|
|
PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CHẲNG THẤY MÀ TIN!
(Giăng 20:29)

Cái chết của Đức Chúa Giê-su hãy còn để lại một dư âm
hãi hùng, đau đớn và thất vọng đối với các môn đồ và những người
yêu mến Ngài.
Một số môn đồ đã quyết định trở về với nghề cũ để sinh
sống đồng thời tránh tai mắt của những kẻ bội nghịch đang theo dõi
và bắt bớ. Một số còn ở lại thành Giê-ru-sa-lem, nghe ngóng tình
hình, tìm cách tiếp tục công việc mà Chúa đã ủy thác.
Các môn đồ vẫn dùng “phòng cao” để hội họp, nơi đã ghi
bao kỷ niệm với Đức Thầy, nơi còn văng vẳng những lời dạy dỗ, căn
dặn trước khi Ngài chịu thọ hình.
Như thường lệ, họ nhóm tại phòng cao vào chiều ngày thứ
nhất (chủ nhật). Họ ngơ ngác, lo sợ như chiên lạc bầy. Đúng lúc ấy,
Đức Chúa Giê-su đã hiện ra, “Bình an cho các ngươi ! (Giăng
20:19). Họ hốt hoảng, không tin vào mắt mình, nhớ lại giọng nói
của Ngài, họ lấy lại bình tĩnh và vui mừng khôn xiết. Thô-ma, một
trong những môn đồ, bấy giờ không có mặt tại đó. Sự chết của Chúa
làm tiêu tan những tham vọng của ông. Ông đã suy nghĩ Đức Chúa
Giê-su đến thế gian sẽ làm một cuộc cách mạng lớn, lật đổ chế độ
quan liêu, giả hình, trừng phạt những kẻ chống đối, khôi phục uy
quyền, thưởng công cho những kẻ tin theo Ngài. Nay Chúa đã chết
thật rồi, những mơ ước quyền cao, chức trọng hoàn toàn xụp đổ. Ông
bắt đầu nghi ngờ những lời hứa của Đức Chúa Giê-su.
Bạn hữu mừng rỡ báo cho ông biết Chúa đã hiện ra cùng
họ, ông lạnh lùng trả lời: “Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn
tay Ngài, nếu ta không đặt ngón tay vào chỗ dấu đinh, và nếu ta
không đặt tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin” (Giăng 20:25). Nói
một cách khác, Thô-ma cần những chứng cớ rõ ràng về sự sống lại
của Đức Chúa Giê-su mới làm ông tin.
Cách tám ngày sau, các môn đồ nhóm nhau lại, có Thô-ma
tham dự. Khi cửa đương đóng, Đức Chúa Giê-su lại hiện ra đứng ở
giữa các môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi! (Giăng
20:26). Thoạt nhìn thấy Thô-ma, Ngài đã biết Thô-ma đang nghĩ gì,
Ngài buồn rầu phán cùng Thô-ma rằng: “Hãy đặt ngón tay ngươi vào
đây, và xem bàn tay ta; cũng sẽ giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào
sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin” (câu 27). Ngài muốn nói thêm
với Thô-ma rằng: Thô-ma ơi! Thật đáng buồn thay cho đức tin
của ngươi! Ngươi thường ở với ta, ăn với ta, ngươi đã thấy những
công việc ta làm, những phép lạ chữa lành bệnh tật: “kẻ mù được
thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ
chết được sống lại. . . “ (Ma-thi-ơ 11:5), nhưng ngươi vẫn không
tin ta. Hỡi kẻ yếu đức tin kia, sao ngươi hồ nghi làm vậy? Đức tin
của ngươi giống như hạt giống rơi trên đã sỏi, tức là kẻ nghe đạo
vui mừng chịu lấy. Song trong lòng không có rễ, chỉ tạm thời mà
thôi, đến khi vì đạo mà gặp sự cực khổ, sự bắt bớ thì liền vấp
phạm” (Ma-thi-ơ 13:20, 21).
Sau khi đã thấy chứng cớ rồi, Thô-ma mới thốt lên: “Lạy Chúa tôi
và Đức Chúa Trời tôi !” (Giăng 20:28). Ngài nhìn Thô-ma phán rằng:
“Vì ngươi đã thấy ta nên ngươi tin,
phước cho những kẻ chẳng từng
thấy mà đã tin vậy” (câu 29). Có lẽ, Ngài muốn nói thêm với Thô-ma
rằng, ngươi đã được ta dạy dỗ, huấn luyện để trở thành môn đồ,
tiếp tục sứ mạng rao giảng Tin lành, cứu rỗi nhiều người, nhưng
đức tin ngươi đã như hạt giống rơi trên sỏi đá.
Tại sao những môn đồ khác khi nhìn thấy Ngài và nghe
giọng nói thì nhận ra Ngài ngay? Ở đây, chúng ta học được một bài
học: Thô-ma vì nghi ngờ, vì tham vọng của đời, vì tự ái đã chiếm
hữu tầm hồn ông nên Đức Thánh Linh không ở với ông lúc đó, ông
không còn sự sáng suốt để nhận ngay ra Chúa.
Ngày nay chúng ta cũng vẫn có những người giống như
Thô-ma. Khi mới tin nhận Chúa thì vui mừng lắm, nhưng khi chúng ta
gặp thử thách, khó khăn, hoặc cầu xin một điều ước muốn tha thiết
nào mà chưa được dễ sinh ra chán nản, thất vọng. Thêm nữa, vật
chất đời này, quyền thế, danh vọng đã làm mờ cặp mắt tâm linh nên
chúng ta không nhìn ra Chúa đang ở bên cạnh chúng ta.
Chúng ta không còn cơ hội như Thô-ma, được nhìn thấy
Ngài bằng xương, bằng thịt, nhưng chúng ta biết Ngài, và tin Ngài
qua Kinh Thánh, qua các sự kiện lịch sử, các đấng tin tri, qua sự
giảng dạy của các tôi tớ Ngài. “Phước cho những kẻ chẳng thấy mà
tin”, không những Ngài phán với Thô-ma mà còn phán với chúng ta và
những thế hệ mai sau. Chúng ta không nhìn thấy bằng mắt nhưng tin
vào lời Ngài ghi lại trong Kinh Thánh, vì chúng ta biết “cả Kinh
Thánh đều bởi Đức Chúa Trời soi dẫn” (2Ti-mô-thê 3:16). Những sự
việc và lời phán sau đây giúp cho chúng ta vững vàng trong niềm
tin kính:
1.
Đức Chúa Giê-su là con Đức Chúa Trời.
“Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một con trai. Rồi
người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên,
nghĩa là Đức Chúa
Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23). Khi Chúa vào thành
Giê-ru-sa-lem, người trước kẻ sau đã hô to lên rằng: “Hô-sa-na!
Đáng ngợi khen cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!” (Mác 11:9).
2.
Đức Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế. Thiên
sứ đã báo cho Giô-sép trong giấc chim bao về Ma-ri, “Người sẽ sanh
một trai, ngươi khá đặt tên là Giê-su vì
chính con trai ấy sẽ cứu
dân mình ra khỏi tội” (Ma-thiơ
1:21).Thiên sứ báo tin cho các trẻ mục đồng, “Này ta báo cho các
ngươi một tin lành, sẽ là sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm
nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một
Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa”
(Lu-ca 2:10,11).
3.
Đức Chúa Giê-su là Đấng tha tội. Câu
chuyện người đàn bà tà dâm (Giăng 8:11b) bị các thầy thông giáo và
người Pha-ri-si kéo đến trước mặt Đức Chúa Giê-su để cho Ngài định
tội. Người đàn bà yên lặng cúi đầu chờ đợi sự phán quyết của Ngài.
Nhưng Ngài buồn rầu phán rằng: “Ta không định tội ngươi, hãy đi và
đừng phạm tội nữa!” Cũng một thể đó, Đức Chúa Giê-su phán với
người bại: “Hỡi con, hãy vững lòng,
tội lỗi con đã được tha”
(Ma-thi-ơ 9:2). Chỉ có một mình Ngài, Đấng vô tội, không tì vết,
mới có quyền tha tội cho con người.
4.
Đức Chúa Giê-su là sự sống. “Ta là bánh
hằng sống từ trên trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy, thì
sẽ sống vô
cùng” (Giăng 6:51) Câu nói của Ngài có hai ý nghĩa, nếu ai tin lời
Ngài, đời sống ở thế gian sẽ được no đủ; nếu ai tin lời Ngài, đời
sống thuộc linh sẽ dư dật, sẽ sống đời đời trên nước vĩnh sanh của
Ngài. “Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho các ngươi
mũ triều thiên của sự sống” (Khải huyền 2:10b).
5.
Đức Chúa Giê-su là Đấng yêu thương.
“Ai chẳng yêu thì không biết
Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời là sự yêu
thương” (1Giăng 4:8) “Đức Chúa Trời là sự yêu thương, ai ở trong
sự yêu thương là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa trời ở trong
người ấy” (câu 16).
6.
Đức Chúa Giê-su là Đấng Bảo Vệ. “Đừng
sợ, vì ta ở với ngươi; chớ kinh khiếp, vì ta là Đức Chúa Trời
ngươi! Ta sẽ bổ sức cho ngươi; phải, ta sẽ giúp đỡ ngươi, lấy tay
hữu công bình mà nâng đỡ ngươi” (Ê-sai 41:10) “Đừng sợ vì ta đã
chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta. Khi
ngươi vượt qua các dòng nước ta sẽ ở cùng, khi ngươi lội qua sông
sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn
lửa chẳng đốt ngươi” (Ê-sai 43:1, 2). “Chúa giúp đỡ tôi, tôi không
sợ chi hết. Người đời làm chi tôi được?” (Hê-bơ-rơ 13:6).
7.
Đức Chúa Giê-su là Đấng Ban Cho. “Vả, ấy
là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải
đến từ anh em, bèn là
sự ban cho của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô
2:8). “Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi
đi nữa, nhưng để
ban sự cứu rỗi
cho những kẻ chờ đợi Ngài”
(Hê-bơ-rơ 9:28b).
“Vì ngươi thấy ta nên ngươi tin,
phước cho những kẻ
chẳng thấy mà tin”. Lời phán của Ngài đã đi vào lịch sử cho những
thế hệ theo Chúa; lời này là một sự cảnh cáo đặc biệt đối với
người chăn bầy như Thô-ma chưa gạt bỏ được những vướng bận hư
không của thế gian. Trái lại, lời phán này là một sự an ủi, khích
lệ cho những ai yêu mến Chúa, là một ơn phước lớn cho tất cả những
người trung tín với Ngài.
Qua câu chuyện yếu đức tin của Thô-ma, nhắc lại danh vị
của Đức Chúa Giê-su ở trên, chúng ta không cần đòi hỏi một chứng
cớ nào nữa mới tin theo Ngài. Ngài mong muốn chúng ta có một đức
tin ngây thơ như con trẻ, đơn sơ như chim bồ câu để có được sự
bình an, thảnh thơi trên đường trở về thiên quốc với Ngài.
Tín hữu San Jose

*
HIỆP MỘT
*
PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CHẲNG THẤY MÀ TIN !
*
NHU MÌ NHƯNG KHÔNG NHU NHƯỢC
|