ngủ. Bất cứ khi nào Đấng Tạo Hóa phán, các sự kiện xảy ra y như lời, “6 Các từng trời được làm nên bởi lời Đức Giê-hô-va, cả cơ binh trời bởi hơi thở của miệng Ngài mà có ... 9 V́ Ngài phán, th́ việc liền có; Ngài biểu, th́ vật bèn đứng vững bền.” (Thi-thiên 33:6, 9) “ Đức Chúa Trời chẳng phải là người để nói dối, cũng chẳng phải là con loài người đặng hối cải. Điều Ngài đă nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Điều Ngài đă phán, Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao?” (Dân số kư 23:19) Khắp nơi trên thế giới, bạo lực xảy ra qua nhiều h́nh thức khác nhau trong xă hội. Các cuộc xung đột giữa những bộ tộc dẫn đến cái chết và thương tật nặng nề, chiến tranh giữa các phe phái, hay tôn giáo đang gia tăng từng ngày. Bọn khủng bố tấn công vào những thường dân vô tội, cùng với những cuộc chiến chống bắt cóc trẻ em và những người thân yêu khác để đổi lấy tiền chuộc thường xảy ra ở nhiều quốc gia đang khai thác dầu mỏ. Bà Ellen White mô tả chính xác thời đại của chúng ta: “Mọi việc trên thế giới ở trong t́nh trạng rối ren. Các dấu hiệu của thời đại thật đáng ngại. Các sự kiện sắp đến c̣n hơn những tối tăm trước đó. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang lui dần ra khỏi địa cầu nầy. Tai họa tiếp nối tai họa trên đất liền và biển cả. Có giông băo, động đất, hỏa hoạn, lũ lụt, giết người ở mọi cấp độ. Ai có thể đoán được tương lai? Nơi nào là an toàn? Không có ǵ là chắc chắn, bảo đảm nơi trần thế hay ở con người!” (The Desire of Ages, trang 636). Sức Mạnh Của Lời Nói. Nơi đầu tiên cần hướng đến để có sức mạnh trong thời buổi rối loạn nầy là năng lực từ Lời Chúa. Trong Kinh Thánh, Đức Chúa Trời nói ǵ về việc đang được bàn đến? Lời Chúa tác động thế nào đối với những người khác? Tôi đặt niềm tin vào Lời Chúa. V́ Lời Chúa có hiệu quả đối với Chúa Giê-su và các môn đồ, th́ cũng sẽ có hiệu quả đối với tôi. “10 Đừng sợ, v́ Ta ở với ngươi; chớ kinh khiếp, v́ Ta là Đức Chúa Trời ngươi! Ta sẽ bổ sức cho ngươi; phải, Ta sẽ giúp đỡ ngươi, lấy tay hữu công b́nh Ta mà nâng đỡ ngươi.” (Ê-sai 41:10) Tất cả mọi rắc rối chúng ta đối phó ngày nay Chúa có đủ khả năng can thiệp và giải quyết. Chúng ta nên áp dụng sứ điệp của tiên tri Ê-sai trong mọi t́nh huống chúng ta có thể phải đương đầu trong tương lai, đặc biệt là khi bạo lực gia tăng trên thế giới. Lời Ngài bảo đảm với chúng ta: “Đừng sợ, v́ Ta ở với ngươi…” Xưa kia, Sa-tan đến cám dỗ Chúa, nó đă bảo Ngài lao ḿnh từ trên nóc đền thờ xuống, rồi nói rằng thiên sứ của Đức Chúa Trời sẽ giải cứu Ngài khỏi cái chết khốc liệt. Nhưng Chúa Giê-su nhắc cho quỷ dữ nhớ đến Lời Chúa phán trước những việc như thế: “Ngươi đừng thử Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi.” (Lu-ca 4:12) Tin vào Lời Chúa là một thói quen tốt, nhưng ngạo mạn là tội lỗi. Sau đó vào ngày Sa-bát Chúa Giê-su đi đến nhà hội tại Na-xa-rét để thờ phượng Đức Chúa Trời. Cầm trên tay sách tiên tri Ê-sai, Chúa Giê-su đă đọc Ê-sai 61:1, 2 – đoạn Kinh Thánh liên quan đến vai tṛ cứu thế của Ngài. Mọi người vô cùng giận dữ trước sự giải nghĩa Kinh Thánh của Chúa Giê-su và quyết định giết Ngài bằng cách ném Ngài xuống một vách đá bên bờ thành. Nhưng thiên sứ đă can thiệp vào, Chúa Giê-su đi qua giữa đám đông và lên đường đến một nơi khác. Lời nói đến từ Đức Chúa Trời đem lại niềm tin cho Chúa Giê-su trong cuộc chạm trán đó cũng là lời mà Sa-tan đă trích dẫn khi nó đem Ngài lên nóc đền thờ. “11V́ Ngài sẽ ban lệnh cho thiên sứ Ngài, bảo ǵn giữ ngươi trong các đường lối ngươi. 12Thiên sứ sẽ nâng ngươi trên bàn tay ḿnh, e chân ngươi vấp nhằm ḥn đá chăng.” (Thi-thiên 91:11, 12). Lời Chúa có hiệu quả đúng lúc trong mọi hoàn cảnh. Mặc dầu sự can thiệp của Đức Chúa Trời có thể dường như hơi chậm chạp, chúng ta phải biết chờ đợi. “3 V́ sự hiện thấy c̣n phải ứng nghiệm trong kỳ nhứt định, sau cùng nó sẽ kíp đến, không phỉnh dối đâu; nếu nó chậm trễ, ngươi hăy đợi; bởi nó chắc sẽ đến, không chậm trễ.” (Ha-ba-cúc 2:3) Hiện nay anh chị em có đang sống trong vùng xảy ra chiến tranh không? Chính Đức Chúa Trời đă hứa Ngài là hầm tránh bom cho anh chị em và cho mọi thành viên trong gia đ́nh. “1 Người nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí Cao, sẽ được hằng ở dưới bóng của Đấng Toàn Năng. 2 Tôi nói về Đức Giê-hô-va rằng: Ngài là nơi nương náu tôi, và là đồn lũy tôi; cũng là Đức Chúa Trời tôi, tôi tin cậy nơi Ngài.” (Thi-thiên 91:1, 2) Kinh Thánh nói ǵ khi bạn phát hiện ḿnh đang bị bọn cướp có vũ trang tấn công, như tôi đă bị vài lần? “11 V́ Ngài sẽ ban lệnh cho thiên sứ Ngài, bảo ǵn giữ ngươi trong các đường lối ngươi.” (Thi-thiên 91:11) Thi-thiên 91 là quà tặng Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, là con cái Ngài, khi chúng ta đối phó với bạo lực và rắc rối trên đất nầy. Anh chị em có phải đối diện với một người chồng nóng giận, người vợ hung dữ, cha mẹ hay nổi nóng hoặc một người chủ khắc nghiệt là người hành hạ, đánh đập hay đe dọa anh chị em nhiều lần không? Đây là lời hứa Đức Chúa Trời dành cho anh chị em: “1 Bây giờ, hỡi Gia-cốp! Đức Giê-hô-va là Đấng đă dựng nên ngươi, hỡi Y-sơ-ra-ên! Ngài là Đấng đă tạo thành ngươi, phán như vầy: Đừng sợ, v́ ta đă chuộc ngươi. Ta đă lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta. 2 Khi ngươi vượt qua các ḍng nước, ta sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi.” (Ê-sai 43:1, 2) Mặc dầu không thể thay đổi hoàn cảnh, Đức Chúa Trời hứa Ngài sẽ hiện diện bên chúng ta lúc nguy khốn. Hăy hỏi xem Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô là những người đă giữ theo những lời nầy bởi ḷng trung thành với Đức Chúa Trời và không vâng theo mệnh lệnh quỳ lạy tượng bằng vàng của vua Nê-bu-cát-nết-sa. Tôi tin tuyệt đối nơi quyền năng và sự hiện diện của Thượng Đế. Ngài là Giê-hô-va Sam-ma nghĩa là “Đức Chúa Trời hiện diện” (trong Ê-xê-chi-ên 48:35 ghi là “Đức Giê-hô-va ở đó!”) Khi tôi nhớ đến những điều lớn lao Ngài đă làm cho tôi trong quá khứ, tôi chọn tin theo sự dẫn dắt của Ngài trong tương lai v́ đó sẽ là điều tốt lành cho tôi và cho danh vinh hiển của Ngài. BÓC LỘT SỨC NGƯỜI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Thời cơ để truyền giáo! Rudi Maier, sinh tại Đức, đang truyền giáo tại Pakistan và Sri Lanka. Từ năm 1988 cộng tác với Đại học Andrew Hoa kỳ. Trong khoảng 40 năm trở lại đây, những trở ngại về mặt văn hóa và địa lư đă được khắc phục. Tôi nhớ rất rơ năm 1969, khi tôi nghe tiếng nói của Neil Armstrong từ mặt trăng truyền về. Đó là lần đầu tiên chúng tôi được nh́n thấy những ảnh chụp đầy đủ về hành tinh của chúng ta – trái đất. Sự kiện nầy dẫn đến việc tạo ra một thuật ngữ mới – làng thế giới (global village). Kể từ lúc đó thế giới hoàn toàn xích lại gần nhau và quan hệ kết nối diễn ra ngay lập tức thông qua sự phát triển của Internet. Là những người tin Chúa chúng ta phải tự hỏi chính ḿnh: Vai tṛ của chúng ta trong thế giới thay đổi nhanh chóng nầy là ǵ? Làm thế nào chúng ta có thể tận dụng những thay đổi nhanh chóng nầy cho sứ mạng của hội thánh? V́ một vài lư do, việc toàn cầu hóa là một phần bản chất của sứ mạng mà hội thánh đang nhận lănh. Chúng ta tin rằng cuộc xung đột trong vũ trụ mang tính toàn cầu, v́ là luận đề về tội lỗi. Chúng ta khẳng định rằng Chúa Giê-su chết cho mọi người trong thế giới nầy. Ngài là lời giải mang tính toàn cầu cho bài toán tội lỗi. Chúng ta tin chắc rằng sứ mạng của chúng ta cũng mang tính toàn cầu, bởi v́ sứ mạng ấy phải được đem đến cho mọi nước, mọi dân tộc, mọi tiếng. (Khải-huyền 14:6). Thế lực của điều ác có xu hướng mang tính toàn cầu chống lại Chúa Giê-su và dân sự Ngài, nhưng chúng sẽ bị đánh bại bởi Chiên Con. (Khải-huyền 17:14) Toàn cầu hóa có ư nghĩa quan trọng như thế nào? Toàn cầu hóa có hai khía cạnh: tích cực và tiêu cực. Sự di dân trên thế giới: Toàn cầu hóa dẫn đến việc mở cửa biên giới các nước. Trong 25 năm qua trọng điểm sứ mạng của giáo hội chú ư vào những người sống ở giữa khu vực 10 độ và 40 độ phía Bắc của đường xích đạo (10/40 window), từ bờ biển Tây châu Phi kéo dài đến ranh giới phía Đông châu Á – bởi v́ tin lành chưa đến với nhiều người sống trong khu vực nầy của thế giới. Kết quả của việc di dân là hàng triệu người từ khu vực nầy đă dời sang châu Âu và Hoa kỳ cư trú. Ngày nay có sáu triệu người Hồi giáo sinh sống tại Hoa kỳ, hơn một triệu người Hồi giáo sống tại Anh Quốc, cộng thêm 3,4 triệu người sống tại Đức. Việc di trú đem những người chưa tin Chúa đến những nơi mà họ có thể nh́n thấy nhiều hơn việc truyền đạo và có thể thay đổi niềm tin. Việc di trú cũng mang Cơ-đốc giáo đầy sức sống và sôi nổi từ vùng Ca-ri-bê và châu Phi đến trụ tại khu vực Cơ-đốc ở châu Âu và Bắc Mỹ. Di chuyển bằng đường hàng không: Ngày nay chỉ trong ṿng vài tiếng đồng hồ chúng ta có thể đến bất cứ nơi nào trên thế giới. Máy tính điện tử và truyền h́nh cho phép chúng ta kết nối với những điều mà chúng ta nghĩ là quan trọng. Sự kết nối nầy mang lại những cơ hội để chúng ta tác động hoặc chịu tác động bởi những nền văn hóa khác ở khắp nơi trên thế giới. Khi người ta được nghe, được biết về các quốc gia khác, họ trở nên thích thú trong việc khám phá những ǵ mà họ cảm thấy họ đang bỏ lỡ. Thế là họ rời quê hương, đến sống ở một nơi khác, rồi những ràng buộc khắt khe của gia đ́nh, khiến họ bị tổn thương nơi xứ người. Đây phải chăng là cơ hội để hội thánh có thể mang đến sự an toàn, nơi nương tựa và trên tất cả là đem lại niềm hy vọng cho những con người ấy! Di chuyển nhanh chóng cũng cho phép các tín hữu trong hội thánh khám phá những miền đất mới, con người mới và nền văn hóa mới. Những kinh nghiệm truyền giáo ngắn hạn và không cần thay đổi luôn nơi cư trú, đă trở thành hiện thực đối với các tín hữu. Internet: Việc trao đổi thông tin ngay lập tức đă trở nên dễ dàng nhờ vào Internet (mạng lưới thông tin toàn cầu) Đây là nét đặc trưng nổi bật của chiến dịch toàn cầu hóa. Bất cứ ai từ An-ba-ni đến Zim-ba-guê đều có thể đăng nhập tài khoản và ḥa vào mạng lưới nầy tại một quán cà phê Internet trong làng – thậm chí những cá nhân không có máy tính cũng có thể. Internet kết nối có thể giúp cho những người không tin Chúa t́m hiểu sự thật về Cơ-đốc giáo hay về Kinh Thánh. Họ có thể đặt câu hỏi và nhận được câu trả lời, tất cả đều giấu mặt để tránh rủi ro nếu như họ ở trong những t́nh huống dễ bị tổn thương hay quá nhạy cảm. Hệ thống kinh tế: Chính sách toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường tự do tạo ra hàng triệu việc làm cho mọi người ở khắp nơi trên thế giới, nhưng hệ thống kinh tế của làng thế giới cũng tạo ra một cơ chế bóc lột về mặt kinh tế quy mô hơn, môi trường ô nhiễm, văn hóa suy thoái, và đàn áp về chính trị. Duy chỉ những người có hàng hóa để buôn bán và những người có tiền để mua sắm là được coi trọng. Điều nầy lần lượt dồn nhiều người đến cuộc sống v́ lợi nhuận kinh tế và chỉ có những người mạnh hơn, những người cạnh tranh thành công là c̣n tiếp tục tồn tại, do đó sẽ có một khoảng cách rất lớn giữa người giàu và kẻ nghèo. Xă hội bất công trở thành một lối sống và là một thực tế phải chấp nhận. Người ta bảo rằng 20% dân số đứng đầu thế giới mới có cơ hội đến gần với 83% sự giàu sang, trong khi 20% dân số đứng cuối bảng thống kê phải vật lộn để giành lấy 1,4% nguồn tài nguyên của thế giới. Chính sách toàn cầu hóa góp phần áp bức người nghèo. Về mặt sinh thái: Cốt để gia tăng sản phẩm kinh tế, phát triển ngành cơ khí và công nghiệp hóa trên quy mô lớn nên điều kiện môi sinh đă suy giảm chỉ c̣n là một vật thể không có giá trị thực. Thiên nhiên được xem như là một tiềm lực để khai thác nhiều chừng nào tốt chừng nấy nhằm thỏa măn ư muốn của con người và nguồn tài nguyên thiên nhiên bị rút cạn v́ mau mang lại lợi nhuận, mà không ai quan tâm đến những thiệt hại của môi trường và xă hội. T́nh trạng khó xử về mặt sinh thái hiện nay hoàn toàn là do sự phát triển kỹ nghệ và công nghệ, đồng thời cũng do lối sống hiện đại của chúng ta. Về mặt tôn giáo: Mối đe dọa của chính sách toàn cầu và chủ nghĩa phi tôn giáo thường có xu hướng liên kết lại - đă tạo nên sự chống đối trong các hội đoàn. Thường th́ những người trẻ tuổi sùng đạo chịu thua trước sự lạm dụng của các tổ chức và người theo trào lưu chính thống giáo. Trong bối cảnh thù địch về mặt tôn giáo nầy, việc truyền giáo ngày nay đang được tiến hành. Nếu chúng ta không cố gắng nhận thức được hiện tượng của việc toàn cầu hóa, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để đưa vương quốc của Đức Chúa Trời tiến mạnh vào trong thế giới nầy. Hội Thánh cần triển khai những kế hoạch để mang niềm hy vọng của Đấng Cơ-đốc đến với những người đă không được hưởng lợi từ việc toàn cầu hóa cũng như đến với những người không theo kịp nhịp điệu phát triển của xă hội. Chính sách Toàn Cầu Hóa dưới ánh sáng của Kinh thánh và việc Truyền giáo. Chúng ta nên hiểu hiện tượng toàn cầu hóa không chỉ là thực hiện điều Chúa ủy thác trong Sáng-thế kư 1:28 “Hăy làm cho đầy dẫy đất, hăy làm cho đất phục tùng…” mà c̣n là nhiệm vụ Chúa Giê-su giao “Hăy đi dạy dỗ muôn dân …” (Ma-thi-ơ 28:19). Ngày nay Đức Chúa Trời dùng những phương tiện hiện đại như: việc thay đổi chỗ ở trên thế giới, di chuyển bằng đường hàng không, Internet … để tin lành đời đời được “rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc.” (Khải-huyền 14:6). Công việc truyền giáo tăng lên rất nhiều qua việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật sẵn có hiện nay. Đài truyền h́nh và truyền thanh Cơ-đốc Phục-lâm đang phát đi tin lành đời đời cho cả thế giới. Các giáo sĩ có thể tận dụng những công nghệ mới nhất làm cho những điều họ tŕnh bày trở nên hấp dẫn hơn. Thật là một ơn phước! Mặt trái của hiện tượng toàn cầu hóa là gia tăng hủy diệt công tŕnh sáng tạo của Đức Chúa Trời và hậu quả là sự nghèo túng, đau khổ ngày càng gia tăng trong ṿng dân chúng. Là người Cơ-đốc chúng ta trả lời ra sao đối với nan đề nghèo khổ trên thế giới? Trong sách Mác đoạn 6 chúng ta biết Chúa Giê-su đă giảng dạy rất nhiều cho “chiên không có người chăn” (Mác 6:34). Ngài đă tỏ cho họ thấy con đường đến với Đức Chúa Trời, đó là con đường rất nhỏ đem lại tự do cho mọi người. Chúa đă tiết lộ cho họ biết sự mù ḷa và t́nh trạng nô lệ của họ về mặt tinh thần. Đến cuối ngày, mọi người đă đói, các môn đồ khiến Chúa quan tâm đến điều nầy: “Xin cho dân chúng về, để họ đi các nơi nhà quê và các làng gần đây đặng mua đồ ăn.” (36) Nói như thế với Chúa cũng giống như có ư nói rằng: “Ngài đă kết thúc sứ mạng của ḿnh rồi. Ngài đă làm xong phần việc giúp đỡ người khác, Ngài đă ban cho họ sứ điệp về mặt tinh thần rồi. Lúc nầy cần để họ đi đi, họ có thể giải quyết những vấn đề về mặt vật chất.” Lời đáp của Chúa thật đáng kinh ngạc: “Chính các ngươi phải cho họ ăn.” (câu 37) ngụ ư là “Sứ mạng của Ta vẫn chưa kết thúc. Các ngươi không thể rút gọn nó vào trong sứ điệp và sự giảng dạy Ta truyền cho họ. Các ngươi không thể không biết đến sự đói khổ và những cực nhọc về mặt thể xác của họ. Các ngươi không thể từ bỏ họ. Thế th́ hăy cho họ lương thực, giải thoát họ khỏi sự túng thiếu, bần cùng. Đây cũng là một phần trong việc truyền giáo của Ta.” Trong tuần lễ nầy, chúng ta đang xem xét các dấu hiệu về ngày Chúa tái lâm. Chúng không phải là những dấu hiệu của sự thất vọng mà là của niềm hy vọng và sự vui mừng. Như Chúa dùng các môn đồ để lo cho đoàn dân ăn vào buổi chiều hôm ấy (câu 35), Ngài đang kêu gọi chúng ta hôm nay hăy để tâm trí ḿnh vào chức vụ cuối cùng của Ngài. Cầu xin cho mỗi người chúng ta trong khi t́m kiếm các dấu hiệu Chúa tái lâm, hăy cùng hiệp nhau trong chức vụ của Ngài tại đây, đặc biệt là đối với những “người hèn kém nhất của Ngài.”. ĐẠO ĐỨC SUY BẠI. Kinh Thánh cho chúng ta những lời hứa để chúng ta có thể đối diện với mọi thử thách! Ông bà Wilma. S. Lee, ở Houston, Texas. Chung sống 41 năm. Trên 30 năm cố vấn hôn nhân tại Hoa-kỳ và Canada. “ 37 Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. 38 V́ trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, - 39 và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, - khi Con người đến cũng như vậy.” (Ma-thi-ơ 24:37-39) T́nh trạng thế giới ngày nay phản ánh lời Chúa đă báo trước. Dù đó là báo, tạp chí, radio hay chương tŕnh thời sự của đài truyền h́nh, một ngày qua đi không lúc nào là không có một bản tin khiến người ta bối rối bởi những vụ rủi ro hay bất hạnh đă xảy ra. Đến một mức độ đáng ngạc nhiên, chính các phương tiện truyền thông đại chúng ở nhiều khía cạnh không chỉ họ là bộ phận ghi lại thông tin mà c̣n là người cung cấp cho toàn cầu chính những điều ác mà họ thường xuyên tường thuật. Một trong những đặc điểm của xă hội trước thời đại hồng thủy là khả năng trau giồi cao độ về mặt giao tiếp. Khả năng nói cùng một ngôn ngữ, truyền đạt những sáng kiến giàu trí tưởng tượng của con người, khiến dẫn đến việc Chúa phải can thiệp vào công tŕnh xây tháp Ba-bên. Quan sát kỹ nghệ thông tin liên lạc ngày nay chúng ta có thể thấy việc khai thác nhanh các kỹ năng sẽ đưa chúng ta ngày càng cách xa Đức Chúa Trời và kế hoạch của Ngài dành cho nhân loại. Máy vi tính, điện thoại di động, video, DVD và các phương tiện truyền thông qua cáp hay vệ tinh đều nằm trong số những phương tiện truyền thông liên lạc tinh vi hiện đại cao, mặc dầu chúng có thể dùng để đạt những kết quả tốt hơn, nhưng đồng thời cũng dẫn xă hội ngày nay đến chỗ tăng nhanh việc suy đồi đạo đức. Bà Ellen White đă viết những điều liên quan đến thời của chúng ta so sánh với những người sống trong thời Đại Hồng Thủy: “Xă hội thời nay đồi bại cũng như trong thời Nô-ê. Đối với ḍng dơi sống lâu trước Đại Hồng Thủy, họ chỉ mới bước ra khỏi vườn địa đàng một khoảng rất ngắn, Đức Chúa Trời ban cho họ tài năng phong phú, có một cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, và một trí tuệ minh mẫn, mà con người thời nay không thể sánh được; nhưng họ đă dùng những ǵ Ngài ban tặng, sức lực, tài năng … vào những mục đích ích kỷ, để nuông chiều những ham muốn trái với luật pháp và để thỏa măn tính tự cao. Họ xua đuổi Chúa ra khỏi tâm trí ḿnh, họ xem thường luật pháp Ngài; chà đạp tiêu chuẩn đức hạnh của Ngài xuống tận đất đen. Họ say sưa trong khoái lạc tội lỗi, sống đồi bại trước mặt Chúa và với nhau. Bạo lực và tội ác đầy dẫy. Quan hệ hôn nhân hay quyền lợi về tài sản đều không được tôn trọng, và tiếng kêu khóc của những kẻ bị áp bức thấu đến tai Thượng Đế. Bởi nh́n xem điều ác, loài người biến đổi theo h́nh ảnh nó cho đến khi Đức Chúa Trời không c̣n chịu đựng kẻ ác được nữa, họ đă bị nước lụt đùa đi.” (Fundamentals of Christian Education - trang 421, 422). Nhiều tội lỗi trong thế hệ đương thời không lộ ra rơ ràng ngay lúc đầu. Trước hết, nó đến rất nhẹ nhàng, thoáng qua, sau đó nó tăng dần lên làm hạ thấp phẩm cách, tính t́nh trở nên hung dữ. “Đấng Cứu Thế tỏ cho biết kết quả của ḷng ham muốn không kiềm chế được. Sức mạnh đạo đức bị suy yếu, đến mức không thấy tội lỗi lộ ra điều ác. Tội ác được xem nhẹ c̣n niềm đam mê chế ngự tâm trí, cho đến khi những nguyên tắc và động lực tốt lành bị trốc gốc, và Đức Chúa Trời bị nhạo báng … Đây chính là t́nh trạng mà Chúa Giê-su cho biết sẽ xảy ra vào thời kỳ Chúa tái lâm.” (Counsels on Health – trang 24 xem II Ti-mô-thê 3:1-5.) Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta hăy thoát ra khỏi sự đồi bại đang chi phối thế gian hiện nay. Trong nếp sống gia đ́nh và cá nhân anh chị em, chúng ta nên lập ra những giới hạn về những ǵ chúng ta muốn xem hay muốn đọc. Nên nói rơ với tất cả mọi thành viên trong gia đ́nh về giá trị đạo đức mà một người Cơ-đốc phải ǵn giữ. Chúng ta phải kiểm soát Internet và chương tŕnh truyền h́nh cáp, bởi v́ qua những phương tiện thông tin nầy sự suy đồi về mặt đạo đức sẽ được truyền vào gia đ́nh anh chị em. Những lúc như vậy, chúng ta cần nguyện hứa lại với Chúa và luôn đồng đi với Ngài. Hôn Nhân Một trong những dấu hiệu dễ thấy nhất về ngày Chúa Tái lâm là sự đổ vỡ hạnh phúc gia đ́nh và hôn nhân. Ba mươi năm trở lại đây chúng tôi ít thấy có những cuộc hôn nhân kéo dài đến 25 năm. Chúng ta có thể nghĩ rằng những người Cơ-đốc sẽ được miễn nhiễm t́nh trạng suy kém về mặt đạo đức như thế gian, nhưng không có trường hợp ngoại lệ. Mặc dầu nhiều hội thánh Chúa cố gắng khuyên ngăn các tín hữu tránh việc ly hôn, nhưng theo nghiên cứu của George Barna cho thấy, tại Hoa-kỳ số tín hữu đă tái sanh cũng có khả năng ly hôn giống như những người không tin Chúa. Ba mươi lăm phần trăm (35%) vợ và chồng đều đă từng trải qua việc ly hôn. Mặc dầu những lư do hợp pháp cho việc ly hôn không liệt kê những điểm như: chỉ nghĩ đến ḿnh, tự đề cao ḿnh, thô tục, lỗ măng, cố chấp, tàn nhẫn, đam mê nhục dục … là những nguyên nhân khiến hôn nhân tan vỡ. Nếu chúng ta có thể tṛ chuyện với những cá nhân có liên quan, hầu như chắc chắn chúng ta sẽ t́m được những đặc tính đó được liệt kê trong số các nguyên nhân dẫn đến t́nh trạng hôn nhân trở nên xấu đi. Điều nầy sao lại xảy ra trong hôn nhân của những người Cơ-đốc? Hăy xem xét một số vấn đề, bắt đầu là về mặt tài chánh. Đa số những người tin Chúa là những người đầu tiên biện luận họ không ham tiền, không thèm muốn có tiền. Nhưng xă hội ngày nay rất khôn khéo đặt những cuộc hôn nhân vào sức ép nầy. Bất kể là đôi vợ chồng ngay từ đầu có ư tốt như thế nào, nhưng vẫn gặp thách thức là phải tỏ cho người khác biết họ là đôi vợ chồng thành công! Điều nầy được thể hiện qua nơi họ sinh sống, nhà cửa trang hoàng ra sao, họ đi nghỉ (đi du lịch) ở đâu, họ chạy loại xe nào và khi họ có con, th́ con họ học trường nào. Tất cả những điều nầy đ̣i hỏi đến tiền bạc. Nếu vợ chồng không thận trọng, họ sẽ thấy chính ḿnh họ cũng đang chú ư đến cách làm thế nào có tiền để thực hiện những tiêu đích nầy, mà quên mất rằng sự bền vững của hôn nhân được đặt trên nền tảng “3 người” – Đức Chúa Trời, người chồng và người vợ. Họ sẽ quên mở rộng cửa để bày tỏ ḷng hiếu khách của một người Cơ-đốc và quên giúp đỡ người khác như ư muốn của Đức Chúa Trời. Một cuộc hôn nhân đánh mất sự tập trung vào “ba người” – Đức Chúa Trời, Chồng và Vợ – thường trở nên lỗ măng, chỉ nghĩ đến ḿnh, thô tục, bội bạc và đam mê nhục dục. Đây là những đặc tính dẫn đến sự ngược đăi. Sự ngược đăi khởi đầu bằng những đường lối khôn khéo – chửi xéo, làm bẽ mặt, không tôn trọng. Chồng hay vợ chẳng bao giờ là “đủ tốt” cả. Bầu không khí – mà trong đó vợ chồng luôn hoài nghi, chỉ trích, nhạo báng, thô tục, lỗ măng, chỉ nghĩ đến ḿnh – bắt đầu làm tan vỡ ước muốn thờ phượng Chúa trong gia đ́nh và rồi trong hội thánh. Cũng cùng một sự ngược đăi đó tăng dần đến việc hành hạ thể xác và thường xuyên khuấy rối t́nh dục. Thường th́ việc ngược đăi được bào chữa là dựa theo sự kêu gọi của Kinh Thánh bảo phải phục tùng, điều đó không đúng. Trái lại, đó là lời kêu gọi hăy sống ḥa hợp và tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta thuộc về hội thánh trên đất không thể tha thứ bất cứ h́nh thức ngược đăi nào – về mặt thể xác, tinh thần, t́nh cảm hay tính dục. Sự ngư |