[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29]
1 Sử-Ký 1
Home
1. A-đam sanh Sết, Sết sanh Ê-nót;
2. Ê-nót sanh Kê-nan, Kê-nan
sanh Ma-ha-la-le, Ma-ha-la-le sanh Giê-rệt;
3. Giê-rệt sanh Hê-nóc,
Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la,
Mê-tu-sê-la sanh Lê-méc;
4. Lê-méc sanh Nô-ê,
Nô-ê sanh Sem, Cham và Gia-phết.
5. Con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai,
Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra.
6. Con trai của Gô-me là
Ách-kê-na, Ði-phát,
và Tô-ga-ma.
7. Con trai của Gia-van là Ê-li-sa,
Ta-rê-si, Kít-tim, và
Rô-đa-nim.
8. Con trai của Cham là Cúc,
Mích-ra-im, Phút, và Ca-na-an.
9. con trai của Cúc là Sê-ba, Ha-vi-la,
Sáp-ta, Ra-ê-ma là Sê-ba,
và Ðê-đan.
10. Cúc sinh Nim-rốt; người khởi đầu làm anh
hùng trên mặt đất.
11. Mích-ra-im sinh họ Lu-đim, họ A-na-min, họ
Lê-ha-bim, họ Náp-tu-him,
12. họ Phát-ru-sim, họ Cách-lu-him, bởi
đó sanh ra họ Phi-li-tin, và họ
Cáp-tô-rim.
13. Ca-na-an sanh ra Si-đôn, là trưởng nam,
và Hếch,
14. cùng họ Gie-bu-sít, họ
A-mô-rít, họ Ghi-rê-ga-sít,
15. họ Hê-vít, họ A-rê-kít,
họ Si-nít,
16. họ A-va-đít, họ Xê-ma-rít,
và họ Ha-ma-tít.
17. con trai của Sem là Ê-lam, A-su-rơ,
A-các-sát, Lút, A-ram,
Út-xơ, Hu-lơ, Ghê-te, và
Mê-siếc.
18. A-bác-sát sanh Sê-lách;
Sê-lách sanh Hê-be.
19. Hê-be sanh được hai con trai: một con kêu
tên là Bê-lét; bởi
vì trong đời người đó đất đã chia ra;
còn tên của người em là Giốc-tan.
20. Giốc-tan sanh A-mô-đát,
Sê-lép, Ha-sa-ma-vết,
Giê-rách,
21. Ha-đô-ram, U-xa, Ðiếc-la,
22. Ê-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,
23. Ô-phia, Ha-vi-la, và
Giô-báp. Hết thảy những người đó đều
là con trai của Giốc-tan.
24. Sem sanh A-bác-sát,
A-bác-sát sanh Sê-lách,
25. Sê-lách sanh Hê-be, Hê-be
sanh Bê-léc, Bê-léc sanh
Rê-hu,
26. Rê-hu sanh Sê-rúc,
Sê-rúc sanh Na-cô, Na-cô sanh
Tha-rê,
27. Tha-rê sanh Áp-ram, cũng gọi là
Áp-ra-ham.
28. con trai của Áp-ra-ham là Y-sác
và Ích-ma-ên.
29. Nầy là dòng dõi của
chúng: Con cả của Ích-ma-ên
là Nê-ba-giốt; kế đến Kê-đa,
Át-bê-ên, Mi-bô-sam,
30. Mích-ma, Ðu-ma, Ma-sa, Ha-đát,
Thê-ma,
31. Giê-hu, Na-phích, và Kết-ma.
Ðó là các con trai của
Ích-ma-ên.
32. Kê-tu-ra, vợ nhỏ của Áp-ra-ham, sanh
các con trai là Xim-ram, Giốc-san,
Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác,
và Su-ách. Giốc-san sanh Sê-ba,
và Ðê-đan.
33. con trai của Ma-đi-an là Ê-pha,
Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa, và
Ên-đa. Những người ấy đều là con cháu
của Kê-tu-ra.
34. Áp-ra-ham sanh ra Y-sác. Con trai của
Y-sác là Ê-sau và
Y-sơ-ra-ên.
35. con trai của Ê-sau là Ê-li-pha,
Rê-u-ên, Giê-úc, Gia-lam,
và Cô-ra.
36. con trai của Ê-li-pha là Thê-man,
Ô-ma, Xê-phi, Ga-tham, Kê-na, Thim-na,
và A-ma-léc.
37. con trai của Rê-u-ên là
Na-hát, Xê-rách, Sam-ma, và
Mích-xa.
38. con trai của Sê-i-rơ là Lô-than,
Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na,
Ði-sôn, Ét-xe, và
Ði-san.
39. con trai của Lô-than là Hô-ri
và Hô-man; còn Thim-na là em
gái Lô-than.
40. con trai của Sô-banh là A-li-an,
Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phi, và
Ô-nam. con trai của Xi-bê-ôn
là Ai-gia và A-na.
41. con trai của A-na là Ði-sôn. con trai
của Ði-sôn là Ham-ran, Ếch-ban,
Dít-ran, và Kê-ran.
42. con trai của Ét-xe là Binh-han, Xa-van,
và Gia-a-can. con trai của Ði-san là
Út-xơ, và A-ran.
43. Khi trước dân Y-sơ-ra-ên chưa có một
vua cai trị, thì đây là danh
các vua trị vì xứ Ê-đôm:
Bê-la, con trai Bê-ô; tên bổn
thành là Ðin-ha-ba.
44. Vua Bê-la băng, Giô-báp, con trai
Xê-rách, người Bốt-ra, kế vị.
45. Vua Giô-háp băng, Hu-sam, người xứ
Thê-man, kế vị.
46. Vua Hu-sam băng, Ha-đát, con trai
Bê-đát, kế vị; chính vua nầy
đánh được dân Ma-đi-an tại đồng
Mô-áp; tên bổn thành
là A-vít.
47. Vua Ha-đát băng, Sam-la người Ma-rê-ca, kế vị.
48. Vua Sam-la băng, Sau-lơ, người Rê-hô-bốt ở
trên bờ sông, kế vị.
49. Vua Sau-lơ băng, Ba-anh-Ha-nan, con trai Ạc-bồ, kế vị.
50. Vua Ba-anh-Ha-nan băng, Ha-đát kế vị; tên bổn
thành là Pha-i; còn vợ người
tên là
Mê-hê-ta-bê-ên, con
gái của Mát-rết, cháu ngoại
Mê-xa-háp.
51. Vua Ha-đát băng. Các trưởng tộc xứ
Ê-đôm là: trưởng tộc Thim-na, trưởng tộc
A-li-a; trưởng tộc Giê-tết,
52. trưởng tộc Ô-hô-li-ba-ma, trưởng tộc
Ê-la, trưởng tộc Phi-nôn,
53. trưởng tộc Kê-na, trưởng tộc Thê-man, trưởng
tộc Mép-xa,
54. trưởng tộc Mác-đi-ên, và trưởng tộc
Y-ram. Ðó là các trưởng tộc
của Ê-đôm.
1 Sử-Ký 2
Home
1. Con trai của Y-sơ-ra-ên là Ru-bên,
Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca,
Sa-bu-lôn,
2. Ðan, Giô-sép, Bên-gia-min,
Nép-ta-li, Gát, và A-se.
3. Con trai của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan,
và Sê-la. Ba người nầy Giu-đa sanh ra bởi con
gái Su-a, người Ca-na-an. Ê-rơ, con cả của Giu-đa,
làm sự dữ trước mặt Ðức
Giê-hô-va, nên Ngài giết
nó đi.
4. Ta-ma, là dâu của Giu-đa, sanh cho người
Phê-rết và Xê-rách. Tổng cộng
các con của Giu-đa được năm người.
5. Con trai của Phê-rết là Hết-rôn
và Ha-mun.
6. Con trai của Xê-rách là Xim-ri,
Ê-than, Hê-man, Canh-côn, và
Ða-ra, cộng là năm người.
7. Con trai của Cạt-mi là A-ca, tức kẻ làm rối
loạn trong Y-sơ-ra-ên, phạm đến vật nghiêm cấm.
8. Con trai của Ê-than là A-xa-ria.
9. Con trai Hết-rôn sanh ra là
Giê-rác-mê-en, Ram, và
Kê-lu-bai.
10. Ram sanh ra A-mi-na-đáp, A-mi-na-đáp sanh
Na-ha-sôn, làm quan trưởng của người Giu-đa.
11. Na-ha-sôn sanh Sanh-ma,
12. Sanh-ma sanh Bô-ô, Bô-ô
sanh Ô-bết, Ô-bết sanh Y-sai.
13. Y-sai sanh con đầu lòng là
Ê-li-áp, con thứ nhì là
A-bi-na-đáp, thứ ba là Si-mê-a,
14. thứ tư là Na-tha-na-ên, thứ năm là
Ra-đai,
15. thứ sáu là Ô-xem, thứ bảy
là Ða-vít.
16. Còn Xê-ru-gia và A-bi-ga-in
là chị em của những người ấy. Xê-ru-gia
có ba con là A-bi-sai,
Giô-áp, và A-xa-ên.
17. A-bi-ga-in sanh A-ma-sa; cha của A-ma-sa là
Giê-the, người Ích-ma-ên.
18. Ca-lép, con của Hết-rôn, lấy vợ, là
A-xu-ba, với Giê-ri-ốt, rồi sanh con là
Giê-se, Sô-báp, và
Ạt-đôn.
19. A-xu-ba qua đời, thì Ca-lép lấy
Ê-phơ-rát; nàng sanh Hu-rơ cho người.
20. Hu-rơ sanh U-ri, U-ri sanh ra Bết-sa-lê-ên.
21. Sau khi ấy, Hết-rôn đã được sáu
mươi tuổi, bèn cưới con gái của Ma-ki,
là cha của Ga-la-át, mà làm
vợ; người năm cùng nàng, nàng sanh
được Sê-gúp.
22. Sê-gúp sanh Giai-rơ, người nầy được hai mươi
ba thành trong xứ Ga-la-át.
23. Dân Ghe-su-rơ và dân Sy-ri chiếm lấy
những thành Giai-rơ và
Kê-nát, luôn với các hương
thôn của địa hạt nó, cộng là
sáu mươi thành. Những người ấy đều là
con cháu Ma-ki, cha Ga-la-át.
24. Sau khi Hết-rôn qua đời tại Ca-lép
Ép-ra-tha rồi, thì vợ người là
A-bi-gia, sanh cho người A-su-rơ, là cha của
Thê-cô-a.
25. Giê-rác-mê-ên, con trưởng
nam của Hết-rôn, sanh Ram, là con đầu
lòng, kế đến Bu-na, Ô-ren, Ô-xem,
và A-hi-gia.
26. Giê-rác-mê-ên lại lấy vợ
khác, tên là A-ta-ra, mẹ của
Ô-nam.
27. Con trai của Ram, con trưởng nam của
Giê-rác-mê-ên, là
Ma-ách, Gia-min, và Ê-ke.
28. Con trai của Ô-nam là Sa-mai và
Gia-đa. Con trai của Sa-mai, là Na-đáp
và A-bi-su.
29. Tên vợ của A-bi-su là A-bi-hai;
nàng sanh cho người Ạc-ban và
Mô-lít.
30. Con trai của Na-đáp là Sê-le
và Áp-ba-im. Nhưng Sê-le qua đời,
không có con.
31. Con trai của Áp-ba-im là Di-si. Con trai của
Di-si là Sê-san. Con trai của Sê-san
là Ạc-lai.
32. Con trai của Gia-đa, em Sa-mai, là Giê-the
và Giô-na-than; Giê-the qua đời,
không có con.
33. Con trai của Giô-na-than là Phê-lết
và Xa-xa. Ấy là con cháu
Giê-rác-mê-ên.
34. Vả, Sê-san không con trai, song có
con gái; cũng có một đứa tôi tớ
Ê-díp-tô, lên là
Gia-ra.
35. Sê-san gả con gái mình cho
nó; nàng sanh Ạt-tai cho người.
36. Ạt-tai sanh Na-than, Na-than sanh Xa-bát,
37. Xa-bát sanh Ép-la, Ép-la sanh
Ô-bết,
38. Ô-bết sanh Giê-hu, Giê-hu sanh
A-xa-ria,
39. A-xa-ria sanh Hê-lết, Hê-lết sanh
Ê-la-xa,
40. Ê-la-xa sanh Sít-mai, Sít-mai sanh
Sa-lum,
41. Sa-lum sanh Giê-ca-mia, Giê-ca-mia sanh
Ê-li-sa-ma.
42. Con trai Ca-lép, là em của
Giê-rác-mê-ên, là
con cả của Mê-sa, tức tổ phụ của Xíp,
và những con trai của Ma-rê-sa, là tổ
phụ của Hếp-rôn.
43. Con trai của Hếp-rôn là Cô-ra,
Táp-bua, Rê-kem, và Sê-ma.
44. Sê-ma sanh Ra-cham, là tổ phụ của
Giô-kê-am; còn Rê-kem sanh
Sa-mai.
45. Con trai của Sa-mai là Ma-ôn; và
Ma-ôn là tổ phụ của Bết-sua.
46. Ê-pha, là hầu của Ca-lép, anh
Ha-ran, Một-sa, và Ga-xe; Ha-ran sanh Ga-xe.
47. Con trai của Gia-đai là Rê-ghem,
Giô-than, Ghê-san, Phê-lết,
Ê-pha, và Sa-áp.
48. Hầu của Ca-lép, là Ma-a-ca, sanh
Sê-be và Ti-ra-na.
49. Nàng cũng sanh Sa-áp, là tổ phụ
của Mát-ma-na, Sê-va, tổ phụ của
Mác-bê-na, và tổ phụ của
Ghi-bê-a. Con gái Ca-lép là
Ạc-sa.
50. Ðây là những con cháu của
Ca-lép: Sô-banh, con trai của Hu-rơ, là
con trưởng nam của Ép-ra-ta, và tổ phụ của
Ki-ri-át-Giê-a-rim;
51. Sanh-ma tổ phụ của Bết-lê-hem; Ha-rép tổ phụ
của Bết-ga-đe.
52. Sô-banh, tổ phụ của
Ki-ri-át-Giê-a-rim có con trai; người
sanh Ha-rô-ê và nửa phần dân
Mê-nu-hốt.
53. Các dòng của
Ki-ri-át-Giê-a-rim là
Dít-rít, Phu-tít,
Su-ma-tít, và Mích-ra-ít;
cũng bởi những dòng ấy mà có
dân Xô-ra-tít và
dân Ếch-tao-lít.
54. Con cháu của Sanh-ma là Bết-lê-hem,
người Nê-tô-pha-tít, người
Ạt-rốt-Bết-Giô-áp, nửa phần dân
Ma-na-ha-tít, và người
Xô-rít.
55. Lại các họ hàng của những thầy
thông giáo ở Gia-bết là họ
Ti-ra-tít, họ Si-ma-tít, và họ
Su-ca-tít. Ấy là dân
Kê-nít, sanh ra bởi Ha-mát, tổ
tiên của nhà Rê-cáp.
1 Sử-Ký 3
Home
1. Nầy là những con trai Ða-vít sanh tại
Hếp-rôn: con trưởng nam là Am-nôn bởi
A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên;
con thứ nhì là Ða-ni-ên bởi
A-bi-ga-in, người Cạt-mên;
2. thứ ba, Áp-sa-lôm, con trai của Ma-a-ca, con
gái của Tanh-mai, vua đất Ghê-su-rơ; thứ tư,
A-đô-ni-gia, con trai của Ha-ghít;
3. thứ năm, Sê-pha-ti-a, con trai của A-bi-tanh; thứ
sáu, Dít-rê-am, con của
Éc-la, vợ Ða-vít.
4. Sáu con trai nầy sanh tại Hếp-rôn; ở
đó Ða-vít trị vì bảy năm
sáu tháng; còn tại
Giê-ru-sa-lem, Ða-vít trị vì ba
mươi ba năm.
5. Ðây là những con trai
Ða-vít sanh tại Giê-ru-sa-lem:
Si-mê-a, Sô-báp, Na-than, và
Sa-lô-môn, cộng được bốn người, đều là
con của Bát-sua, con gái của A-mi-ên.
6. Lại có Gi-ba, E-li-sa-ma,
Ê-li-phê-lết,
7. Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia,
8. Ê-li-sa-ma, Ê-li-gia-đa, và
Ê-li-phê-lết, cộng được chín người.
9. Ấy là những con trai của Ða-vít, chẳng
kể các con trai của những cung phi; và Ta-ma
là chị em của chúng.
10. Con trai Sa-lô-môn là
Rô-bô-am, con trai Rô-bô-am
là A-bi-gia, con trai A-bi-gia là A-sa, con trai
A-sa là Giô-sa-phát,
11. con trai Giô-sa-phát là
Giô-ram, con trai Giô-ram là A-cha-xia,
con trai A-cha-xia là Giô-ách;
12. con trai Giô-ách là A-ma-xia, con
trai A-ma-xia là A-xa-ria, con trai A-xa-ria là
Giô-tham,
13. con trai Giô-tham là A-cha, con trai A-cha
là Ê-xê-chia, con trai
Ê-xê-chia là Ma-na-se,
14. con trai Ma-na-se là A-môn, con trai
A-môn là Giô-si-a.
15. Con trai của Giô-si-a: con trưởng nam là
Giô-ha-nan; con thứ nhì là
Giê-hô-gia-kim, thứ ba là
Sê-đe-kia, thứ tư là Sa-lum.
16. Con trai của Giê-hô-gia-kim là
Giê-chô-nia và
Sê-đê-kia.
17. Con trai của Giê-chô-nia, tức người bị lưu
đày, là Sa-la-thi-ên,
18. Manh-ki-ram, Phê-đa-gia, Sê-na-xa,
Giê-ca-mia, Hô-sa-ma, và
Nê-đa-bia.
19. Con trai của Phê-đa-gia là
Xô-rô-ba-bên và
Si-mê-i. Con trai của
Xô-rô-ba-bên là
Mê-su-lam và Ha-na-nia; còn
Sê-lô-mít là chị em của
chúng.
20. Lại có Ha-su-ba, Ô-hên,
Bê-rê-kia, Ha-sa-đia,
Du-sáp-Hê-rết, cộng là năm người.
21. Con trai của Ha-na-nia là Phê-la-tia
và Ê-sai; lại có con cháu
Ô-ba-đia, và con cháu
Sê-ca-nia.
22. Con trai của Sê-ca-nia là Sê-ma-gia.
Những con trai của Sê-ma-gia là
Hát-túc, Di-ganh, Ba-ria, Nê-a-ria,
và Sa-phát, cộng được sáu người.
23. Con của Nê-a-ria là
Ê-li-ô-ê-nai,
Ê-xê-chia, và A-ri-kham, cộng được ba
người.
24. Con trai của Ê-li-ô-ê-nai
là Hô-đa-via, Ê-li-a-síp,
Phê-la-gia, A-cúp, Giô-ha-nan,
Ðê-la-gia, và A-na-ni, cộng được bảy người.
1 Sử-Ký 4
Home
1. Con trai của Giu-đa là Phê-rết,
Hết-rôn, Cạt-mi, Hu-rơ và Sô-banh.
2. Rê-a-gia, con trai Sô-banh sanh
Gia-hát; Gia-hát sanh A-hu-mai và
La-hát. Ấy là các họ hàng
của dân Xô-ra-tít.
3. Ðây là con cháu của
A-bi-Ê-tam: Gít-rê-ên,
Dít-ma và Di-ba; em gái họ
là Ha-sê-lê-bô-ni.
4. Lại có Phê-nu-ên, là tổ
phụ của Ghê-đô, và Ê-xe, tổ
phụ của Hu-sa. Ấy là con cháu của Hu-rơ, con
trưởng nam của Ép-ra-ta, tổ phụ của Bết-lê-hem.
5. A-su-rơ, tổ phụ của Thê-cô-a, lấy hai vợ
là Hê-lê-a và Na-a-ra.
6. Na-a-ra sanh A-hu-xam, Hê-phe,
Thê-mê-ni, và A-hách-tha-ri.
7. Ấy là các con trai của Na-a-ra. Con trai của
Hê-lê-a là Xê-rết,
Xô-ha, và Ết-nan.
8. Ha-cốt sanh A-núp,
Hát-xô-bê-ba, và
dòng A-ha-hên, con Ha-rum.
9. Gia-bê được tôn trọng hơn anh em
mình; mẹ người đặt tên là
Gia-bê, vì nói rằng: Ta sanh
nó trong sự đau đớn.
10. Gia-bê khấn nguyện với Ðức Chúa Trời
của Y-sơ-ra-ên rằng: Chớ chi Chúa ban phước cho
tôi, mở bờ cõi tôi rộng lớn; nguyện tay
Chúa phù giúp tôi, giữ
tôi được khỏi sự dữ, hầu cho tôi chẳng buồn rầu!
Ðức Chúa Trời bèn ban cho y như sự người
cầu nguyện.
11. Kê-lúp, anh em của Su-ha, sanh
Mê-hia, tổ phụ của Ê-tôn.
12. Ê-tôn sanh nhà Ra-pha,
Pha-sê-a, và Tê-hi-na, tổ tiên
của dân thành Na-hách. Ấy là
những người Rê-ca.
13. Con trai của Kê-na là Ốt-ni-ên
và Sê-ra-gia. Con trai của Ốt-ni-ên
là Ha-thát.
14. Mê-ô-nô-thai sanh Óp-ra;
Sê-ra-gia sanh Giô-áp, tổ phụ của
các người ở trũng thợ mộc, vì họ đều
là thợ mộc.
15. Các con trai của Ca-lép, cháu của
Giê-phu-nê, là Y-ru, Ê-la,
và Na-am, cùng những con trai của Ê-la
và Kê-na.
16. Con trai của Giê-ha-lê-le là
Xíp, Xi-pha, Thi-ria, và A-sa-rên.
17. Con trai của E-xơ-ra là Giê-the,
Mê-rết, Ê-phe, và Gia-lôn. Vợ
của Mê-rết sanh Mi-ri-am, Sa-mai, và
Dít-bác, tổ phụ của
Ếch-tê-mô-a.
18. Vợ người là dân Giu-đa, sanh
Giê-rệt, tổ phụ của Ghê-đô,
Hê-be, tổ phụ của Sô-cô, và
Giê-cu-ti-ên, tổ phụ của Xa-nô-a. Ấy
là con cháu của Bi-thia, con gái của
Pha-ra-ôn, mà Mê-rết cưới lấy.
19. Con trai của vợ Hô-đia, chị em Na-ham, là cha
của Kê-hi-la, người Gạc-mít, và
Ếch-tê-mô-a, người Ma-ca-thít.
20. Con trai của Si-môn là Am-môn,
Ri-na, Bên-Ha-nan, và Ti-lôn. Con trai
của Di-si là Xô-hết và
Bên-Xô-hết.
21. Con cháu Sê-la, con trai Giu-đa, là
Ê-rơ, tổ phụ của Lê-ca, La-ê-đa, tổ phụ
của Ma-rê-sa, và các họ hàng
về dòng dõi Ách-bê-a,
là kẻ dệt vải gai mịn;
22. lại có Giô-kim, và những người
Cô-xê-ba, Giô-ách,
và Sa-ráp, là người cai trị đất
Mô-áp, cùng
Gia-su-bi-Lê-chem. Ấy là điều cổ tích.
23. Những người nầy là thợ gốm, ở tại Nê-ta-im,
và Ghê-đê-ra; chúng ở gần vua
mà làm công việc người.
24. Con trai của Si-mê-ôn là
Nê-mu-ên, Gia-min, Gia-ríp,
Xê-ra, Sau-lơ;
25. Sa-lum, con trai của Sau-lơ, Míp-sam, con trai của
Sa-lum, và Mích-ma, con trai của
Míp-sam.
26. Con trai của Mích-ma là Ham-mu-ên,
con trai của Xa-cu là Si-mê-i.
27. Còn Si-mê-i có mười sáu
con trai và sáu con gái; song anh em
người không đông con; cả họ hàng
chúng sánh với số người Giu-đa thì
kém.
28. Chúng ở tại Bê-e-Sê-ba, tại
Mô-la-đa, tại Ha-xa-Sua,
29. tại Bi-la, tại Ê-xem, và tại
Tô-lát;
30. lại ở tại Bê-tu-ên, Họt-ma, và
Xiếc-lác;
31. ở tại Bết-Ma-ca-bốt, Hát-sa-Su-sim, Bết-Bi-rê,
và tại Sa-a-ra-im. Ấy là các
thành của chúng cho đến đời vua
Ða-vít.
32. Chúng cũng có năm hương thôn,
là Ê-tam, A-in, Rim-môn,
Tô-ken, và A-san,
33. cùng các thôn ấp bốn
phía của các hương thôn nầy cho đến
Ba-anh. Ấy là chỗ ở và gia phổ của
chúng.
34. Lại, Mê-sô-báp, Giam-léc,
Giô-sa, con trai của A-ma-xia;
35. Giô-ên và Giê-hu,
là con trai Giô-xơ-bia, cháu
Sê-ra-gia, chắt A-si-ên;
36. lại có Ê-li-ô-ê-nai,
Gia-cô-ba, Giê-sô-hai-gia, A-sa-gia,
A-đi-ên, Giê-si-mi-ên,
Bê-na-gia,
37. Xi-xa, con trai của Si-phi, cháu của A-lôn,
chắt của Giê-đa-gia, chít của Sim-ri,
là con trai của Sê-ma-gia.
38. Những người kể từng tên nầy là trưởng tộc
trong họ mình, tông tộc chúng
thì thêm lên rất nhiều.
39. Chúng sang qua Ghê-đô, đến
bên phía đông của trũng, để kiếm đồng cỏ
cho đoàn súc vật mình.
40. Chúng bèn thấy đồng cỏ tươi tốt;
còn đất thì rộng rãi, yên
lặng và bình an; khi trước dòng
dõi Cham ở đó.
41. Những người đã kể tên trước đây,
trong đời Ê-xê-chia, vua nước Giu-đa,
kéo đến đánh các trại quân
của chúng, và những người
Ma-ô-nít ở đó, tuyệt hết họ, chiếm lấy
đất, và ở thay vào cho đến ngày nay;
bởi vì tại đó có đồng cỏ để
nuôi bầy súc vật của họ.
42. Trong dòng Si-mê-ôn có
năm trăm người tiến đến núi Sê-i-rơ;
các quan-cai họ là Phê-la-tia,
Nê-a-ria, Rê-pha-gia, và
U-xi-ên; ấy là các con trai của Di-si.
43. Chúng đánh người A-ma-léc
còn sót lại, rồi ở đó cho đến
ngày nay.
1 Sử-Ký 5
Home
1. Vả, Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên,
vì làm ô uế giường của cha
mình, nên quyền trưởng tử đã về
các con trai Giô-sép, là con
trai Y-sơ-ra-ên; dầu vậy, trong gia phổ không
chép Giô-sép là trưởng tử;
2. vì Giu-đa trổi hơn anh em mình, và
bởi người mà ra vua chúa; song quyền trưởng tử
thì về Giô-sép.
3. Nầy con trai của Ru-bên, con trưởng nam của
Y-sơ-ra-ên, là Hê-nóc,
Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi.
4. Con trai của Giô-ên là
Sê-ma-gia, con trai của Sê-ma-gia là
Gót, con trai của Gót là
Si-mê-i,
5. con trai của Si-mê-i là Mi-ca, con trai của
Mi-ca là Rê-a-gia, con trai của Rê-a-gia
là Ba-anh,
6. con trai của Ba-anh là Bê-ê-ra, bị
Tiếc-lát-Phin-nê-se, vua nước A-si-ri, bắt
làm phu tù; người vốn làm trưởng tộc
trong chi phái Ru-bên.
7. Anh em của Bê-ê-ra theo họ hàng
mình, y như đã chép vào
sách gia phổ là, Giê-i-ên,
trưởng tộc, Xa-cha-ri,
8. Bê-la, con trai của A-xa, cháu của
Sê-ma, chắt của Giô-ên; Bê-la ở
tại A-rô-e, cho đến Nê-bô và
Ba-anh-Mê-ôn;
9. về phía đông người ở vào lối đồng
vắng cho đến sông Ơ-phơ-rát, vì trong
xứ Ga-la-át bầy súc vật chúng
có sanh thêm nhiều lắm.
10. Trong đời vua Sau-lơ, chúng ra đánh giặc với
dân Ha-ga-rít, thắng hơn họ, và ở trong
trại họ tại khắp miền phía đông xứ
Ga-la-át.
11. Con cháu Gát ở đối ngang chúng
nó trong xứ Ba-san, cho đến Sanh-ca.
12. Giô-ên là trưởng tộc, Sa-pham
làm phó; lại có Gia-nai và
Sa-phát ở Ba-san.
13. Anh em tùy theo tông tộc chúng,
là bảy người: Mi-ca-ên, Mê-su-lam,
Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia và
Ê-be.
14. Ấy là các con trai của A-bi-hai, A-bi-hai con
trai của Hu-ri. Hu-ri con trai của Gia-rô-a,
Gia-rô-a con trai của Ga-la-át,
Ga-la-át con trai của Mi-ca-ên, Mi-ca-ên
con trai của Giê-si-sai, Giê-si-sai con trai của
Giác-đô, Giác-đô con trai của
Bu-xơ;
15. A-hi con trai của Áp-đi-ên,
Áp-đi-ên con trai của Gu-ni; A-hi làm
trưởng tộc.
16. Chúng ở nơi Ga-la-át, Ba-san, cùng
trong các hương thôn của xứ ấy; lại ở trong
cõi Sa-rôn cho đến giới hạn nó.
17. Những kẻ nầy đã được biên vào
sách gia phổ trong đời vua Giô-tham nước Giu-đa,
và trong đời vua Giê-rô-bô-am
nước Y-sơ-ra-ên.
18. Trong con cháu Ru-bên, người Gát
và phân nửa chi phái Ma-na-se,
các người lính chiến có tài
cầm khiên, cầm gươm, giương cung, và thạo về chinh
chiến, là bốn vạn bốn ngàn bảy trăm
sáu mươi người, có thể ra trận được.
19. Chúng giao chiến với dân Ha-ga-rít,
dân Giê-tua, dân Na-phi, và
dân Nô-đáp.
20. Trong khi giao chiến, chúng kêu cầu
cùng Ðức Chúa Trời, và
Ðức Chúa Trời vì chúng
có lòng tin cậy Ngài, thì
cứu giúp cho, phó dân
Ha-ga-rít và cả những kẻ theo nó
vào tay chúng.
21. Chúng bắt được những bầy súc vật của
các dân ấy, là năm vạn lạc
đà, hai mươi lăm vạn chiên, hai ngàn
lừa, và luôn mười vạn người.
22. Cũng có nhiều người bị chết, vì trận nầy bởi
Ðức Chúa Trời mà có.
Chúng ở thay vào các dân tộc
ấy cho đến khi bị bắt dẫn đi làm phu tù.
23. Người nửa chi phái Mê-na-se ở trong xứ từ
Ba-san cho đến Ba-anh-Hẹt-môn, Sê-nia,
và núi Hẹt-môn; nhân số họ
rất đông.
24. Ðây là các trưởng tộc trong
dòng dõi chúng: Ê-phe,
Di-si, Ê-li-ên, Ách-ri-ên,
Giê-rê-mi, Hô-đa-via, và
Giắc-đi-ên, đều là các trưởng tộc, vốn
người mạnh dạn, có danh tiếng.
25. Song chúng phạm tội cùng Ðức
Chúa Trời của các tổ phụ mình,
và thông dâm cùng những thần
của các dân tộc của xứ mà Ðức
Chúa Trời đã hủy hoại trước mặt chúng.
26. Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên xui giục
lòng Phun, vua nước A-si-ri, và
Tiếc-lát-Phin-nê-se, cùng vua nước
A-si-ri, đến bắt người Ru-bên, người Gát,
và nửa chi phái Mê-na-se, đem
chúng về ở Ha-la, Cha-bo, Ha-ra, và miền gần
sông Gô-xan, là nơi chúng
còn ở cho đến ngày nay.
1 Sử-Ký 6
Home
1. Con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn,
Kê-hát, và Mê-ra-ri.
2. Con trai của Kê-hát là Am-ram,
Két-sê-ha, Hếp-rôn, và
U-xi-ên.
3. Con trai của Am-ram là A-rôn, Môi-se
và Mi-ri-am. Con trai của A-rôn là
Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa,
và Y-tha-ma.
4. Ê-lê-a-sa sanh Phi-nê-a;
Phi-nê-a sanh A-bi-sua;
5. A-bi-sua sanh Bu-ki, Bu-ki sanh U-xi;
6. U-xi sanh Xê-ra-hi-gia; Xê-ra-hi-gia sanh
Mê-ra-giốt;
7. Mê-ra-giốt sanh A-ma-ria; A-ma-ria sanh
A-hi-túp;
8. A-hi-túp sanh Xa-đốc; Xa-đốc sanh A-hi-ma-ách;
9. A-hi-ma-ách sanh A-xa-ria; A-xa-ria sanh
Giô-ha-nan;
10. Giô-ha-nan sanh A-xa-ria, là kẻ làm
chức tế lễ trong đền vua Sa-lô-môn đã
xây ở thành Giê-ru-sa-lem.
11. A-xa-ria sanh A-ma-ria; A-ma-ria sanh A-hi-túp;
12. A-hi-túp sanh Xa-đốc; Xa-đốc sanh Sa-lum;
13. Sa-lum sanh Hinh-kia; Hinh-kia sanh A-xa-ria;
14. A-xa-ria sanh Sê-ra-gia; Sê-ra-gia sanh
Giê-hô-xa-đác;
15. Giê-hô-xa-đác bị bắt làm
phu tù khi Ðức Giê-hô-va
dùng tay Nê-bu-cát-nết-sa mà
bắt dẫn dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đi.
16. Con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn,
Kê-hát, và Mê-ra-ri.
17. Ðây là những tên của
các con trai Ghẹt-sôn: Líp-ni
và Si-mê-i.
18. Con trai của Kê-hát là Am-ram,
Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và
U-xi-ên.
19. Con trai của Mê-ra-ri là Mách-li
và Mu-si. Ấy là các họ hàng
người Lê-vi theo tông tộc mình.
20. Con trai của Ghẹt-sôn là Líp-ni;
con trai của Líp-ni là Gia-hát; con
trai của Gia-hát là Xim-ma; con trai của Xim-ma
là Giô-a;
21. con trai của Giô-a là Y-đô; con trai
của Y-đô là Xê-ra; con trai của
Xê-ra là Giê-a-trai.
22. Con trai của Kê-hát là
A-mi-na-đáp; con trai của A-mi-na-đáp
là Cô-rê; con trai của
Cô-rê là Át-si; con trai của
Át-si là Ên ca-na;
23. con trai của Ên ca-na là
Ê-bi-a-sáp; con trai của
Ê-bi-a-sáp là Át-si;
24. con trai của Át-si là Ta-hát; con
trai của Ta-hát là U-ri-ên; con trai
của U-ri-ên là U-xi-gia; con trai của U-xi-gia
là Sau-lơ.
25. Con trai của Ên-ca-na là A-ma-sai
và A-hi-mốt.
26. Con trai của Ên-ca-na là Xô-phai;
con trai của Xô-phai là Na-hát;
27. con trai của Na-hát là
Ê-li-áp; con trai của Ê-li-áp
là Giê-rô-ham; con trai của
Giê-rô-ham là Ên-ca-na.
28. Các con trai của Sa-mu-ên là: Con
trưởng nam là Va-sê-ni, con thứ hai A-bi-gia.
29. Con trai của Mê-ra-ri là Mách-li,
con trai của của Mách-li là Líp-ni;
con trai của Líp-ni là Si-mê-i; con
trai của Si-mê-i là U-xa;
30. con trai của U-xa là Si-mê-a; con trai của
Si-mê-a là Ha-ghi-gia; con trai của Ha-ghi-gia
là A-sai-gia.
31. Sau khi hòm giao ước đã để yên rồi,
vua Ða-vít có đặt những kẻ để coi
sóc việc hát xướng trong đền Ðức
Giê-hô-va.
32. Chúng hầu việc trước đền tạm về việc hát
xướng cho đến khi vua Sa-lô-môn xây xong
đền thờ của Ðức Giê-hô-va tại
Giê-ru-sa-lem: ai nấy đều theo ban thứ mình
mà làm việc.
33. Ðây là những kẻ chầu chực với con trai
mình. Trong con cháu Kê-hát
có Hê-man là kẻ nhã nhạc,
con trai của Giô-ên, Giô-ên con
trai của Sa-mu-ên,
34. Sa-mu-ên con trai của Ên-ca-na,
Ên-ca-na con trai của Giê-rô-ham,
Giê-rô-ham con trai của
Ê-li-ên, Ê-li-ên con trai của
Thô-a,
35. Thô-a con trai của Xu-phơ, Xu-phơ con trai của
Ên-ca-na, Ên-ca-na con trai của Ma-hát,
Ma-hát con trai của A-ma-sai,
36. A-ma-sai con trai của Ên-ca-na, Ên-ca-na con
trai của Giô-ên, Giô-ên con
trai của A-xa-ria, A-xa-ria con trai của Xô-phô-ni,
37. Xô-phô-ni con trai của Ta-hát,
Ta-hát con trai của Át-si, Át-si con
trai của Ê-bi-a-sáp,
Ê-bi-a-sáp con trai của Cô-rê,
38. Cô-rê con trai của
Dít-sê-ha, Dít-sê-ha con trai
của Kê-hát, Kê-hát con trai
của Lê-vi, Lê-vi con trai của Y-sơ-ra-ên.
39. A-sáp, anh em của Hê-man, chầu chực
bên hữu người. A-sáp là con trai của
Bê-rê-kia, Bê-rê-kia con trai
của Si-mê-a,
40. Si-mê-a con trai của Mi-ca-ên,
Mi-ca-ên con trai của Ba-sê-gia,
Ba-sê-gia con trai của Manh-ki-gia,
41. Manh-ki-gia con trai của Ét-ni, Ét-ni con
trai của Xê-ra, Xê-ra con trai của A-đa-gia,
42. A-đa-gia con trai của Ê-than, Ê-than con trai
của Xim-ma, Xim-ma con trai của Si-mê-i,
43. Si-mê-i con trai của Gia-hát,
Gia-hát con trai của Ghẹt-sôn, Ghẹt-sôn
con trai của Lê-vi.
44. Các con cháu của Mê-ra-ri, anh em
của chúng, đều chầu chực bên tả, là
Ê-than con trai của Ki-si, Ki-si con trai của
Áp-đi, Áp-đi con trai của Ma-lúc,
45. Ma-lúc con trai của Ha-sa-bia, Ha-sa-bia con trai của
A-ma-xia, A-ma-xia con trai của Hinh-kia,
46. Hinh-kia con trai của Am-si, Am-si con trai của Ba-ni, Ba-ni con
trai của Sê-me,
47. Sê-me con trai của Mách-lị, Mách-lị
con trai của Mu-si, Mu-si con trai của Mê-ra-ri,
Mê-ra-ri con trai của Lê-vi.
48. Các anh em chúng, là những người
Lê-vi khác, đều được cắt làm mọi việc
trong đền tạm của Ðức Chúa Trời.
49. A-rôn và các con trai người đều
dâng của lễ hoặc trên bàn thờ về của lễ
thiêu hay trên bàn thờ xông
hương, làm mọi việc ở nơi chí thánh,
và làm lễ chuộc tội cho Y-sơ-ra-ên,
theo như mọi sự Môi-se, đầy tớ Ðức Chúa
Trời, đã trừ diệt.
50. Ðây là dòng dõi
của A-rôn: Ê-lê-a-sa con trai của
A-rôn, Phi-nê-a con trai của
Ê-lê-a-sa, A-bi-sua con trai của Phi-nê-a,
51. Bu-ki con trai của A-bi-sua, U-xi con trai của Bu-ki,
Xê-ra-hi-gia con trai của U-xi,
52. Mê-ra-giốt con trai của Xê-ra-hi-gia, A-ma-ria
con trai của Mê-ra-giốt, A-hi-túp con trai của
A-ma-ria,
53. Xa-đốc con trai của A-hi-túp, A-hi-ma-ách con
trai của Xa-đốc.
54. Nầy là nơi ở của con cái A-rôn,
tùy theo nơi đóng trại mình trong địa
phận chúng. Họ hàng Kê-hát
bắt thăm trước hết.
55. Họ phân cấp cho chúng thành
Hếp-rôn tại xứ Giu-đa và các
cõi bốn phía.
56. Song đất ruộng và hương thôn của
thành đều ban cho Ca-lép, con trai
Giê-phu-nê.
57. Lại con cháu A-rôn được những thành
ẩn náu, là Hếp-rôn, Líp-na,
và địa hạt nó; Gia-tia,
Ếch-tê-mô-a, và địa hạt nó;
58. Hi-lên, với địa hạt nó;
Ðê-bia, với địa hạt nó;
59. A-san, với địa hạt nó; Bết-Sê-mết, với địa hạt
nó.
60. Bởi từ chi phái Bên-gia-min họ được
Ghê-ba, với địa hạt nó; A-lê-mết, với
địa hạt nó; A-na-tốt, với địa hạt nó.
Các thành của chúng cộng lại được mười
ba cái, tùy theo gia tộc họ.
61. Con cháu Kê-hát còn lại
bắt thăm mà được mười thành trong nửa chi
phái Mê-na-se.
62. Con cháu Ghẹt-sôn, tùy theo họ
hàng, đều được mười ba thành bởi trong chi
phái Y-sa-ca, chi phái A-se, chi phái
Nép-tha-li, và chi phái Ma-na-se tại
đất Ba-san.
63. Con cháu Mê-ra-ri, tùy theo gia tộc
họ, đều bắt thăm mà được mười hai thành, bởi
trong chi phái Ru-bên, chi phái
Gát và chi phái Sa-bu-lôn.
64. Dân Y-sơ-ra-ên chia cấp cho người
Lê-vi các thành ấy và địa
hạt nó.
65. Họ bắt thăm mà cho bởi trong chi phái Giu-đa,
chi phái Si-mê-ôn, và chi
phái Bên-gia-min, những thành
đã kể ở trên.
66. Trong người Kê-hát có mấy
nhà đã được những thành bởi trong chi
phái Ép-ra-im;
67. chúng được những thành ẩn náu,
là Si-chem với địa hạt nó, tại trên
núi Ép-ra-im, Ghê-xe với địa hạt
nó,
68. Giốc-mê-am với địa hạt nó,
Bết-Hô-rôn với địa hạt nó,
69. A-gia-lôn với địa hạt nó,
Gát-Rim-môn với địa hạt nó;
70. và bởi trong nửa chi phái Mê-na-se
họ được A-ne với địa hạt nó, Bi-lê-am với địa hạt
nó. Người ta chia cấp các thành ấy cho
những người của dòng Kê-hát
còn sót lại.
71. Con cháu Ghẹt-sôn bởi họ hàng của
nửa chi phái Mê-na-se, được Gô-lan ở đất
Ba-san với địa hạt nó; Ách-ta-rốt với địa hạt
nó;
72. bởi chi phái Y-sa-ca, họ được Kê-đe với địa
hạt nó;
73. Ra-mốt với địa hạt nó; A-nem với địa hạt nó;
74. bởi chi phái A-se, họ được Ma-sanh với địa hạt
nó; Áp-đôn với địa hạt nó;
Hu-cô với địa hạt nó;
75. Rê-hốp với địa hạt nó;
76. bởi chi phái Nép-ta-li, họ được
Kê-đe trong Ga-li-lê, với địa hạt nó;
Ham-môn với địa hạt nó; Ki-ria-ta-im với địa hạt
nó.
77. Con cháu Mê-ra-ri còn
sót lại bởi chi phái Sa-bu-lôn được
Ri-mô-nô với địa hạt nó;
Tha-bô với địa hạt nó;
78. còn bên kia sông Giô-đanh
về phía đông, đối ngang
Giê-ri-cô, bởi chi phái
Ru-bên, họ được Bết-se trong rừng với địa hạt nó;
Gia-xa với địa hạt nó;
79. Kê-đê-mốt với địa hạt nó;
Mê-phát với địa hạt nó;
80. bởi chi phái Gát, họ được Ra-mốt ở đất
Ga-la-át, với địa hạt nó; Ma-ha-na-im với địa hạt
nó;
81. Hết-bôn với địa hạt nó; Gia-ê-xe với
địa hạt nó.
1 Sử-Ký 7
Home
1. Con trai của Y-sa-ca là: Thô-la, Phu-a,
Gia-súp, và Sim-rôn, bốn người.
2. Con trai của Thô-la là: U-xi,
Rê-pha-gia, Giê-ri-ên,
Giác-mai, Díp-sam, Sa-mu-ên, đều
là trưởng trong tông tộc Thô-la,
và làm người anh hùng, mạnh dạn trong
dòng dõi họ; về đời Ða-vít, số
con cái họ được hai vạn hai ngàn sáu
trăm người.
3. Con trai của U-xi là Dít-ra-hia; con trai của
Dít-ra-hia là Mi-ca-ên, O-ba-đia,
Giô-ên, và Di-si-gia, cả cha con năm
người, đều là trưởng tộc
4. với họ có những đội binh sẵn ra trận, cứ theo
tông tộc và thế hệ của chúng, số được
ba vạn sáu ngàn quân; bởi vì
chúng có nhiều vợ và nhiều con.
5. Lại anh em chúng trong dòng Y-sa-ca,
là những người anh hùng, mạnh dạn, theo gia phổ,
số được tám vạn bảy ngàn tên.
6. Con trai của Bên-gia-min là Bê-la,
Bê-ke, và Giê-đi-a-ên, ba
người.
7. con trai của Bê-la là
Ét-bôn, U-xi, U-xi-ên,
Giê-ri-mốt, và Y-ri, năm người; thảy đều
là trưởng tộc, người mạnh dạn; số con cháu họ,
theo gia phổ, được hai vạn hai ngàn ba mươi bốn người.
8. Con trai của Bê-ke là Xê-mi-ra,
Giô-ách, Ê-li-ê-se,
Ê-li-ô-ê-nai, Ôm-ri,
Giê-rê-mốt, A-bi-gia, A-na-tốt, và
A-lê-mết. Những kẻ ấy là con trai Bê-ke,
9. họ đều là trưởng tộc, và người mạnh dạn; số
con cháu họ, theo gia phổ của chúng, được hai vạn
hai trăm người.
10. Con trai của Giê-đi-a-ên là
Binh-han; con trai của Binh-han là
Giê-úc, Bên-gia-min,
Ê-hút, Kê-na-na, Xê-than,
Ta-rê-si, và A-hi-sa-ha.
11. Những kẻ nầy là con trai của
Giê-đi-a-ên, đều là trưởng tộc, vốn
người mạnh dạn; trong con cái chúng kẻ được ra
trận, số là một vạn bảy ngàn hai trăm người.
12. Lại có Súp-bim và Hốp-bim, con
trai của Y-rơ; Hu-rim con trai của A-he.
13. Con trai của Nép-ta-li là
Gia-si-ên, Gu-ni, Gie-xe, và Sa-lum, đều
là con của bà Bi-la.
14. Con trai của Ma-na-se là Ách-ri-ên,
mà hầu A-ram của người sanh; nàng cũng sanh
Ma-ki, là tổ phụ của Ga-la-át.
15. Ma-ki cưới em gái của Hốp-kim và
Súp-bim, tên là Ma-a-ca mà
làm vợ. Tên của con thứ là
Xê-lô-phát;
Xê-lô-phát sanh ra mấy con
gái.
16. Ma-a-ca, vợ của Ma-ki, sanh được một đứa con trai, đặt
tên là Phê-rết; tên của người
em là Sê-rết. Sê-rết sanh ra U-lam
và Ra-kem.
17. Con trai của U-lam và Bê-đan. Ấy là
con trai của Ga-la-át, cháu của Ma-ki, chắt của
Ma-na-se.
18. Em gái của Ga-la-át, là
Ha-mô-lê-kết, anh Y-sốt, A-bi-ê-xe,
và Mác-la.
19. Con trai của Sê-mi-đa là A-hi-an,
Sê-kem, Li-khi, và A-ni-am.
20. Con trai của Ép-ra-im là Su-tê-la;
con trai của Su-tê-la là Bê-re, con trai
của Bê-re là Ta-hát, con trai của
Ta-hát là Ê-lê-a-đa, con trai
của Ê-lê-a-đa là Ta-hát,
21. con trai của Ta-hát là Xa-bát, con
trai của Xa-bát là Su-tê-la,
Ê-xe, và Ê-lê-át;
chúng nó bị người đất Gát giết,
vì có xuống Gát đặng cướp
súc vật của họ.
22. Ép-ra-im, cha chúng nó, để tang
lâu ngày, và anh em người đều tới an ủi
người.
23. Ðoạn, người ăn ở cùng vợ mình,
nàng có thai, sanh được một đứa trai, đặt
tên là Bê-ri-a, vì
nhà người đã bị tai họa.
24. Con gái người là Sê-ê-ra;
nàng xây Bết-Hô-rôn
trên và dưới, cùng
U-xên-Sê-ê-ra.
25. Lại người sanh Rê-pha; Rê-pha sanh
Rê-sép và Tê-la;
Tê-la sanh Ta-han;
26. Ta-han sanh La-ê-đan; La-ê-đan sanh
Am-mi-hút; Am-mi-hút sanh Ê-li-sa-ma;
27. Ê-li-sa-ma sanh Nun; và Nun sanh
Giô-suê.
28. Sản nghiệp và nơi ở của chúng là
Bê-tên và các hương
thôn nó; về phía đông
là Na-a-ran, và về phía tây
là Ghe-xe với các hương thôn
nó.
29. Gần bờ cõi chi phái Ma-na-se có
Bết-Sê-an và các hương thôn
nó, Mê-ghi-đô và
các hương thôn nó.
Ðô-rơ và các hương
thôn nó. Con cháu
Giô-sép, con trai Y-sơ-ra-ên, đều ở tại
những chỗ ấy.
30. Con trai của A-se là Dim-na,
Dích-và, Dích-vi, Bê-ri-a
và Sê-ra, là em gái
chúng nó.
31. Con trai của Bê-ri-a là Hê-be
và Manh-ki-ên; Manh-ki-ên là
tổ phụ của Biếc-xa-vít.
32. Hê-be sanh Giáp-phơ-lết,
Sô-mê, Hô-tham, và Su-a,
là em gái của chúng nó.
33. Con trai của Giát-phơ-lết là
Pha-sác, Bim-hanh, và A-vát.
Ðó là những con trai của
Giáp-phơ-lết.
34. Con trai của Sê-me là A-hi,
Rô-hê-ga, Hu-ba, và A-ram.
35. Con trai của Hê-lem, anh em Sê-me,
là Xô-pha, Dim-na, Sê-lết, và
A-manh.
36. Con trai của Xô-pha là Su-a,
Hạt-nê-phê, Su-anh, Bê-ri, Dim-ra,
37. Bết-se, Hốt, Sa-ma, Sinh-sa, Dít-ran, và
Bê-ê-ra.
38. Con trai của Giê-the là
Giê-phu-nê, Phít-ba, và A-ra.
39. Con trai của U-la là A-ra, Ha-ni-ên,
và Ri-xi-a.
40. Những kẻ ấy đều là con cái của A-se,
làm trưởng tộc, vốn là tinh binh và
mạnh dạn, đứng đầu các quan tướng. Các người
trong chúng hay chinh chiến, theo gia phổ, số được hai vạn
sáu ngàn tên.
1 Sử-Ký 8
Home
1. Bên-gia-min sanh Bê-la, con trưởng nam, thứ
nhì là Ách-bên, thứ ba
là Ạc-ra,
2. thứ tư là Nô-ha, và thứ năm
là Ra-pha.
3. Con trai của Bê-la là Át-đa,
Ghê-ra, A-bi-hút,
4. A-bi-sua, Na-a-man, A-hoa,
5. Ghê-ra, Sê-phu-phan, và Hu-ram.
6. Ðây là các con trai của
Ê-hút; những người ấy đều làm trưởng
tộc của dân Ghê-ba; dân ấy bị bắt
làm phu tù dẫn đến đất Ma-na-hát;
7. Na-a-man, A-hi-gia, và Ghê-ra, đều bị bắt
làm phu tù, và người sanh ra U-xa
và A-hi-hút.
8. Sa-ha-ra-im sanh con ở trong xứ Mô-áp, sau khi
để Hu-sim và Ba-ra, hai vợ người.
9. Bởi Hô-đe, vợ người, thì sanh được
Giô-báp, Xi-bia, Mê-sa, Manh-cam,
10. Giê-út, Sô-kia, và
Mịt-ma. Những người nầy là con trai của người và
đều làm trưởng tộc.
11. Bởi bà Hu-sim, người sanh A-bi-túp
và Ên-ba-anh.
12. Con trai của Ên-ba-anh là Ê-be,
Mi-sê-am, và Sê-mết; người ấy
xây thành Ô-nô, và
Lót và các hương thôn
nó;
13. lại sanh Bê-ri-a và Sê-ma; hai người
làm trưởng tộc của dân cư A-gia-lôn,
và đã đuổi dân thành
Gát.
14. Con trai của Bê-ria là A-hi-ô,
Sa-sác,
15. Giê-rê-mốt, Xê-ba-đia,
A-rát, E-đe,
16. Mi-ca-ên, Dít-pha, và
Giô-ha.
17. Con trai của Ên-ba-anh là Xê-ba-đia,
Mê-su-lam, Hi-ki, Hê-be,
18. Gít-mê-rai, Gít-lia, và
Giô-báp.
19. Con trai của Si-mê-i là Gia-kim, Xiếc-ri,
Xáp-đi,
20. Ê-li-ê-nai, Xi-lê-tai,
Ê-li-ên,
21. A-đa-gia, Bê-ra-gia, và Sim-rát.
22. Con trai của Sa-sác là Gít-ban,
Ê-be, Ê-li-ên,
23. Áp-đôn, Xiếc-ri, Ha-nan,
24. Ha-na-nia, Ê-lam, An-tô-ti-gia,
25. Gíp-đê-gia, và
Phê-nu-ên.
26. Con trai của Giê-rô-ham là
Sam-sê-rai, Sê-ha-ria, A-ta-lia,
27. Gia-rê-sia, Ê-li-gia, và Xiếc-ri.
28. Những kẻ ấy làm trưởng tộc, đứng đầu trong
dòng dõi của họ, và ở tại
thành Giê-ru-sa-lem.
29. tổ phụ của Ba-ba-ôn ở tại Ga-ba-ôn;
tên vợ người là Ma-a-ca.
30. Con trưởng nam người là Áp-đôn; lại
có sanh Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Na-đáp,
31. Ghê-đôn, A-hi-ô, và
Xê-ke.
32. Mích-lô sanh Si-mê-a;
chúng cũng đồng ở cùng anh em mình tại
Giê-ru-sa-lem đối mặt nhau.
33. Nê-rơ sanh Kích; Kích sanh Sau-lơ;
Sau-lơ sanh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp,
và Ếch-ba-anh.
34. Con trai của Giô-na-than là
Mê-ri-Ba-anh; Mê-ri-Ba-anh sanh Mi-ca.
35. Con trai của Mi-ca là Phi-thôn,
Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha.
36. A-cha sanh Giê-hô-a-đa;
Giê-hô-a-đa sanh A-lê-mết,
Át-ma-vết, và Xim-ri; Xim-ri sanh Một-sa;
37. Một-sa sanh Bi-nê-a; con trai của Bi-nê-a
là Ra-pha; Ra-pha sanh Ê-lê-a-sa,
Ê-lê-a-sa sanh A-xên.
38. A-xên có sáu con trai,
tên là A-ri-kham, Bốc-cu,
Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia,
và Ha-nan. hết thảy những người ấy đều là con
trai của A-xên.
39. con trai Ê-sết, anh em của A-xên, là
U-lam, con trưởng nam, Giê-úc thứ nhì,
và thứ ba là Ê-li-phê-lết.
40. Con trai của U-lam đều là anh hùng, mạnh dạn,
có tài bắn giỏi; chúng có
con và cháu rất đông, số là
một trăm năm mươi người. hết thảy người nầy đều là con
cháu của Bên-gia-min.
1 Sử-Ký 9
Home
1. Ấy vậy, cả dân Y-sơ-ra-ên được biên
vào sổ theo các gia phổ; kìa
đã ghi chép vào sách
ký lược của các vua Y-sơ-ra-ên.
Dân Giu-đa, tại tội lỗi họ, bị bắt đem qua nước
Ba-by-lôn.
2. Sau khi từ Ba-by-lôn trở về, các người ở đầu
tiên trong địa nghiệp và trong các
thành ấp của chúng, là người
Y-sơ-ra-ên, thầy tế lễ, người Lê-vi, và
người Nê-thi-nim.
3. Ở tại thành Giê-ru-sa-lem, có người
Giu-đa, người Bên-gia-min, người Ép-ra-im,
và người Mê-na-se.
4. Về dòng Phê-lết, là con của Giu-đa,
có U-thai, con trai của A-mi-hút,
A-mi-hút con trai của Ôm-ri, Ôm-ri con
trai của Im-ri, và Im-ri con trai của Ba-ni.
5. Bởi người Si-lô-ni có A-sai-gia con trưởng nam,
và các con trai của người.
6. Bởi con cái Xê-rách, có
Giê-u-ên và anh em người, là
sáu trăm chín mươi người.
7. Về dòng Bên-gia-min, có Sa-lu, con
trai của Mê-su-lam; Mê-su-lam, con trai của
Hô-đa-via; Hô-đa-via, con trai của
A-sê-nu-a;
8. lại có Gíp-nê-gia, con trai của
Giê-rô-ham, Ê-la con trai của U-xi; U-xi
là con trai của Mi-cơ-ri và Mê-su-lam,
con trai của Sê-pha-tia; Sê-pha-tia là
con trai của Rê-u-ên; Rê-u-ên
con trai của Gíp-nê-gia,
9. và anh em chúng kể theo thế hệ thì
được chín trăm năm mươi sáu người. Những người ấy
đều làm trưởng tộc.
10. Trong những thầy tế lễ có Giê-đai-gia,
Giê-hô-gia-ríp, Gia-kin,
11. và A-xa-ria, con trai của Hinh-kia; Hinh-kia con trai
của Mê-su-lam; Mê-su-lam con trai của Xa-đốc;
Xa-đốc con trai của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt, con
trai của A-hi-túp, là kẻ cai quản đền của
Ðức Chúa Trời;
12. lại có A-đa-gia, con trai của
Giê-rô-ham; Giê-rô-ham, con
trai của Pha-sua; Pha-sua, con trai của Manh-ki-gia; Manh-ki-gia, con
trai của Ma-ê-sai; Ma-ê-sai, con trai của
A-đi-ên; A-đi-ên, con trai của Gia-xê-ra;
Gia-xê-ra, con trai của Mê-su-lam;
Mê-su-lam, con trai của
Mê-si-lê-mít;
Mê-si-lê-mít, con trai của
Y-mê;
13. và anh em của chúng, số là một
ngàn bảy trăm sáu mươi người, đều làm
trưởng tộc, có tài hầu việc trong đền của
Ðức Chúa Trời.
14. Trong người Lê-vi có Sê-ma-gia, con
trai của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của
Ha-sa-bia; thảy đều thuộc về dòng Mê-ra-ri;
15. lại có Bác-ba-cát,
Hê-re, Ga-la, Ma-tha-nia, đều là con trai của
Mi-ca, cháu của Xiếc-ri, chắt của A-sáp;
16. Ô-ba-đia, con trai của Sê-ma-gia,
cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thum;
Bê-rê-kia, con trai của A-sa, cháu của
Ên-ca-na, là người ở trong làng
dân Nê-tô-pha-tít.
17. Những kẻ canh cửa, là Sa-lum, A-cúp,
Tanh-môn, A-hi-man, và anh em của
chúng; Sa-lum làm đầu.
18. Cho đến bây giờ họ canh cửa đông của vua;
còn xưa tổ tiên họ đều giữ cửa trại người
Lê-vi.
19. Sa-lum con trai Cô-rê, cháu của
Ê-bi-a-sáp, chắt của Cô-ra,
và anh em tông tộc mình; ấy
là dân Cô-rê lo coi
sóc sự phục dịch, và canh giữ các cửa
đền tạm; xưa tổ phụ chúng cai quản trại của Ðức
Giê-hô-va, và giữ cửa tại.
20. Xưa Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa,
làm quan cai chúng, và Ðức
Giê-hô-va ở với người.
21. Xa-cha-ri, con trai Mê-sê-lê-mia,
là kẻ giữ cửa hội mạc.
22. Những kẻ nầy đã được lựa chọn hầu canh giữ
các cửa, số được hai trăm mười hai người. Người ta
chép gia phổ họ theo các hương họ; vua
Ða-vít và Sa-mu-ên,
là đấng tiên kiến, đã lập mấy người ấy
trong chức của họ.
23. Ấy vậy, chúng và con cháu của
chúng, đều theo ban thứ, mà coi giữ
các cửa đền của Ðức Giê-hô-va,
tức là đền tạm.
24. Các kẻ giữ cửa đặt ở bốn phía đền về
đông, tây, nam, và bắc.
25. Các anh em chúng ở trong các
làng mình phải đến từng tuần, theo
phiên thứ, mà giúp đỡ.
26. Còn bốn người Lê-vi làm trưởng
những người canh cửa, hằng giữ chức mình, và coi
sóc các phòng và khung
thành trong đền của Ðức Chúa Trời.
27. Ban đêm chúng ở xung quanh đền của Ðức
Chúa Trời canh giữ nó; đến mỗi buổi
sáng sớm chúng lại lo mở cửa ra.
28. Trong bọn chúng cũng có mấy người được chức
giữ đồ khí dụng, vì các đồ ấy đem ra
đem vô y theo số.
29. Lại có kẻ khác được cắt coi sóc đồ
đạc và các khí dụng tại nơi
thánh, cùng lo giữ bột miến, rượu, dầu, nhũ
hương, và các thuốc thơm.
30. Có mấy kẻ trong bọn con trai những thầy tế lễ chế
các thứ hương hoa.
31. Còn Ma-ti-thia, người Lê-vi, con trưởng nam
của Sa-lum, thuộc về dòng Cô-rê, coi
sóc việc làm bánh rán trong
chảo.
32. Mấy kẻ trong vòng anh em chúng về
dòng Kê-hát, được chức coi về việc
làm bánh trần thiết, hễ đến ngày
sa-bát thì phải sắm cho sẵn.
33. Ðây là những người có chức
hát xướng, đều làm trưởng tộc trong người
Lê-vi, vẫn ở trong các phòng của đền,
và vì phục sự ngày và
đêm, nên được miễn các công
việc khác.
34. Những người ấy đều làm trưởng tộc của người
Lê-vi, theo dòng dõi họ, và
ở tại thành Giê-ru-sa-lem.
35. Giê-i-ên, tổ phụ của Ga-ba-ôn, ở tại
thành Ga-ba-ôn; tên vợ người
là Ma-a-ca.
36. Con trưởng nam của người là Áp-đôn;
lại sanh Xu-rơ, Kích, Banh, Nê-rơ,
Na-đáp,
37. Ghê-đô, A-hi-ô, Xa-cha-ri,
và Mích-lô.
38. Mích-lô sanh Si-mê-am.
Chúng cũng đồng ở cùng anh em mình
trong thành Giê-ru-sa-lem đối mặt nhau.
39. Nê-rơ sanh Kích; Kích sanh Sau-lơ;
Sau-lơ sanh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp,
và Ếch-ba-anh.
40. Con trai Giô-na-than là Mê-ri-Banh;
Mê-ri-Banh sanh Mi-ca.
41. Con trai của Mi-ca là Phi-thôn,
Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha.
42. A-cha sanh Gia-ê-ra; Gia-ê-ra sanh
A-lê-mết, Ách-ma-vết và Xim-ri; Xim-ri
sanh Một-sa;
43. Một-sa sanh Bi-nê-a, con trai Bi-nê-a
là Rê-pha-gia; Rê-pha-gia sanh
Ê-lê-a-sa, và
Ê-lê-a-sa sanh A-xên.
44. A-xên có sáu người con trai,
tên là A-ri-kham, Bốc-ru,
Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia,
và Ha-nan; ấy đều là con trai của A-xên.
1 Sử-Ký 10
Home
1. Vả, dân Phi-li-tin tranh chiến với Y-sơ-ra-ên.
Dân Y-sơ-ra-ên chạy trốn khỏi trước mặt
dân Phi-li-tin, có nhiều người bị thương chết
trên núi Ghinh-bô-a.
2. Dân Phi-li-tin đuổi theo kịp Sau-lơ và
các con trai người, đánh giết các con
trai ấy, là Giô-na-than, A-bi-na-đáp,
và Manh-ki-sua.
3. Cơn giặc rất kịch liệt, làm cho Sau-lơ thiệt cực khổ; khi
lính cầm cung kịp đến người bèn bắn người bị
thương.
4. Sau-lơ bảo kẻ vác binh khí hầu mình
rằng: Ngươi hãy tuốt gươm của ngươi và
đâm giết ta, kẻo kẻ chẳng chịu cắt bì kia đến sản
nghiệp ta. Song kẻ vác binh khí người
không khứng vâng mạng, vì lấy
làm sợ hãi. Sau-lơ bèn cầm lấy gươm
mình cúi thúc vào ngực.
5. Khi kẻ vác binh khí thấy Sau-lơ chết rồi,
thì cũng lấy gươm cúi thúc
vào ngực mình luôn.
6. Vậy, Sau-lơ, ba con trai người, và cả nhà
người đều đồng nhau chết.
7. Khi dân Y-sơ-ra-ên ở trong đồng bằng thấy đạo
binh chạy trốn, Sau-lơ cùng các con trai người
đã chết rồi, thì bỏ thành
mình mà trốn đi; dân Phi-li-tin đến ở
trong các thành ấy.
8. Ngày hôm sau, dân Phi-li-tin đến
bóc lột những kẻ tử trận, thấy Sau-lơ và
các con trai người ngã chết trên
núi Ghinh-bô-a.
9. Chúng bóc lột thây Sau-lơ,
chém đầu người, cất lấy binh khí người, rồi sai
kẻ đi khắp xứ Phi-li-tin, để báo tin cho các thần
tượng và dân sự.
10. Chúng để binh khí của người tại trong miễu
các thần của chúng nó, còn
đầu người thì đóng đinh treo trong
chùa Ða-gôn.
11. Khi dân cư Gia-be ở Ga-la-át nghe những điều
dân Phi-li-tin đã làm cho Sau-lơ,
12. thì những người mạnh dạn đều cảm động đi lên
cướp lấy xác vua Sau-lơ và xác
các con trai người, đem về Gia-be, chôn
hài cốt của họ dưới cây thông tại
Gia-be, đoạn kiêng ăn bảy ngày.
13. Ấy vậy, vua Sau-lơ chết, vì tội lỗi mình
đã phạm cùng Ðức
Giê-hô-va, và vì chẳng
có vâng theo mạng lịnh của Ngài; lại
vì đã cầu hỏi bà bóng,
14. chẳng có cầu hỏi Ðức
Giê-hô-va; vậy, vì cớ ấy Ngài
giết người, dời nước người cho về Ða-vít, con trai
Y-sai.
1 Sử-Ký 11
Home
1. Lúc ấy, cả Y-sơ-ra-ên đều nhóm đến
cùng Ða-vít tại Hếp-rôn,
mà nói rằng: Kìa, chúng
tôi vốn là xương thịt của ông.
2. Khi trước dầu Sau-lơ còn cai trị chúng
tôi, thì ông đã dẫn
dân Y-sơ-ra-ên vào ra; và
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
ông có phán cùng
ông rằng: Ngươi sẽ chăn nuôi dân ta
là Y-sơ-ra-ên, làm quan tướng
chúng nó.
3. Ấy vậy, các trưởng lão Y-sơ-ra-ên
đến cùng vua ở Hếp-rôn; Ða-vít
bèn lập giao ước với chúng tại Hếp-rôn
trước mặt Ðức Giê-hô-va; đoạn,
chúng xức dầu cho Ða-vít làm
vua trên Y-sơ-ra-ên, y như lời của Ðức
Giê-hô-va đã cậy Sa-mu-ên
phán ra vậy.
4. Ða-vít và cả dân
Y-sơ-ra-ên đi lên thành
Giê-ru-sa-lem, ấy là Giê-bu; ở
đó có người Giê-bu-sít,
là dân của xứ.
5. Dân cư Giê-bu nói cùng
Ða-vít rằng: Ngươi sẽ chẳng hề vào
đây. Dầu vậy, Ða-vít chiếm lấy đồn lũy
Si-ôn, lấy là thành
Ða-vít.
6. Ða-vít nói rằng: Hễ ai hãm
đánh dân Giê-bu-sít trước
hết, ắt sẽ được làm trưởng và làm
tướng. Vậy, Giô-áp, con trai Xê-ru-gia,
đi lên đánh trước hết, nên được
làm quan trưởng.
7. Ða-vít ở trong đồn; vậy nên gọi
là thành Ða-vít.
8. Người xây tường thành bốn phía, từ
Mi-lô cho đến khắp chung quanh; còn phần
thành dư lại thì Giô-áp sửa
sang.
9. Ða-vít càng ngày
càng cường thạnh; vì Ðức
Giê-hô-va vạn quân ở cùng
người.
10. Ðây là những kẻ làm tướng
các lính mạnh dạn của Ða-vít,
và đã phụ giúp người được
ngôi nước, cùng với cả Y-sơ-ra-ên, lập
người lên làm vua, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán về
Y-sơ-ra-ên.
11. Nầy là số các lính mạnh dạn của
Ða-vít: Gia-sô-bê-am, con trai
của Hác-mô-ni, làm đầu các
tướng; ấy là người dùng giáo
mình mà giết ba trăm người trong một lượt.
12. Sau người có Ê-lê-a-sa, con trai của
Ðô-đô, ở A-hô-a, là
một người trong ba người mạnh dạn.
13. Người nầy ở cùng Ða-vít nơi
Pha-đa-mim, khi quân Phi-li-tin nhóm lại đặng giao
chiến. Ở đó có một đám ruộng mạch nha,
và dân sự đều chạy trốn khỏi mặt dân
Phi-li-tin.
14. Còn họ đều đứng trong ruộng binh vực nó,
và đánh hơn dân Phi-li-tin,
và Ðức Giê-hô-va khiến cho họ
đặng sự thắng trận rất lớn.
15. Trong bọn ba mươi người làm tướng, có ba
người đi xuống hang đá A-đu-lam, đến cùng
Ða-vít. Còn đội quân Phi-li-tin
đóng trại trong trũng Rê-pha-im.
16. Lúc ấy Ða-vít ở trong đồn,
và có phòng binh của dân
Phi-li-tin ở Bết-lê-hem.
17. Ða-vít ước ao rằng: Than ôi! chớ
gì ai ban cho ta nước uống của giếng bên cửa
thành Bết-lê-hem!
18. Vậy, ba người nầy xông ngang qua trại Phi-li-tin
múc nước trong giếng bên cửa thành
Bết-lê-hem, đem về cho Ða-vít uống; song
người chẳng chịu uống, bèn rảy nước ấy ra trước mặt
Ðức Giê-hô-va,
19. mà nói rằng: Cầu Chúa giữ lấy
tôi, đừng để tôi làm sự nầy;
tôi hẳn không uống huyết của ba người nầy,
đã liều thân mình đặng đem nước đến.
Vì cớ ấy nên người không chịu uống. Ấy
là công việc của ba người mạnh dạn đó
đã làm.
20. Lại có A-bi-sai, em của Giô-áp,
làm đầu trong ba người mạnh dạn; người dùng
giáo mình giết ba trăm người, nên nổi
danh tiếng trong ba người ấy.
21. Trong ba người mạnh dạn ấy, người sang trọng hơn, được
làm trưởng của họ, song chẳng bằng ba người trước.
22. Lại có Bê-na-gia, con trai
Giê-hô-gia-đa ở
Cáp-xê-ên, là một người mạnh
dạn đã làm nhiều công việc cả thể;
người đã giết hai người Mô-áp mạnh bạo
hơn hết; trong kỳ sa tuyết, người xuống một cái hố giết một
con sư tử.
23. Ngài cũng đánh giết một người
Ê-díp-tô cao năm thước; người
Ê-díp-tô cầm nơi tay cây
giáo lớn bằng trục máy dệt, còn
Bê-na-gia xuống đón người, cầm một cây
gậy, rút lấy giáo khỏi tay người
Ê-díp-tô, dùng
giáo nó mà giết nó.
24. Ấy là công việc Bê-na-gia, con trai
Giê-hô-gia-đa, đã làm, được
nổi danh tiếng trong ba người mạnh dạn.
25. Trong ba mươi người mạnh dạn, người được sang trọng hơn hết, song
chẳng bằng ba người trước. Ða-vít nhận người
vào bàn mật nghị mình.
26. Lại có các người mạnh dạn trong đội binh,
là: A-sa-ên, em của Giô-áp;
Ên-ca-nan, con trai của Ðô-đô ở
Bết-lê-hem;
27. Sa-mốt, người Ha-rôn; Hê-lết, người
Pha-ôn;
28. Y-ra, con trai của Y-kết ở Thê-kô-a;
A-bi-ê-xe ở A-na-tốt;
29. Si-bê-cai ở Hu-sa; Y-lai ở A-hô-a;
30. Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; Hê-lết, con
trai của Ba-a-na ở Nê-tô-pha;
31. Y-tai, con trai Ri-bai ở Ghi-bê-a, thành của
con cái Bên-gia-min; Bê-na-gia ở
Phi-ra-thôn;
32. Hu-rai ở Na-ha-lê-Ga-ách; A-bi-ên ở
A-ra-ba;
33. Ách-ma-vết ở Ba-hu-rim; Ê-li-ác-ba
ở Sa-anh-bôn;
34. Bê-nê-ha-sem ở Ghi-xôn;
Giô-na-than, con trai Sa-ghê ở Ha-ra;
35. A-hi-giam, con trai Sa-ca ở Ha-ra; Ê-li-pha, con trai
U-rơ;
36. Hê-phe ở Mê-kê-ra; A-hi-gia ở
Pha-lôn;
37. Hết-rô ở Cạt-mên; Na-a-rai, con trai E-bai;
38. Giô-ên em của Na-than,; Mi-bê-ha, con
trai của Ha-gơ-ri; Xê-léc là người
Am-môn;
39. Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là kẻ
vác binh khí của Giô-áp, con
trai của Xê-ru-gia;
40. Y-ra ở Giê-the; Ga-rép cũng ở
Giê-the;
41. U-ri người Hê-tít; Xa-bát, con trai
Ạc-lai;
42. A-đi-na, con trai của Si-xa, người Ru-bên, làm
trưởng dòng Ru-bên, và có ba
mươi binh chiến ở với người;
43. Ha-nan, con trai của Ma-a-ca; Giô-sa-phát ở
Mê-then;
44. U-xia ở Ách-ta-rốt; Sa-ma và
Giê-hi-ên, con trai của Hô-tam ở
A-rô-e;
45. Giê-đi-a-ên, con trai của Sim-ri;
Giô-ha, anh em người dân Thi-sít;
46. Ê-li-en ở Ma-ha-vim; Giê-ri-bai và
Giô-sa-via, con trai của Ên-na-am;
Gít-ma là người Mô-áp;
47. Ê-li-ên, Ô-bết, và
Gia-a-si-ên, là người Mết-sô-ba.
1 Sử-Ký 12
Home
1. Trong khi Ða-vít tránh khỏi mặt
Sau-lơ, con trai của Kích, thì có mấy
người mạnh dạn đến cùng người, tại Xiếc-lạc giúp
đỡ người trong cơn giặc.
2. Chúng đều có tài giương cung, giỏi
dùng dây gióng liệng đá, cầm
cung bắn tên, hoặc bằng tay hữu hay là bằng tay
tả; cả đều thuộc về dòng Sau-lơ, về chi phái
Bên-gia-min. Nầy là tên họ:
3. A-hi-ê-xe làm đầu, và
Giô-ách, con trai của Sê-ma ở
Ghi-bê-a, Giê-xi-ên và
Phê-lết, con trai của Ách-ma-vết;
Bê-ca-ra, Giê-hu ở A-na-tốt;
4. Gít-mai-gia ở Ga-ba-ôn, là kẻ mạnh
dạn trong ba mươi người kia, và làm đầu họ; lại
có Giê-rê-mi; Gia-ha-xi-ên;
Giô-ha-nan; Giô-xa-bát ở
Ghê-đê-ra;
5. Ê-lu-xai; Giê-ri-mốt; Bê-a-lia;
Sê-ma-ri-a; Sê-pha-ti-a ở Ha-rốp;
6. Ên-ca-na, Di-si-gia, A-xa-rên,
Giô-ê-xe, và
Gia-sô-bê-am, người Cô-rê;
7. Giô-ê-la và Xê-ba-đia, con
trai của Giê-rô-ham ở Ghê-đô.
8. Trong chi phái Gát, có những người
tới cùng Ða-vít tại nơi đồn trong đồng
vắng, vốn là kẻ mạnh mẽ, có tài chiến
trận, cầm khiên, cầm giáo, diện mạo như sư tử,
lanh lẹ như hoàng dương trên núi.
9. Ê-xe làm đầu; Ô-ba-đia thứ
nhì, Ê-li-áp thứ bảy,
10. Mích-ma-nan thứ tư, Giê-rê-mi thứ
năm,
11. Ạt-tai thứ sáu, Ê-li-ên thứ bảy,
12. Giô-ha-nan thứ tám,
Ên-xa-bát thứ chín,
13. Giê-rê-mi thứ mười, Mác-ba-nai thứ
mười một,
14. chúng đều là con cháu của
Gát, và làm quan cai cơ binh; kẻ nhỏ
cai một trăm người, kẻ lớn cai một ngàn người.
15. Ấy là những kẻ đi qua sông Giô-đanh
trong tháng giêng, lúc nước ngập hai
bên bờ, đuổi các dân sự ở tại trũng hoặc
về phía đông hay về phía tây.
16. Lại có người thuộc về Bên-gia-min
và Giu-đa cũng đi tới cùng
Ða-vít trong đồn người.
17. Ða-vít ra đón rước chúng,
mà nói rằng: Nếu các ngươi đến
cùng ta cách hòa bình để
hùa giúp ta, thì lòng ta sẽ
hiệp cùng các ngươi; ví bằng
các ngươi thầm mưu lừa ta cho kẻ thù nghịch,
nguyện Ðức Chúa Trời của tổ phụ ta xem
xét và đoán phạt; vì tay ta
không có phạm điều lỗi nào.
18. Khi ấy có A-ma-sai làm đầu trong ba mươi
người ấy, được Thánh Linh cảm động, mà
nói rằng: Hỡi Ða-vít, chúng
tôi đều về ông! Hỡi con trai Y-sai,
chúng tôi binh vị ông! Nguyện
ông được bình yên, bình
yên; nguyện kẻ giúp đỡ ông cũng được
bình yên; bởi vì Ðức
Chúa Trời ông phò trợ ông!
Ða-vít bèn nhận tiếp các ngươi
ấy, đặt làm tướng.
19. Cũng có mấy người thuộc về Mê-na-se đến theo
Ða-vít khi người cùng quân
Phi-li-tin đi giao chiến cùng Sau-lơ; song họ chẳng
giúp đỡ quân Phi-li-tin, vì
các quan trưởng Phi-li-tin bàn luận nhau rằng: Sợ
e nó trở về cùng Sau-lơ, chủ nó,
làm nguy cho đầu chúng ta chăng.
20. Khi người trở về Xiếc-lạc, có mấy người bởi
Mê-na-se đến theo người, là Át-na,
Giô-xa-bát, Ê-li-hu, và
Xi-lê-thai, đều làm quan-cai ngàn
quân trong chi phái Mê-na-se.
21. Những kẻ nầy phụ giúp Ða-vít đối địch
với quân giặc cướp, bởi vì chúng đều
là người mạnh dạn, và làm quan tướng
đội binh.
22. Hằng ngày có người đến cùng
Ða-vít đặng giúp đỡ người, cho đến khi
thành đội quân lớn, như đội quân của
Ðức Chúa Trời.
23. Ðây là số các
quân lính đến cùng
Ða-vít tại Hếp-rôn, đặng làm
cho nước Sau-lơ thuộc về người, theo như lời của Ðức
Giê-hô-va.
24. Trong con cháu Giu-đa có sáu
ngàn tám trăm người đều cầm khiên, cầm
giáo, sắm sửa tranh chiến.
25. Bởi con cháu Si-mê-ôn, có
bảy ngàn một trăm người mạnh dạn đều ra trận được.
26. Bởi con cháu Lê-vi, có bốn
ngàn sáu trăm.
27. Giê-hô-gia-đa cai quản nhà
A-rôn, và với người có ba
ngàn bảy trăm người.
28. Lại có Xa-đốc, là kẻ trai trẻ mạnh dạn,
và với người có hai mươi hai trưởng của
nhà cha người.
29. Về con cháu Bên-gia-min, anh em của Sau-lơ,
được ba ngàn người; vì đến bấy giờ, phần lớn hơn
chúng nó còn đương theo nhà
Sau-lơ.
30. Về con cháu Ép-ra-im, có được hai
vạn tám trăm người, đều là người mạnh dạn,
có danh tiếng trong nhà cha mình.
31. Về nửa chi phái Mê-na-se, có một
vạn tám ngàn người, ai nấy đều kể từng
tên, đến đặng lập Ða-vít làm
vua.
32. Về con cháu Y-sa-ca, có những kẻ hiểu biết
thì giờ, và việc dân
Y-sơ-ra-ên nên làm; chúng
nó hai trăm trưởng tộc; còn những người anh em
chúng cũng vâng lịnh chúng
bàn.
33. Về Sa-bu-lôn, có năm vạn người hay
bày trận, cầm các thứ binh khí dự bị
đặng giao chiến, hàng ngũ chỉnh tề, có một
lòng một dạ.
34. Về Nép-ta-li, có một ngàn quan
cai, với ba vạn bảy ngàn người cầm khiên cầm
giáo theo mình.
35. Về Ðan, có hai vạn tám
ngàn sau trăm người có tài
dàn trận.
36. Về A-se, có bốn vạn người hay kéo ra chinh
chiến, và có tài dàn trận.
37. Còn về Ru-bên, Gát, và
về nửa chi phái Mê-na-se ở bên kia
sông Giô-đanh, có mười hai vạn người cầm
các thứ binh khí sẵn ra trận.
38. Những người nầy là lính chiến có
tài bày trận, đều lấy lòng
thành mà kéo đến Hếp-rôn
đặng lập Ða-vít làm vua trên cả
Y-sơ-ra-ên; còn những người khác trong
Y-sơ-ra-ên cũng đều một lòng một dạ muốn
tôn Ða-vít làm vua.
39. Chúng ở lại với vua Ða-vít ba
ngày và ăn uống; vì anh em của
chúng đã sắm sẵn cho.
40. Còn những người ở miền lân cận hơn cho đến đất
Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, và Nép-ta-li đều
đem chở bằng lửa, lạc đà, con la, và con
bò, nào bánh mì, bột miến,
trái vả, nho khô, rượu, dầu, cùng dẫn
bò và chiên đến rất nhiều, bởi
vì có sự vui vẻ nơi Y-sơ-ra-ên.
1 Sử-Ký 13
Home
1. Ða-vít hội nghị với quan tướng ngàn
quân, quan tướng trăm quân, cùng
các quan trưởng của dân.
2. Ða-vít nói với cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên rằng: Nếu các ngươi lấy đều nầy
làm tốt lành, và nếu sự nầy do nơi
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng ta mà đến, thì ta hãy
sai người đi khắp mọi nơi, đến cùng anh em chúng
ta còn lại ở khắp xứ Y-sơ-ra-ên, và đến
cùng những thầy tế lễ và người Lê-vi ở
trong các thành địa hạt chúng, để
nhóm chúng lại cùng ta;
3. rồi chúng ta phải thỉnh hòm của Ðức
Chúa Trời về cùng chúng ta;
vì trong đời Sau-lơ, chúng ta không
có đến trước hòm giao ước mà cầu vấn
Ðức Chúa Trời.
4. Cả hội chúng đều nói rằng nên
làm như vậy; vì cả dân sự lấy lời ấy
làm tốt lành.
5. Ða-vít bèn nhóm cả
Y-sơ-ra-ên, từ Si-ho, khe
Ê-díp-tô, cho đến nơi nào
Ha-mát, để rước hòm của Ðức
Chúa Trời từ Ki-ri-át-Giê-a-rim về.
6. Ða-vít và cả Y-sơ-ra-ên đồng
đi lên Ba-a-la, tại Ki-ri-át-Giê-a-rim,
thuộc về Giu-đa, đặng rước hòm của Ðức
Chúa Trời lên, tức là Ðức
Giê-hô-va ngự giữa Chê-ru-bin,
là nơi cầu khẩn danh của Ngài.
7. Chúng rước hòm giao ước của Ðức
Chúa Trời từ nhà A-bi-na-đáp, để
lên trên một cái cộ mới; còn
U-xa và A-hi-ô thì dắt cộ.
8. Ða-vít và cả Y-sơ-ra-ên đều
hết sức vui chơi trước mặt Ðức Chúa Trời, xướng ca,
dùng đờn cầm, đờn sắt, trống nhỏ, chập chỏa, và
kèn mà vui mừng.
9. Khi chúng đến sân đạp lúa của
Ki-đôn, U-xa bèn giơ tay ra nắm lấy
hòm, bởi vì bò trợt bước.
10. cơn thịnh nộ của Ðức Giê-hô-va nổi
lên cùng U-xa, và Ngài
đánh người, bởi vì người có giơ tay ra
trên hòm; người bèn chết tại
đó trước mặt Ðức Chúa Trời.
11. Ða-vít chẳng vừa ý, vì
Ðức Giê-hô-va đã hành
hạ U-xa; người gọi nơi ấy là Bê-rết-U-xa,
hãy còn gọi vậy cho đến ngày nay.
12. Trong ngày ấy, Ða-vít lấy
làm sợ hãi Ðức Chúa Trời,
mà nói rằng: Ta rước hòm của
Ðức Chúa Trời vào nhà ta sao
được?
13. Vậy, Ða-vít không thỉnh hòm
về nhà mình tại trong thành
Ða-vít, nhưng bởi đem để vào
nhà Ô-bết-Ê-đôm, là
người Gát.
14. Hòm của Ðức Chúa Trời ở ba
tháng trong nhà
Ô-bết-Ê-đôm; Ðức
Giê-hô-va ban phước cho nhà
Ô-bết-Ê-đôm và mọi vật thuộc
về người.
1 Sử-Ký 14
Home
1. Hi-ram, vua Ty-rơ, sai sứ giả đến Ða-vít,
cùng gởi gỗ bá hương, thợ hồ, thợ mộc, đặng cất
cho người một cái cung.
2. Ða-vít nhìn biết rằng Ðức
Giê-hô-va đã vững lập mình
làm vua trên Y-sơ-ra-ên; vì
cớ dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, nước người
được hưng vượng thêm.
3. Tại Giê-ru-sa-lem, Ða-vít lại
còn lấy vợ khác, và sanh những con
trai con gái.
4. Nầy là tên các con cái
người sanh tại Giê-ru-sa-lem: Sa-mua,
Sô-háp, Na-than, Sa-lô-môn,
5. Gi-ba, Ê-li-sua, Ên-bê-lết,
6. Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia,
7. Ê-li-sa-ma, Bê-ên-gia-đa,
và Ê-li-phê-lết.
8. Khi dân Phi-li-tin hay rằng Ða-vít
đã được xức dầu làm vua trên cả
Y-sơ-ra-ên, thì hết thảy người Phi-li-tin đều đi
lên đặng tìm người; Ða-vít hay
đều đó, bèn đi ra đón chúng
nó.
9. Vả dân Phi-li-tin đã loán đến,
tràn ra trong trũng Rê-pha-im.
10. Ða-vít cầu vấn Ðức Chúa Trời
rằng: Tôi phải đi lên đánh dân
Phi-li-tin chăng? Chúa sẽ phó chúng
nó vào tay tôi chăng? Ðức
Giê-hô-va đáp lời cùng người
rằng: Hãy đi lên, ta sẽ phó
chúng nó vào tay ngươi.
11. Ngài Phi-li-tin kéo lên
Ba-anh-Phê-rát-sim, rồi tại đó
Ða-vít đánh chúng
nó; đoạn, Ða-vít nói rằng:
Ðức Chúa Trời có dùng tay ta
đã đánh phá cơn thịnh nộ ta, như nước
phá vỡ vậy; bởi cớ ấy người ta gọi chỗ đó
là Ba-anh-Phê-rát-sim.
12. Người Phi-li-tin bỏ các thần tượng mình tại
đó; Ða-vít truyền thiêu
nó trong lửa.
13. Người Phi-li-tin lại bủa khắp trong trũng.
14. Ða-vít cầu vấn Ðức Chúa Trời
nữa; Ðức Chúa Trời đáp với người rằng:
Ngươi chớ đi lên theo chúng nó;
hãy đi vòng chúng nó, rồi
đến hãm đánh chúng nó tại
nơi đối ngang cây dâu.
15. Vừa khi ngươi nghe tiếng bước đi trên ngọn cây
dâu, bấy giờ ngươi sẽ kéo ra trận; vì
Ðức Chúa Trời ra trước ngươi đặng hãm
đánh đạo quân Phi-li-tin.
16. Ða-vít làm y như lời Ðức
Chúa Trời đã phán dặn; họ
đánh đuổi đạo quân Phi-li-tin từ
Ga-ba-ôn cho đến Ghê-xe.
17. Danh của Ða-vít đồn ra trong khắp các
nước; Ðức Giê-hô-va khiến cho
các dân tộc đều kính sợ
Ða-vít.
1 Sử-Ký 15
Home
1. Ða-vít cất cho mình những cung điện
tại thành Ða-vít, và sắm sửa
một nơi cho hòm của Ðức Chúa Trời,
cùng dựng nhà trại cho hòm ấy.
2. Khi ấy Ða-vít bèn nói rằng:
Ngoại trừ người Lê-vi, chẳng ai xứng đáng
khiêng hòm của Ðức Chúa Trời,
và hầu việc Ngài luôn luôn.
3. Ða-vít bèn nhóm cả
Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem, đặng thỉnh
hòm của Ðức Chúa Trời về nơi người
đã sắm sửa cho hòm.
4. Ða-vít cũng hội lại các con
cháu A-rôn và người Lê-vi:
5. về dòng Kê-hát có
U-ri-ên, là trưởng tộc, cùng
các anh em người, được hai trăm hai mươi người;
6. về dòng Mê-ra-ri có A-sa-gia,
là trưởng tộc, cùng các anh em người,
được hai trăm hai mươi người;
7. về dòng Ghẹt-sôn có
Giô-ên, là trưởng tộc, cùng
các anh em người, được một trăm ba mươi người;
8. về dòng Ê-li-sa-phan có
Sê-ma-gia, là trưởng tộc, cùng
các anh em người, được hai trăm người;
9. về dòng Hếp-rôn có
Ê-li-ên, là trưởng tộc, cùng
các anh em người, được tám mươi người;
10. về dòng U-xi-ên có
A-mi-na-đáp, là trưởng tộc, cùng
các anh em người, được một trăm mười hai người.
11. Ða-vít gọi thầy tế lễ Xa-đốc, A-bia-tha,
và những người Lê-vi, tức U-ri-ên,
A-sa-gia, Giô-ên, Sê-ma-gia,
Ê-li-ên, và A-mi-na-đáp,
mà bảo rằng:
12. Các ngươi là tộc trưởng của chi
phái Lê-vi; vậy, hãy cùng
anh em các ngươi dọn mình cho thánh
sạch, rồi khiêng hòm của
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên đến nơi mà ta đã sắm sẵn cho
hòm.
13. Vì tại lần trước các ngươi không
theo lệ đã định mà cầu vấn Ðức
Giê-hô-va; nên
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng ta đã hành hạ chúng
ta.
14. Vậy, những thầy tế lễ và người Lê-vi dọn
mình cho thánh sạch đặng thỉnh hòm của
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên.
15. Các con cháu Lê-vi dùng
đòn khiêng hòm của Ðức
Chúa Trời trên vai mình, y như
Môi-se đã dạy bảo tùy lời của
Ðức Giê-hô-va.
16. Ða-vít truyền cho các trưởng tộc
người Lê-vi; hãy cắt trong anh em họ những người
hát xướng, cầm các thứ nhạc khí, ống
quyển, đờn cầm, chập chỏa để cất tiếng vui mừng vang rền lên.
17. Người Lê-vi bèn cắt Hê-man, con trai
của Giô-ên, và A-sáp, con
trai của Bê-rê-kia thuộc trong dòng họ
người; lại về dòng Mê-ra-ri, là anh em
họ, thì đặt Ê-than, con trai của Cu-sa-gia;
18. chung với các ngươi ấy lại lập những anh em
dòng thứ, là Xa-cha-ri, Bên,
Gia-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt,
Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp,
Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia,
Ô-bết-Ê-đôm, và
Giê-i-ên, là người giữ cửa.
19. Những người hát xướng, là Hê-man,
A-sáp, và Ê-than, dùng những
chập chỏa đồng, đặng vang dầy lên;
20. Xa-cha-ri, A-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt,
Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp,
Ma-a-xê-gia, và Bê-na-gia,
dùng ống quyển thổi theo điệu A-la-mốt;
21. Còn Ma-ti-thia,
Ê-li-phê-lê,
Mích-nê-gia,
Ô-bết-Ô-đôm,
Giê-i-ên, và A-xa-xia, đều
dùng đờn cầm đánh theo giọng
Sê-mi-nít, đặng dẫn tiếng hát.
22. Kê-na-nia, trưởng tộc người Lê-vi, cai việc ca
xướng, và dạy hát, vì người giỏi về
nghề ấy.
23. còn Bê-rê-kia và
Ên-ca-na giữ cửa trước hòm giao ước.
24. Sê-ba-nia, Giô-sa-phát,
Nê-tha-nê-ên, A-ma-xai, Xa-cha-ri,
Bê-na-gia, và Ê-li-ê-se, tức
là những thầy tế lễ, đều thổi kèn trước
hòm của Ðức Chúa Trời;
Ô-bết-Ê-đôm và
Giê-hi-gia giữ cửa trước hòm giao ước.
25. Vậy, Ða-vít, các trưởng
lão của Y-sơ-ra-ên, và các
quan tướng ngàn quân, đều đi thỉnh hòm
giao ước của Ðức Giê-hô-va lên từ
nhà của Ô-bết-Ê-đôm
cách vui mừng.
26. Khi Ðức Chúa Trời phù trợ người
Lê-vi khiêng hòm giao ước của
Ðức Giê-hô-va, thì người ta tế
lễ bảy con bò đực và bảy con chiên đực.
27. Ða-vít và các người
Lê-vi khiêng hòm, kẻ ca hát,
và Kê-na-nia, làm đầu những kẻ
hát, đều mặc áo vải gai mịn;
Ða-vít cũng mặc trên mình một
cái ê-phót bằng vải gai.
28. Như vậy cả Y-sơ-ra-ên đều thỉnh hòm giao ước
của Ðức Giê-hô-va lên,
có tiếng vui mừng, tiếng còi, tiếng
kèn, chập chỏa, và vang dầy giọng đờn cầm đờn sắt.
29. Khi hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va đến thành
Ða-vít, thì Mi-canh, con gái
của Sau-lơ, ngó ngang qua cửa sổ, thấy vua
Ða-vít nhảy nhót vui chơi, thì
trong lòng khinh bỉ người.
1 Sử-Ký 16
Home
1. Chúng thỉnh hòm của Ðức
Chúa Trời về, để trong trại của Ða-vít
đã dựng lên cho nó; đoạn dâng
những của lễ thiêu và của lễ bình an
tại trước mặt Ðức Chúa Trời.
2. Khi Ða-vít đã dâng của lễ
thiêu và của lễ bình an xong,
bèn nhơn danh Ðức Giê-hô-va
chúc phước cho dân sự;
3. đoạn phân phát cho hết thảy người
Y-sơ-ra-ên, cả nam và nữ, mỗi người một ổ
bánh, một miếng thịt, và một cái
bánh nho khô.
4. Ngươi lập mấy người Lê-vi hầu việc trước hòm
của Ðức Giê-hô-va, ngợi khen, cảm tạ,
và ca tụng Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên:
5. A-sáp làm chánh, Xa-cha-ri
làm phó, rồi thì
Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt,
Giê-hi-ên, Ma-ti-thia,
Ê-li-áp, Bê-na-gia,
Ô-bết-Ê-đôm, và
Giê-i-ên, đều cầm nhạc khí, đờn cầm
và đờn sắt; còn A-sáp nổi chập chỏa
vang lên.
6. Bê-na-gia và thầy tế lễ Gia-ha-xi-ên
đều hằng thổi kèn ở trước hòm giao ước của
Ðức Chúa Trời.
7. Trong ngày đó, Ða-vít trao
nơi tay A-sáp và anh em người bài
hát nầy, đặng ngợi khen Ðức
Giê-hô-va:
8. Ðáng ngợi khen Ðức
Giê-hô-va cầu khẩn danh Ngài,
Và đồn công việc Ngài ra giữa
các dân tộc!
9. Hãy ca hát cho Ngài, hãy
ngợi khen Ngài! Suy gẫm về các công
việc mầu của Ngài.
10. Hãy lấy danh thánh Ngài
làm vinh; Phàm ai tìm cầu Ðức
Giê-hô-va, khá vui lòng!
11. Phải tìm cầu Ðức Giê-hô-va
và sức mạnh Ngài, Phải tìm mặt
Ngài luôn luôn.
12. Hỡi dòng dõi của Y-sơ-ra-ên,
là đầy tớ Ngài, Hỡi con cháu của
Gia-cốp, là kẻ Ngài chọn,
13. Hãy nhớ lại công việc mầu của Ngài
đã làm, Những phép lạ Ngài,
và lời xét đoán của miệng
Ngài.
14. Ngài vốn là Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của chúng ta; Sự
xét đoán Ngài làm ra khắp
thế gian.
15. Khá nhớ đời đời sự giao ước Ngài,
Và mạng lịnh Ngài đã định cho
ngàn đời,
16. Tức giao ước, Ngài đã lập cùng
Áp-ra-ham, Và lời thề Ngài
đã thề cùng Y-sác;
17. Lại quyết định cho Gia-cốp làm điều lệ, Cho
Y-sơ-ra-ên làm giao ước đời đời,
18. Rằng: Ta sẽ ban cho ngươi xứ Ca-na-an, Là phần cơ nghiệp
ngươi.
19. Khi ấy các ngươi chỉ một số ít người,
Hèn mọn, và làm khách trong
xứ;
20. Trảy từ dân nầy qua dân kia, Từ nước nầy đến
nước khác.
21. Ngài không cho ai hà hiếp
chúng, Ngài trách phạt các
vua vì cớ họ,
22. Mà rằng: Chớ đụng đến những kẻ chịu xức dầu ta,
Ðừng làm hại cho các tiên tri
ta.
23. Hỡi người khắp thế gian, khá hát ngợi khen
Ðức Giê-hô-va; Ngày
ngày hãy tỏ ra sự chửng cứu của Ngài!
24. Trong các nước hãy thuật sự vinh hiển của
Ngài; Tại muôn dân khá kể
những công việc mầu của Ngài.
25. Vì Ðức Giê-hô-va
là lớn, rất đáng ngợi khen,
Ðáng kính sợ hơn các thần.
26. Vì các thần của những dân tộc vốn
là hình tượng; Còn Ðức
Giê-hô-va dựng nên các từng
trời.
27. Ở trước mặt Ngài có sự vinh hiển, oai nghi;
Tại nơi Ngài ngự có quyền năng và sự
vui vẻ,
28. Hỡi các dòng của muôn
dân, Khá tôn Ðức
Giê-hô-va vinh hiển và quyền năng;
29. Khá tôn Ðức
Giê-hô-va vinh hiển xét đoán
danh Ngài, Ðem lễ vật đến trước mặt Ngài;
hãy mặc lấy trang sức thánh khiết mà
thờ lạy Ðức Giê-hô-va.
30. Hỡi khắp thiên hạ, khá run sợ trước mặt
Ngài. Thế giới cũng được vững bền, không sao lay
động.
31. Các từng trời hãy vui mừng, trái
đất khá hỉ lạc; Còn trong các nước
người ta đáng nói: Ðức
Giê-hô-va quản trị!
32. Biển và mọi vật ở trong phải dội tiếng lớn
lên; Ðồng nội và vạn vật trong
nó đều khá vui vẻ!
33. Bấy giờ các cây cối trong rừng sẽ
hát mừng rỡ trước mặt Ðức
Giê-hô-va; Vì Ngài đến đặng
xét đoán thế gian.
34. Hãy cảm tạ Ðức Giê-hô-va,
vì Ngài là nhân từ; Sự
thương xót Ngài còn đến đời đời.
35. Hãy nói: Hỡi Ðức Chúa
Trời, Ðấng chửng cứu chúng tôi! xin
hãy cứu rỗi chúng tôi, Hiệp
chúng tôi lại, và giải thoát
khỏi các nước, Ðể chúng tôi cảm
tạ danh thánh Chúa, Và nhờ sự ngợi
khen Chúa mà lấy làm được vinh.
36. Ðáng ngợi khen Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Từ đời đời
cho đến đời đời! Cả dân sự đều đáp rằng: A-men!
và ngợi khen Ðức Giê-hô-va.
37. Vậy, Ða-vít đặt A-sáp và
anh em người tại đó, trước hòm giao ước của
Ðức Giê-hô-va, hầu cho mỗi ngày
phục sự luôn luôn ở trước hòm,
làm việc ngày nào theo ngày
nấy.
38. Cũng đặt Ô-bết-Ê-đôm và
anh em người làm kẻ giữ cửa, số được sáu mươi
tám người, và
Ô-bết-Ê-đôm, con trai của
Giê-đu-thun, cùng Hô-sa;
39. lại đặt thầy tế lễ cả Xa-đốc và anh em người,
là những thầy tế lễ ở trước đền tạm của Ðức
Giê-hô-va, tại nơi cao trong Ga-ba-ôn,
40. đặng của lễ thiêu cho Ðức
Giê-hô-va, tại trên bàn thờ
của lễ thiêu, tùy theo các điều
chép trong luật pháp của Ðức
Giê-hô-va, mà Ngài
đã truyền dạy cho Y-sơ-ra-ên;
41. với chúng có đặt Hê-nam,
Giê-đu-thun, và những người đã được
chọn khác, gọi từng danh, đặng ngợi khen Ðức
Giê-hô-va, vì sự thương xót
Ngài còn đến đời đời;
42. còn Hê-man và Giê-đu-thun
cầm những kèn và chập chỏa để làm
nó vang dầy lên, cùng các
nhạc khí dùng về bài ca hát
của Ðức Chúa Trời; các con trai của
Giê-đu-thun thì đứng tại nơi cửa.
43. Cả dân sự đều đi, mỗi người trở về nhà
mình; còn Ða-vít trở về đặng
chúc phước cho nhà người.
1 Sử-Ký 17
Home
1. Khi Ða-vít ở trong nhà
mình, bèn nói với tiên tri
Na-than rằng: Nầy ta ở trong nhà bằng gỗ bá
hương, còn hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va ở dưới những bức màn.
2. Na-than tâu với Ða-vít rằng:
Hãy làm theo điều ở trong lòng vua,
vì Ðức Chúa Trời ở cùng vua.
3. Xảy trong đêm đó, có lời của
Ðức Chúa Trời phán cùng
Na-than rằng:
4. Hãy đi nói cùng
Ða-vít, tôi tớ ta rằng: Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi chớ cất
đền cho ta ở;
5. vì từ khi ta dẫn Y-sơ-ra-ên lên khỏi
Ê-díp-tô cho đến ngày nay, ta
không ở trong đền nào hết; nhưng ta ở từ trại nầy
đến trại kia, từ nhà tạm nầy đến nhà tạm nọ.
6. Phàm nơi nào ta đồng đi về cả
Y-sơ-ra-ên, ta há có phán
bảo một người nào trong các quan xét
Y-sơ-ra-ên, tức người mà ta truyền bảo chăn
dân ta, mà rằng: Sao các ngươi
không cất cho ta một cái đền bằng gỗ bá
hương?
7. Bây giờ, ngươi hãy nói
cùng Ða-vít tôi tớ ta như về:
Ðức Giê-hô-va của vạn quân
phán như vầy: Ta đã lấy ngươi từ chuồng
chiên, từ sau những con chiên, đặng lập ngươi
làm vua chúa trên dân
Y-sơ-ra-ên ta;
8. phàm nơi nào ngươi đã đi, ta vẫn ở
cùng ngươi, trừ diệt các thù nghịch
khỏi trước mặt ngươi; ta sẽ làm cho ngươi được danh lớn, như
danh của kẻ cao trọng ở trên đất.
9. Ta sẽ sắm sẵn một chốn ở cho dân Y-sơ-ra-ên ta,
vun trồng chúng để chúng ở nơi mình,
sẽ không còn bị khuấy rối, con loài
ác sẽ chẳng làm bại hoại chúng như khi
trước nữa,
10. như từ ngày ta đã lập quan xét
trên dân Y-sơ-ra-ên ta; ta sẽ khiến
các thù nghịch ngươi phục dưới ngươi. Lại ta
báo cho ngươi biết rằng Ðức
Giê-hô-va sẽ cất cho ngươi một cái
nhà.
11. Xảy khi các ngày ngươi đã
mãn và ngươi phải về cùng tổ phụ
ngươi, ắt ta sẽ lập dòng dõi ngươi lên
là con trai của ngươi, đặng kế vị ngươi; ta sẽ
làm cho nước người vững chắc.
12. Người ấy sẽ cất cho ta một cái đền, và ta sẽ
làm cho ngôi nước người vững bền đến đời đời.
13. Ta sẽ làm cho người, người đó sẽ
làm con ta; sự nhân từ ta sẽ chẳng cất khỏi người
đâu, như ta đã cất khỏi kẻ ở trước ngươi;
14. song ta sẽ lập người đời đời tại trong nhà ta
và tại trong nước ta; còn ngôi nước
người sẽ được vững chắc cho đến mãi mãi.
15. Na-than theo các lời nầy và sự mặc thị nầy
mà tâu lại với Ða-vít.
16. Vua Ða-vít vào, ngồi trước mặt
Ðức Giê-hô-va, mà thưa rằng:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ôi! tôi là ai và
nhà tôi là gì, mà
Chúa đem tôi đến đây?
17. Ðức Chúa Trời ôi! ơn đó
Chúa lấy làm nhỏ mọn thay; nhưng
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ôi! Chúa có hứa ban ơn cho
nhà của tôi tớ Chúa trong buổi tương
lai đến lâu dài, và có
đoái xem tôi theo hàng người cai trị!
18. Chúa làm cho đầy tớ Ngài được sang
trọng như thế, thì Ða-vít còn
nói gì được nữa? vì Chúa
biết đầy tớ Chúa.
19. Ðức Giê-hô-va ôi!
Ngài đã theo ý lòng
mình mà làm các việc lớn
nầy cho đầy tớ của Ngài, đặng bày ra
các sự cả thể nầy.
20. Ôi Ðức Giê-hô-va, chẳng
có ai giống như Ngài, và cứ theo mọi
điều lỗ tai chúng tôi đã nghe, ngoại
Ngài chẳng có ai là Ðức
Chúa Trời.
21. Chớ thì trên thế gian có
dân tộc nào giống như dân
Y-sơ-ra-ên của Chúa, một dân tộc
mà Ðức Chúa Trời đi chuộc lại
làm dân riêng của Ngài, sao?
Nhờ sự cả thể đáng kính đáng sợ,
Chúa được danh rất lớn, đuổi các dân
tộc khỏi trước mặt dân của Chúa, là
dân Chúa đã chuộc lại khỏi xứ
Ê-díp-tô.
22. Vì dân Y-sơ-ra-ên, Chúa
đã khiến thành dân riêng của
Ngài đến đời đời; còn Ðức
Giê-hô-va ôi, Ngài trở
nên Ðức Chúa Trời của họ.
23. Bây giờ, Ðức Giê-hô-va
ôi! nguyện lời Ngài đã hứa về
tôi tớ Ngài và về nhà
nó được ứng nghiệm đến đời đời, cầu Chúa
làm y như Ngài đã phán.
24. Nguyện điều ấy được tôn vinh đời đời, để người ta
nói rằng: Ðức Giê-hô-va vạn
quân, là Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, tức là Ðức Chúa
Trời cho Y-sơ-ra-ên; còn nhà
Ða-vít, là tôi tớ
Chúa, được đứng vững trước mặt Chúa!
25. Ðức Chúa Trời tôi ôi!
Chúa có bày tỏ cho kẻ tôi tớ
Chúa biết rằng Chúa sẽ lập một cái
nhà cho người; bởi đó cho nên kẻ
tôi tớ Chúa dám cầu nguyện ở trước mặt
Chúa.
26. Ðức Giê-hô-va ôi!
Ngài là Ðức Chúa Trời,
Ngài đã hứa điều lành nầy với
tôi tớ Chúa;
27. thế thì, nay cầu xin Chúa ban phước
nhà kẻ tôi tớ Chúa, hầu cho
nó hằng còn ở trước mặt Chúa;
vì, Ðức Giê-hô-va ôi!
hễ Ngài ban phước cho nó, thì
nó sẽ được phước đến đời đời.
1 Sử-Ký 18
Home
1. Sau việc ấy, Ða-vít đánh dân
Phi-li-tin, bắt phục chúng nó; và đoạt
lấy khỏi tay chúng nó thành
Gát và các hương thôn
nó.
2. Người cũng đánh Mô-áp; dân
Mô-áp bèn phục dịch
Ða-vít, và tiến cống cho người.
3. Ða-vít đánh Ha-đa-rê-xe, vua
Xô-ba, tại Ha-mát, khi người đương đi lập nước
mình trên sông Ơ-phơ-rát.
4. Ða-vít chiếm lấy của người một ngàn cỗ
xe, bảy ngàn lính kỵ, và hai vạn
lính bộ; Ða-vít cắt nhượng của
các ngựa kéo xe, duy chừa lại một trăm con.
5. Dân Sy-ri ở Ða-mách đến cứu
giúp Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba,
Ða-vít bèn giết chúng hai vạn
hai ngàn người.
6. Ða-vít lập đồn trong Sy-ri của
Ða-mách, dân Sy-ri phục dịch người,
và đem nộp thuế cho người. Ða-vít đi đến
đâu, thì Ðức Giê-hô-va
cũng khiến cho người được thắng.
7. Ða-vít đoạt những khiên vàng
của các đầy tớ Ha-đa-rê-xe, rồi đem về
Giê-ru-sa-lem.
8. Từ Ti-bát và Cun, hai thành của
Ha-đa-rê-xe, Ða-vít lại đoạt lấy nhiều
đồng, mà Sa-lô-môn dùng
làm cái biển đồng, các trụ
và chậu bằng đồng.
9. Khi Tô-hu, vua Ha-mát, hay rằng
Ða-vít đã đánh cả đội binh của
Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba,
10. thì sai Ha-đô-ram, con trai người, đến
chào mừng và ngợi khen Ða-vít,
bởi người đã chinh chiến với Ha-đa-rê-xe,
và đã đánh người; vì
Ha-đa-rê-xe và Tô-hu thường
đánh giặc với nhau luôn; Tô-hu cũng gởi
đến các thứ chậu bằng vàng, bạc, và
đồng.
11. Các đồ ấy Ða-vít cũng biệt
riêng ra thánh cho Ðức
Giê-hô-va, luôn với bạc và
vàng mà người đã đoạt lấy đem về từ
các dân tộc, tức từ Ê-đôm,
Mô-áp, dân Am-môn,
dân Phi-li-tin, và dân
A-ma-léc.
12. Vả lại, A-bi-sai, con trai của Xê-ru-gia, đánh
giết tại trong trũng Muối, một vạn tám ngàn người
Ê-đôm.
13. Người đặt đồn tại Ê-đôm, và cả
dân Ê-đôm đều phải phục dịch
Ða-vít. Ða-vít đi đến
đâu, thì Ðức Giê-hô-va
cũng khiến cho người được thắng.
14. Ða-vít làm vua trên cả
Y-sơ-ra-ên, lấy sự ngay thẳng và công
bình mà xử với dân sự của người.
15. Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia,
thống lãnh đội binh; Giô-sa-phát con
trai của A-hi-lút, làm quan thái sử;
16. Xa-đốc, con trai của A-hi-túp, và
A-bi-mê-léc, con trai của A-bia-tha,
làm thầy tế lễ; Sa-vê-sa làm quan
ký lục.
17. Bê-na-gia, con trai của
Giê-hô-gia-đa, cai quản người
Kê-rê-thít và người
Phê-lê-thít, còn
các con trai Ða-vít đều làm
quan đại thần gần bên vua.
1 Sử-Ký 19
Home
1. Sau các việc đó, Na-hách, vua
dân Am-môn, băng hà, và con
trai người kế người làm vua.
2. Ða-vít nói: Ta muốn làm ơn
cho Ha-nun con trai của Na-hách, vì cha người
đã làm ơn cho ta. Ða-vít
bèn sai những sứ giả đến an ủi người về sự cha người
đã băng hà. Vậy các đầy tớ của
Ða-vít đến cùng Ha-nun tại trong xứ
dân Am-môn, đặng an ủi người.
3. Nhưng các quan trưởng dân Am-môn
tâu với Ha-nun rằng: Vua há có tưởng
rằng Ða-vít sai những kẻ an ủi đến cùng
vua, là vì tôn kính
thân-phụ vua sao? Các đầy tớ hắn đến
cùng vua há chẳng phải để tra xét
và do thám xứ, hầu cho hủy phá
nó sao?
4. Ha-nun bèn bắt các tôi tớ của
Ða-vít, bảo cạo râu họ đi, cắt
áo họ từ chặng phân nửa cho đến lưng, rồi đuổi về.
5. Có người đi thuật cho Ða-vít hay việc
các ngươi nầy; người sai đi đón các
ngươi ấy, vì họ xấu hổ lắm. Vua bảo rằng: Hãy ở
tại Giê-ri-cô cho đến khi râu
các ngươi đã mọc, bấy giờ sẽ trở về.
6. Khi dân Am-môn thấy Ða-vít
lấy họ làm gớm ghiếc, thì Ha-nun và
dân Am-môn bèn sai người đem một
ngàn ta lâng bạc đặng đi đến
Mê-sô-bô-ta-mi, A-ram-Ma-a-ca,
và Xô-ba, mà mướn cho mình
những xe cộ và quân-kỵ.
7. Chúng mướn cho mình ba vạn hai ngàn
cỗ xe, vua xứ Ma-a-ca với dân người; họ kéo đến
đóng tại trước Mê-đê-ba. Dân
Am-môn từ các thành của họ
nhóm lại đặng ra trận.
8. Ða-vít hay điều đó, bèn sai
Giô-áp và cả đạo binh, đều
là người mạnh dạn.
9. Dân Am-môn kéo ra, dàn
trận nơi cửa thành; còn các vua
đã đến phù trợ, đều đóng
riêng ra trong đồng bằng.
10. Khi Giô-áp thấy quân thù
đã bày trận đằng trước và đằng sau
mình, bèn chọn những kẻ mạnh dạn trong đội
quân Y-sơ-ra-ên mà dàn trận
đối cùng quân Sy-ri;
11. quân lính còn lại, người
phú cho A-bi-sai, là em mình;
chúng bày trận đối với dân
Am-môn.
12. Người nói: Nếu quân Sy-ri mạnh hơn anh, em sẽ
giúp đỡ anh; còn nếu quân
Am-môn mạnh hơn em, anh sẽ giúp đỡ em.
13. Khá vững lòng bền chí;
hãy vì dân ta vì
các thành của Ðức Chúa Trời
ta, mà làm như cách đại trượng phu;
nguyện Ðức Giê-hô-va làm theo
ý Ngài lấy làm tốt.
14. Vậy, Giô-áp và quân
lính theo người đều đến gần đối cùng
quân Sy-ri đặng giao chiến; quân Sy-ri chạy trốn
khỏi trước mặt người.
15. Khi quân Am-môn thấy quân Sy-ri
đã chạy trốn, thì cũng chạy trốn khỏi trước mặt
A-bi-sai, em Giô-áp, mà trở
vào thành. Giô-áp
bèn trở về Giê-ru-sa-lem.
16. Khi quân Sy-ri thấy mình bị thua trước mặt
Y-sơ-ra-ên, bèn sai sứ giả đến bởi dân
Sy-ri ở bên kia sông ra, có
Sô-phác, quan tướng của đội binh
Ha-đa-rê-xe, quản lãnh chúng
nó.
17. Ða-vít hay điều đó, liền
nhóm cả Y-sơ-ra-ên, sang qua sông
Giô-đanh, đến cùng quân Sy-ri
và dàn trận nghịch cùng
chúng nó. Vậy, khi Ða-vít
đã bày trận đối với dân Sy-ri,
thì chúng nó đánh lại với
người.
18. Quân Sy-ri chạy trốn khỏi trước mặt Y-sơ-ra-ên;
Ða-vít giết của quân Sy-ri bảy
ngàn lính cầm xe, bốn vạn lính bộ,
và cũng giết Sô-phác, quan tổng binh.
19. Khi các đầy tớ của Ha-đa-rê-xe thấy
chúng bị bại trước mặt Y-sơ-ra-ên, bèn
lập hòa cùng Ða-vít
và phục dịch người; về sau dân Sy-ri chẳng
còn muốn tiếp cứu dân Am-môn nữa.
1 Sử-Ký 20
Home
1. Qua năm mới, lúc các vua thường ra
đánh giặc, Giô-áp cầm đội binh
kéo ra phá hoang xứ dân
Am-môn; người đến vây thành
Ráp-ba; còn Ða-vít ở tại
Giê-ru-sa-lem. Giô-áp hãm
đánh Ráp-ba, và phá hủy
nó.
2. Ða-vít lấy mão triều thiên
của vua dân Am-môn khỏi đầu người, cân
được một ta lâng vàng, và ở
trên có những ngọc báu; bèn
lấy mão triều thiên ấy đội trên đầu
Ða-vít; lại từ trong thành người lấy ra
rất nhiều của cướp.
3. Còn dân sự ở trong thành, người đem
ra mà cắt xẻ ra hoặc bằng cưa, hoặc bằng bừa sắt, hay
là bằng rìu. Ða-vít
làm như vậy cho các thành của
dân Am-môn. Ðoạn, Ða-vít
và cả quân lính đều trở về
Giê-ru-sa-lem.
4. Sau việc đó, xảy có chinh chiến với
dân Phi-li-tin tại Ghê-xe. Khi ấy
Si-bê-cai, người Hu-sa-tít, đánh giết
Síp-bai, vốn thuộc trong dòng kẻ khổng lồ;
chúng bèn bị suy phục.
5. Lại còn giặc giã với dân Phi-li-tin
nữa; Ên-ha-nan, con trai của Giai-rơ, đánh giết
Lác-mi, em của Gô-li-át, người
Gát; cái cán giáo người lớn
như cây trục của thợ dệt.
6. Lại còn một trận đánh nữa tại Gát;
ở đó có một người tướng tá lớn cao,
có mỗi tay sáu ngón và mỗi
chân sáu ngón, hết thảy là
hai mươi bốn ngón; hắn cũng thuộc về dòng khổng
lồ.
7. Hắn sỉ nhục Y-sơ-ra-ên; nhưng Giô-na-than, con
trai của Si-mê-a, em của Ða-vít,
đánh giết người.
8. Những kẻ đó đều thuộc về dòng khổng lồ tại
Gát; chúng đều bị tay Ða-vít
và tay các tôi tớ người giết đi.
1 Sử-Ký 21
Home
1. Sa-tan dấy lên muốn làm hại cho
Y-sơ-ra-ên, bèn giục Ða-vít lấy
số Y-sơ-ra-ên.
2. Ða-vít nói với
Giô-áp và các quan trưởng
của dân sự rằng: Hãy đi lấy số dân sự,
từ Bê-e-Sê-ba cho đến Ðan; rồi đem về
tâu lại cho ta, để ta biết số họ.
3. Giô-áp thưa; Nguyện Ðức
Giê-hô-va gia thêm dân sự
Ngài nhiều gấp trăm lần đã có!
Ôi vua chúa tôi! hết thảy
chúng nó há chẳng phải là
tôi tớ của chúa tôi sao? Cớ sao
chúa tôi dạy bảo làm điều
đó? Nhơn sao chúa tôi muốn
gây tội lỗi cho Y-sơ-ra-ên?
4. Nhưng lời của vua thắng hơn lời của Giô-áp.
Vì vậy, Giô-áp ra, đi khắp
Y-sơ-ra-ên, rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
5. Giô-áp đem tâu cho vua tổng số
dân; trong cả Y-sơ-ra-ên được một trăm mười vạn
người cầm gươm; trong cả Giu-đa được bốn mươi bảy vạn người cầm gươm.
6. Nhưng Giô-áp có cai số người
Lê-vi và người Bên-gia-min;
vì lời của vua lấy làm gớm ghiếc cho người.
7. Ðiều đó chẳng đẹp lòng Ðức
Chúa Trời; nên Ngài hành hại
Y-sơ-ra-ên.
8. Ða-vít thưa với Ðức Chúa Trời
rằng: Tôi làm điều đó, thật
là phạm tội lớn; nhưng bây giờ, xin
Chúa hãy bỏ qua tội ác của kẻ
tôi tớ Chúa đi; vì tôi
có làm cách ngu dại.
9. Ðức Giê-hô-va phán với
Gát, là đấng tiên kiến của
Ða-vít rằng:
10. Hãy đi nói cùng
Ða-vít: Ðức Giê-hô-va
có phán như vầy: Ta định cho ngươi ba tai vạ;
hãy chọn lấy một để ta giáng nó
trên ngươi.
11. Gát bèn đến cùng
Ða-vít, thưa với người rằng: Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Hãy
chọn mặc ý ngươi,
12. hoặc ba năm đói kém, hoặc bị thua ba
tháng tại trước mặt cừu địch ngươi, và phải gươm
của kẻ thù nghịch phá hại, hay là bị
ba ngày gươm của Ðức Giê-hô-va,
tức là ôn dịch ở trong xứ, có
thiên sứ của Ðức Giê-hô-va hủy
diệt trong khắp bờ cõi của Y-sơ-ra-ên. Vậy
bây giờ hãy định lấy điều nào
tôi phải tâu lại cùng Ðấng
đã sai tôi.
13. Ða-vít nói với Gát rằng:
Ta bị hoạn nạn lớn. Ta xin sa vào tay Ðức
Giê-hô-va, vì sự thương xót
của Ngài rất lớn; chớ để ta sa vào tay của
loài người ta.
14. Ðức Giê-hô-va bèn
giáng ôn dịch nơi Y-sơ-ra-ên;
có bảy vạn người Y-sơ-ra-ên ngã chết.
15. Ðức Chúa Trời sai một thiên sứ đến
Giê-ru-sa-lem đặng hủy diệt nó; đương khi hủy
diệt, Ðức Giê-hô-va xem thấy, Ðức
Giê-hô-va xem thấy, bèn tiếc việc tai vạ
nầy, và nói với thiên sứ đi hủy diệt
rằng: Thôi! Bây giờ hãy rút
tay ngươi lại. Bấy giờ thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va đứng gần sân đạp lúa
của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.
16. Ða-vít ngước mắt lên, thấy
thiên sứ của Ðức Giê-hô-va đứng
giữa lừng trời, tay cầm gươm đưa ra trên
Giê-ru-sa-lem. Ða-vít và
các trưởng lão đương mặc bao gai, liền sấp
mình xuống đất.
17. Ða-vít thưa cùng Ðức
Chúa Trời rằng: Há chẳng phải tôi
đã truyền lấy số dân sao? Ấy là
tôi đã phạm tội và làm điều
ác; còn các con chiên kia,
đã làm chi? Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời tôi ôi! xin tay
Chúa hãy đánh hại tôi
và nhà cha tôi; nhưng chớ
giáng ôn dịch trên dân sự của
Chúa mà hành hại nó.
18. Khi ấy, thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va bảo Gát nói với
Ða-vít phải đi lên dựng một bàn
thờ cho Ðức Giê-hô-va tại sân đạp
lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.
19. Ða-vít đi lên theo lời của
Gát đã nhân danh Ðức
Giê-hô-va mà nói ra.
20. Ọt-nan xây lại, thấy thiên sứ; bốn con trai
người ở với người đều ẩn mình đi. Vả, bấy giờ Ọt-nan đương
đạp lúa miến.
21. Ða-vít đi đến Ọt-nan, Ọt-nan nhìn
thấy Ða-vít, bèn ra khỏi sân
đạp lúa, sấp mình xuống đất trước mặt
Ða-vít mà lạy.
22. Ða-vít bảo Ọt-nan rằng: Hãy nhượng
cho ta chỗ sân đạp lúa, để ta cất tại
đó một bàn thờ cho Ðức
Giê-hô-va; hãy nhượng nó cho
ta thật giá bạc nó, hầu tai vạ ngừng lại trong
dân sự.
23. Ọt-nan thưa với Ða-vít rằng: Vua hãy
nhận lấy nó, xin vua chúa tôi,
hãy làm điều gì người lấy
làm tốt. Kìa, tôi dâng
bò cho vua dùng làm của lễ
thiêu, cộ sân đạp lúa dùng
làm củi, còn lúa miến để
dùng làm của lễ chay; tôi
dâng cho hết cả.
24. Vua Ða-vít nói cùng Ọt-nan
rằng: Không, thật ta muốn mua nó theo
giá bạc thật nó; vì ta chẳng muốn lấy
vật gì của ngươi mà dâng cho
Ðức Giê-hô-va cũng không muốn
dâng của lễ thiêu chẳng tốn chi cả.
25. Ấy vậy, Ða-vít mua cái chỗ
sân ấy trả cho Ọt-nan giá bằng siếc-lơ,
cân nặng sáu trăm siếc-lơ.
26. Tại đó Ða-vít cất một bàn
thờ cho Ðức Giê-hô-va, dâng những
của lễ thiêu, của lễ bình an, và cầu
khẩn Ðức Giê-hô-va; Ngài
đáp lời người bằng lửa từ trời giáng xuống
trên bàn thờ về của lễ thiêu.
27. Ðức Giê-hô-va dạy bảo thiên
sứ, thiên sứ bèn xỏ gươm mình
vào vỏ.
28. Trong lúc đó, Ða-vít thấy
Ðức Giê-hô-va đã nhậm lời
mình tại trong sân đạp lúa của Ọt-nan,
người Giê-bu-sít, thì người
bèn dâng của lễ tại đó.
29. Vì cái đền tạm của Ðức
Giê-hô-va mà Môi-se
đã làm trong đồng vắng, và
cái bàn thờ về của lễ thiêu, trong
lúc đó đều ở nơi cao tại Ga-ba-ôn;
30. Ða-vít không dám đi đến
trước mặt bàn thờ ấy đặng cầu vấn Ðức
Chúa Trời; bởi vì người kinh hãi gươm
của thiên sứ của Ðức Giê-hô-va.
1 Sử-Ký 22
Home
1. Ða-vít bèn nói: Ấy
đây là đền của Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời, đây là
bàn thờ về của lễ thiêu của Y-sơ-ra-ên.
2. Ða-vít thờ lạy nhóm các
người ngoại bang ở trong xứ Y-sơ-ra-ên; rồi người khiến trợ
đục đá, đặng làm những đá đục, hầu cất
cái đền của Ðức Chúa Trời.
3. Ða-vít cũng dự bị nhiều sắt, đường làm
đinh cánh cửa và mấu cửa, cùng nhiều
đồng không thể cân được,
4. và gỗ bá hương vô số; vì
dân Si-đôn và dân Ty-rơ chở
rất nhiều gỗ bá hương đến cho vua Ða-vít.
5. Ða-vít nói rằng:
Sa-lô-môn, con trai ta, hãy
còn thơ ấu và non nớt, mà
cái đền sẽ cất cho Ðức Giê-hô-va
phải rất nguy nga, có danh tiếng rực rỡ trong các
nước; vì vậy, ta sẽ dự bị đồ cần dùng cho
nó. Thế thì, Ða-vít dự bị rất
nhiều đồ trước khi người qua đời.
6. Bấy giờ, Ða-vít gọi
Sa-lô-môn, con trai mình, truyền dặn
người cất một cái đền cho Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
7. Ða-vít nói với
Sa-lô-môn rằng: Hỡi con, ta có
ý muốn xây cất một cái đền cho danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ta;
8. nhưng có lời của Ðức
Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
ngươi đã đổ huyết ra nhiều, đánh những giặc lớn
lao; vậy vì ngươi đã đổ huyết ra nhiều
trên đất tại trước mặt ta, nên người sẽ chẳng cất
đền cho danh ta.
9. Kìa, con trai mà người sẽ sanh ra,
nó sẽ là người thái bình;
ta sẽ ban bình an cho nó; cơn thịnh nộ ở bốn
phía nó sẽ chẳng khuấy rối nó;
vì tên nó sẽ là
Sa-lô-môn; trong đời nó ta sẽ ban sự
thái bình an tịnh cho Y-sơ-ra-ên.
10. Nó sẽ cất một đền cho danh ta; nó sẽ
làm con trai ta, ta sẽ làm cha nó;
và ta sẽ lập ngôi nước nó
trên Y-sơ-ra-ên được bền vững đời đời.
11. Bây giờ, hỡi con trai ta, nguyện Ðức
Giê-hô-va ở cùng con và
làm cho con được hanh thông; con sẽ cất
cái đền cho Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời con, theo như lời Ngài đã
phán về việc con.
12. Nguyện Ðức Giê-hô-va ban cho con sự
khôn ngoan thông sáng, khiến cho con cai
trị trên Y-sơ-ra-ên, để con gìn giữ luật
pháp của Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời con.
13. Nếu con cảm tạ làm theo các luật
pháp và mạng lịnh mà Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se truyền cho Y-sơ-ra-ên, thì con sẽ
được hanh thông. Khá vững lòng bền
chí; chớ sợ sệt, chớ kinh hãi chi.
14. Nay ta đã chịu hoạn nạn mà sắm sửa cho đền
của Ðức Giê-hô-va mười vạn ta
lâng vàng, một trăm vạn ta lâng bạc;
còn đồng và sắt thì không
thể cân được, vì nó nhiều
quá; ta lại dự bị gỗ và đá;
và con cũng sẽ thêm vào đó.
15. Vả lại, con có nhiều nhân công thợ
đục đá, thợ hồ, thợ mộc, đủ người thạo về các thứ
công việc;
16. vàng, bạc, đồng, sắt, thì vô-số.
Hãy chổi dậy làm, Ðức
Giê-hô-va sẽ ở cùng con.
17. Ða-vít cũng truyền dặn các quan
trưởng của Y-sơ-ra-ên giúp đỡ
Sa-lô-môn, con trai người, mà rằng:
18. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi há chẳng ở cùng
các ngươi sao? Ngài há chẳng ban cho
các ngươi được bình an bốn phía sao?
Vì Ngài đã phó
dân của xứ vào tay ta, và xứ
đã suy phục trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và trước mặt dân sự
Ngài.
19. Vậy bây giờ, hãy hết lòng hết
ý tìm cầu Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của các ngươi;
hãy chổi dậy, xây cất đền thánh cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời, để rước
hòm giao ước của Ðức Giê-hô-va
và các khí dụng của đền
thánh Ðức Chúa Trời vào trong
nhà toan cất cho danh của Ðức
Giê-hô-va.
1 Sử-Ký 23
Home
1. Ða-vít đã già, cao tuổi,
bèn lập Sa-lô-môn, con trai
mình, làm vua Y-sơ-ra-ên.
2. Người nhóm các quan trưởng
Y-sơ-ra-ên, cùng những thầy tế lễ, và
người Lê-vi.
3. Người ta lấy số người Lê-vi từ ba mươi tuổi trở
lên, và số của họ, cứ đếm từng người, được ba vạn
tám ngàn.
4. Trong số các người ấy, có hai vạn bốn
ngàn người được cắt cai quản công việc của đền
Ðức Giê-hô-va; sáu
ngàn người đều làm quan đốc lý
và quan xét;
5. còn bốn ngàn người đều làm kẻ canh
cửa; và bốn ngàn người ngợi khen Ðức
Giê-hô-va bằng nhạc khí của
Ða-vít đã làm đặng ngợi khen.
6. Ða-vít phân họ từng ban thứ theo ba con
trai Lê-vi, là Ghẹt-sôn,
Kê-hát, và Mê-ra-ri.
7. Về con cháu Ghẹt-sôn có
La-ê-đan và Si-mê-i.
8. Con trai của La-ê-đan là
Giê-hi-ên làm trưởng, Xê-tham,
và Giô-ên, ba người.
9. Con trai của Si-mê-i là
Sê-lô-mít, Ha-xi-ên,
và Ha-ran, ba người. Ðó là
các trưởng của tông tộc La-ê-đan.
10. Con trai của Si-mê-i là Gia-hát,
Xi-na, Giê-úc, và Bê-ri-a. Ấy
là bốn con trai của Si-mê-i.
11. Gia-hát làm trưởng, còn Xi-xa
là con thứ; nhưng Giê-úc và
Bê-ri-a không có con cháu
nhiều; nên khi lấy số thì kể chúng như
một nhà.
12. Con trai Kê-hát là Am-ram,
Dít-sê-ha, Hếp-rôn, U-xi-ên,
bốn người.
13. Con trai của Am-ram là A-rôn và
Môi-se; A-rôn và con cháu
người được phân biệt ra, để biệt riêng ra
các vật chí thánh, và đời
đời xông hương, hầu việc trước mặt Ðức
Giê-hô-va, cùng nhân danh
Ngài mà chúc phước cho.
14. Còn về Môi-se, người của Ðức
Chúa Trời, các con trai người đều được kể
vào chi phái Lê-vi.
15. Con trai của Môi-se là Ghẹt-sôn
và Ê-li-ê-xe.
16. Con trai của Ghẹt-sôn là
Sê-bu-ên làm trưởng.
17. Con trai của Ê-li-ê-xe là
Rê-ha-bia làm trưởng;
Ê-li-ê-xe không có con trai
nào khác; nhưng con trai của Rê-ha-bia
nhiều lắm.
18. Con trai của Dít-sê-ha là
Sê-lô-mít làm trưởng.
19. Con trai của Hếp-rôn là Giê-ri-gia
làm trưởng; A-ma-ria thứ nhì;
Gia-ha-xi-ên thứ ba; và
Giê-ca-mê-am thứ tư.
20. Con trai của U-xi-ên là Mi-ca làm
trưởng; và Di-si-gia con thứ.
21. Con trai của Mê-ra-ri là Mác-li
và Mu-si. Con trai của Mác-li là
Ê-lê-a-sa và Kích.
22. Ê-lê-a-sa chết, không có
con trai, chỉ có con gái mà
thôi; các con trai của Kích
là anh em chúng nó, bèn
cưới chúng nó làm vợ.
23. Con trai của Mu-si là Mác-li, Ê-đe
và Giê-rê-mốt, ba người.
24. Ðó là con cháu của
Lê-vi theo tông tộc của họ, tức là
trưởng tộc của những người được cai số từng danh từng người, từ hai
mươi tuổi sắp lên, và hầu việc trong đền của
Ðức Giê-hô-va.
25. Vì Ða-vít nói rằng:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên có ban sự bình an cho
dân sự Ngài, và Ngài ngự tại
Giê-ru-sa-lem đời đời;
26. người Lê-vi cũng sẽ chẳng còn cần
khiêng vác đền tạm hay là
các khí dụng về công việc đền tạm nữa.
27. Vì theo lời trối của Ða-vít, người ta
tu bộ dân Lê-vi, từ hai mươi tuổi sấp lên.
28. Chức của chúng là ở bên con
cháu A-rôn, đặng làm công
việc của đền Ðức Giê-hô-va, canh giữ
hành lang và các phòng, giữ
tinh sạch các vật thánh, và coi
làm công việc của đền Ðức Chúa
Trời:
29. lại lo về bánh trần thiết, về bột mịn dùng
làm của lễ chay, về bánh tráng
không men, về đồ nướng trên vỉ, về đồ trộn với dầu,
và về các đồ để lường và để đo;
30. mỗi buổi sớm và buổi chiều, họ phải đứng tại
đó cảm tạ và ngợi khen Ðức
Giê-hô-va;
31. còn mỗi ngày sa-bát,
ngày mồng một, và ngày lễ trọng thể,
thì phải giúp dâng luôn
luôn tại trước mặt Ðức Giê-hô-va
những của lễ thiêu thường dâng cho Ðức
Giê-hô-va theo lệ đã định trong luật về
của lễ ấy;
32. chúng cũng lo coi sóc hội mạc và
nơi thánh, cùng giúp đỡ con
cháu A-rôn, là anh em mình,
đặng hầu việc trong đền của Ðức Giê-hô-va.
1 Sử-Ký 24
Home
1. Nầy là ban thứ của con cháu A-rôn:
Con trai của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu,
Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
2. Na-đáp và A-bi-hu chết trước cha của
chúng và không có con;
nên Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma
làm chức thầy tế lễ.
3. Ða-vít khiến Xa-đốc, con cháu
Ê-lê-a-sa, và
A-hi-mê-léc, con cháu Y-tha-ma,
phân ban thứ cho chúng tùy theo chức
việc chúng làm.
4. Trong con cái Ê-lê-a-sa có
nhiều trưởng tộc hơn trong con cháu Y-tha-ma; họ
phân ban thứ như về: về con cháu
Ê-lê-a-sa có mười sáu trưởng
tộc.
5. Người ta bắt thăm phân chúng từng ban thứ, hoặc
người nầy người kia; vì các trưởng của nơi
thánh, và các trưởng của Ðức
Chúa Trời đều thuộc trong con cháu
Ê-lê-a-sa và trong con cháu
Y-tha-ma.
6. Sê-ma-gia, con trai của Na-tha-na-ên, người
ký lục, thuộc trong chi phái Lê-vi,
biên tên chúng vào sổ tại
trước mặt vua và trước mặt các quan trưởng, trước
mặt thầy tế lễ Xa-đốc, A-hi-mê-léc, con trai của
A-bia-tha, và trước mặt các trưởng tộc của những
thầy tế lễ và người Lê-vi; trong con
cháu Ê-lê-a-sa bắt thăm lấy một họ
hàng, rồi trong con cháu Y-tha-ma cũng bắt thăm
lấy một họ hàng.
7. Cái năm thứ nhứt trúng nhằm
Giê-hô-gia-ríp; cái thăm thứ
nhì nhằm Giê-đa-ê-gia;
8. cái thăm thứ ba nhằm Ha-rim; cái thăm thứ tư
nhằm Sê-ô-rim;
9. cái thăm thứ năm nhằm Manh-kia; cái thăm thứ
sáu nhằm Mia-min;
10. cái thăm thứ bảy nhằm Cốt; cái thăm thứ
tám nhằm A-bi-gia;
11. cái thăm thứ chín nhằm Giê-sua;
cái thăm thứ mười nhằm Sê-ca-nia;
12. cái thăm thứ mười một nhằm
Ê-li-a-síp; cái thăm thứ mười hai nhằm
Gia-kim;
13. cái thăm thứ mười ba nhằm Húp-ba;
cái thăm thứ mười bốn nhằm
Giê-sê-báp;
14. cái thăm thứ mười lăm nhằm Binh-ga; cái thăm
thứ mười sáu nhằm Y-mê;
15. cái thăm thứ mười bảy nhằm Hê-xia;
cái thăm thứ mười tám nhằm Phi-xết;
16. cái thăm thứ mười chín nhằm
Phê-ta-hia, cái thăm thứ hai mươi nhằm
Ê-xê-chi-ên;
17. cái thăm thứ hai mươi mốt nhằm Gia-kin; cái
thăm thứ hai mươi hai nhằm Ga-mun;
18. cái thăm thứ hai mươi ba nhằm
Ðê-la-gia; cái thăm thứ hai mươi bốn nhằm
Ma-a-xia.
19. Ấy đó là ban thứ của chúng trong
chức việc mình, đặng vào trong đền của
Ðức Giê-hô-va, tùy theo lịnh của
A-rôn, tổ phụ chúng, đã truyền cho, y
như Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên đã phán dặn người.
20. Nầy là con cháu của Lê-vi
còn lại: về con cháu Am-ram có
Su-ba-ên; về con cháu Su-ba-ên
có Giê-đia.
21. Về con cháu Rê-ha-bia có Di-si-gia
làm trưởng.
22. Trong con cháu Dít-sê-ha
có Sê-lô-mốt; về con cháu
Sê-lô-mốt có Gia-hát.
23. Về con cháu Hếp-rôn có
Giê-ri-gia, con trưởng; A-ma-ria thứ nhì,
Gia-ha-xi-ên thứ ba, và Gia-ca-mê-am thứ
tư.
24. Về con cháu U-xi-ên có Mi-ca; về
con cháu Mi-ca có Sa-mia.
25. Anh em của Mi-ca là Dít-hi-gia; về con
cháu Dít-hi-gia có Xa-cha-ri.
26. Con trai Mê-ra-ri là Mác-li
và Mu-si; con trai Gia-a-xi-gia là
Bê-nô,
27. con cháu của Mê-ra-ri là
Bê-nô, Sô-ham, Xác-cua,
và Y-bê-ri, đều là con trai của
Gia-a-xi-gia.
28. Con trai của Mác-li là
Ê-lê-a-sa, là người không
có con trai.
29. Về con cháu Kích có
Giê-rác-mê-ên.
30. Con trai của Mu-si là Mác-li, Ê-đe
và Giê-ri-mốt. Ấy đó là con
cháu Lê-vi, tùy theo tông tộc
của chúng.
31. Chúng cũng như anh em mình, là con
cháu A-rôn, bắt thăm tại trước mặt vua
Ða-vít, Xa-đốc, và
A-hi-mê-léc, cùng trước mặt
các trưởng tộc của những thầy tế lễ và người
Lê-vi; các trưởng tộc cũng phải bắt thăm như
các em út mình.
1 Sử-Ký 25
Home
1. Ða-vít và các quan tướng
đội binh cũng để riêng ra mấy con cháu của
A-sáp, Hê-man và Giê-đu-thun
hầu phục dịch, lấy đờn cầm, đờn sắt, và chập chỏa đặng
nói tiên tri; số người phục sự theo chức của họ
là như sau nầy:
2. Về con trai A-sáp, có Xác-cua,
Giô-sép, Nê-tha-nia, và
A-sa-rê-la, đều là con trai của A-sáp,
ở dưới tay A-sáp cai quản, vâng theo ý
chỉ của vua mà ca xướng.
3. Về con trai của Giê-đu-thun có
Ghê-đa-lia, và Si-mê-i, là
sáu người đều ở dưới quyền cai quản của cha
chúng, là Giê-đu-thun, dùng
đờn cầm mà nói tiên tri, cảm tạ
và ngợi khen Ðức Giê-hô-va.
4. Về con trai của Hê-man có
Búc-ki-gia, Ma-tha-nia, U-xi-ên,
Sê-bu-ên, Giê-ri-mốt, Ha-na-nia,
Ha-na-ni, Ê-li-a-tha, Ghi-đanh-thi,
Rô-mam-ti-Ê-xe, Giốt-bê-ca-sa,
Ma-lô-thi, Hô-thia, và Ma-ha-xi-ốt.
5. Những người đó đều là con trai của
Hê-man, thổi kèn và ngợi khen
Ðức Chúa Trời. Hê-man vâng mạng
của Ðức Chúa Trời mà làm đấng
tiên kiến của vua. Ðức Chúa Trời ban cho
Hê-man được mười bốn con trai và ba con
gái.
6. Các người ấy đều ở dưới quyền cai quản của cha
mình là A-sáp, Giê-đu-thun,
và Hê-man, để ca-xướng trong đền Ðức
Giê-hô-va với chập chỏa, đờn sắt, đờn cầm,
và phục sự tại đền của Ðức Chúa Trời,
theo mạng lịnh của vua.
7. Chúng luôn với anh em mình
có học tập trong nghề ca hát cho Ðức
Giê-hô-va, tức là những người
thông thạo, số được hai trăm tám mươi
tám người.
8. Chúng đều bắt thăm về ban thứ mình, người lớn
như kẻ nhỏ, người thông thạo như kẻ học tập.
9. Cái thăm thứ nhứt nhằm cho Giô-sép
về dòng A-sáp; cái thăm thứ
nhì nhằm Ghê-đa-lia; người anh em và
con trai người, cộng được mười hai người;
10. cái thăm thứ ba nhằm Xác-cua, các
con trai và anh em người, cộng được mười hai người;
11. cái thăm thứ tư nhằm Dít-sê-ri,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
12. cái thăm thứ năm nhằm Nê-tha-nia,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
13. cái thăm thứ sáu nhằm Búc-ki-gia,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
14. cái thăm thứ bảy nhằm Giê-sa-rê-la,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
15. cái thăm thứ tám nhằm Ê-sai,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
16. cái thăm thứ chín nhằm Ma-tha-nia,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
17. cái thăm thứ mười nhằm Si-mê-i; các
con trai và anh em người, cộng được mười hai người;
18. cái thăm thứ mười một nhằm A-xa-rên,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
19. cái thăm thứ mười hai nhằm Ha-sa-bia, các con
trai và anh em người, cộng được mười hai người;
20. cái thăm thứ mười ba nhằm Su-ba-ên,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
21. cái thăm thứ mười bốn nhằm Ma-ti-thia, các
con trai và anh em người, cộng được mười hai người;
22. cái thăm thứ mười lăm nhằm
Giê-rê-mốt, các con trai và
anh em người, cộng được mười hai người;
23. cái thăm thừ mười sáu nhằm Ha-na-nia,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
24. cái thăm thứ mười bảy nhằm Giốt-bê-ca-sa,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
25. cái thăm thứ mười tám nhằm Ha-na-ni,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
26. cái thăm thứ mười chín nhằm
Ma-lô-thi, các con trai và anh em
người, cộng được mười hai người;
27. cái thăm thứ hai mươi nhằm Ê-li-gia-ta,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
28. cái thăm thứ hai mươi mốt nhằm Hô-thia,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
29. cái thăm thứ hai mươi hai nhằm Ghi-đanh-thi,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
30. cái thăm thứ hai mươi ba nhằm Ma-ha-xi-ốt,
các con trai và anh em người, cộng được mười hai
người;
31. cái thăm thứ hai mươi bốn nhằm
Rô-man-ti-Ê-xe, các con trai
và anh em người, cộng được mười hai người.
1 Sử-Ký 26
Home
1. Những ban thứ của người giữ cửa như sau nầy: về dòng
Cô-rê có
Mê-sê-lê-mia, con trai của
Cô-rê, cháu của A-sáp.
2. Mê-sê-lê-mia có những con
trai, là Xa-cha-ri, con trưởng;
Giê-đi-a-ên thứ nhì, Xê-ba-đia
thứ ba, Giát-ni-ên thứ tư,
3. Ê-lam thứ năm, Giô-ha-nan thứ sáu,
và Ê-li-ô-ê-nai thứ bảy.
4. Các con trai của
Ô-bết-Ê-đôm là
Sê-ma-gia con trưởng,
Giê-hô-xa-bát thứ nhì,
Giô-a thứ ba, Sa-ca thứ tư, Nê-ta-nên thứ
năm,
5. A-mi-ên thứ sáu, Y-sa-ca thứ bảy, và
phê-u-lê-tai thứ tám; vì
Ðức Chúa Trời có ban phước cho
Ô-bết-Ê-đôm.
6. Sê-ma-gia, con trai
Ô-bết-Ê-đôm, cũng sanh những con trai,
có quyền cai quản tông tộc mình;
vì chúng đều là người mạnh dạn.
7. Các con trai của Sê-ma-gia là Ốt-ni,
Rê-pha-ên, Ô-bết,
Ên-xa-bát, và anh em họ, là
Ê-li-hu và Sê-ma-kia, đều là
kẻ mạnh dạn.
8. Các người đó là con cháu
của Ô-bết-Ê-đôm; họ với các
con trai và anh em họ, đều là người mạnh dạn thạo
chức việc mình, cộng được sáu mươi hai người
thuộc về dòng Ô-bết-Ê-đôm.
9. Mê-sê-lê-mia có những con
trai và anh em, đều là người mạnh dạn, cộng được
mười tám người.
10. Hô-sa, thuộc trong dòng Mê-ra-ri,
cũng có những con trai, là Sim-ri làm
trưởng; dầu người không phải sanh ra đầu lòng, cha
người lập người làm con trưởng;
11. Hinh-kia thứ nhì, Tê-ba-lia thứ ba,
và Xa-cha-ri thứ tư. hết thảy con trai và anh của
Hô-sa được mười ba người.
12. Các người ấy làm ban trưởng của những kẻ giữ
cửa; họ theo ban thứ mà hầu việc trong đền của Ðức
Giê-hô-va, y như anh em mình vậy.
13. Chúng theo tông tộc mình
mà bắt thăm về mỗi cửa, kẻ nhỏ như người lớn.
14. Cái thăm về cửa đông trúng nhằm
Sê-lê-mia. Ðoạn, người ta bỏ thăm về cửa
bắc, thăm ấy trúng nhằm Xa-cha-ri, con trai
Sê-lê-mia, một mưu sĩ thông
sáng.
15. Cái thăm về cửa nam trúng nhằm
Ô-bết-Ê-đôm; còn
các con trai người, canh giữ kho lương phạn.
16. Súp-bim và Hô-sa bắt thăm được cửa
tây, gần cửa Sa-lê-kết, nơi con đường đi dốc
lên, phiên canh đối với nhau.
17. Mỗi ngày cửa đông có sáu
người Lê-vi, cửa bắc bốn người, cửa nam bốn người,
và nơi kho lương phạn, mỗi cửa hai người.
18. Tại Bạt-ba về phía tây cũng có kẻ
canh giữ: trên con đường có bốn người,
và tại chính Bạt-ba có hai người.
19. Ðó là ban thứ của những người giữ
cửa, đều là con cháu Cô-rê
và con cháu Mê-ra-ri.
20. Trong người Lê-vi có A-hi-gia quản
lý khung-thành các vật
thánh.
21. Con cháu La-ê-đan, thuộc về dòng
dõi Ghẹt-sôn, làm trưởng trong
tông tộc của La-ê-đan, con cháu
Ghẹt-sôn, là Giê-hi-ê-li.
22. Các con trai Giê-hi-ê-li
là Xê-tham và
Giô-ên, em người, được cắt làm quản
lý khung thành của đền Ðức
Giê-hô-va.
23. Trong dòng Am-ram, dòng
Dít-sê-ha, dòng Hếp-rôn,
và dòng U-xi-ên,
24. có Sê-bu-ên, con cháu
Ghẹt-sôn, là con trai của Môi-se,
làm quan cai quản khung thành.
25. Lại có anh em người, là con cháu
của Ê-li-ê-xe: Rê-ha-bia, con trai
Ê-li-ê-xe; Ê-sai, con trai
Rê-ha-bia; Giô-ram, con trai Ê-sai;
Xiếc-ri, con trai Giô-ram, và
Sê-lô-mít, con trai Xiếc-ri.
26. Sê-lô-mít nầy và anh em
người đều quản lý các vật thánh
mà vua Ða-vít, các trưởng tộc,
quan tướng cai ngàn quân và cai trăm
quân, cùng các tướng đội binh
đã biệt riêng ra thánh.
27. Chúng biệt riêng ra thánh những của
cải đã đoạt lấy khi chiến trận, đặng dùng
xây sửa đền Ðức Giê-hô-va.
28. Lại các vật mà Sa-mu-ên, đấng
tiên kiến Sau-lơ, con trai của Kích,
Áp-ne, con trai của Nê-rơ, và
Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia,
đã biệt riêng ra thánh, cùng
các vật không cứ người nào
đã biệt riêng ra thánh, đều ở dưới tay
Sê-lô-mít và các
anh em người quản lý.
29. Trong dòng Dít-sê-ha, có
Kê-na-nia và các con trai người, được
lập lên làm quan trưởng và quan
xét, đặng cai quản các việc ngoài của
Y-sơ-ra-ên.
30. Trong dòng Hếp-rôn có Ha-sa-bia
và anh em người, đều là người mạnh dạn, số được
một ngàn bảy trăm tên; họ quản lý
dân Y-sơ-ra-ên bên kia sông
Giô-đanh về phía tây, coi sóc
công việc của Ðức Giê-hô-va
và hầu hạ vua.
31. Trong dòng Hếp-rôn có
Giê-ri-gia làm trưởng. Ðương năm thứ bốn
mươi đời Ða-vít, người ta cai số dòng họ
Hếp-rôn, tùy tông tộc của
chúng, thấy giữa vòng chúng tại
Gia-ê-xe trong xứ Ga-la-át, có những
người mạnh dạn.
32. Các anh em của Giê-ri-gia, đều là
tay mạnh dạn, số được hai ngàn bảy trăm người,
làm trưởng tộc; vua Ða-vít lập
chúng trên người Ru-bên, và
người Gát, và trên nửa chi
phái Mê-na-se, đặng cai trị các việc
của Ðức Chúa Trời và việc của vua.
1 Sử-Ký 27
Home
1. Ðây là số của những trưởng tộc của
dân Y-sơ-ra-ên, tức các quan tướng cai
ngàn người và cai trăm người, các quan
trưởng của chúng vẫn phục sự vua, cai quản các
ban thứ quanh năm mỗi tháng thay nhau đi ra đi
vào; mỗi ban thứ số được hai vạn bốn ngàn người.
2. Ban trưởng của ban thứ nhứt về tháng giêng,
là Gia-sô-bê-am, con trai của
Xáp-đi-ên; trong ban người có hai vạn
bốn ngàn người.
3. Người thuộc về dòng Phê-rết, làm đầu
các quan tướng về tháng giêng.
4. Ban trưởng của ban tháng hai là
Ðô-đai, người A-hô-ha;
Mích-lô làm quan chánh trong
ban người; ban người có hai vạn bốn ngàn người.
5. Ban trưởng của ban thứ ba về tháng ba, là
Bê-na-gia, con trai của thầy tế lễ
Giê-hô-gia-đa; trong ban người có hai
vạn bốn ngàn người.
6. Bê-na-gia nầy là người mạnh dạn trong ba mươi
người kia, và làm đầu ba mươi người ấy;
Am-mi-xa-đáp, con trai người, cũng ở trong ban người.
7. Ban trưởng thứ tư về tháng tư, là
A-sa-ên, anh em của Giô-áp,
và Xê-ba-đia, con trai người, tiếp theo người;
trong ban người có hai vạn bốn ngàn người.
8. Ban trưởng thứ năm về tháng năm, là
Sa-mê-hút, người Gít-ra; trong ban
người có hai vạn bốn ngàn người.
9. Ban trưởng thứ sáu về tháng sáu,
là Y-ra, con trai Y-ke, ở Thê-cô-a;
trong ban người có hai vạn bốn ngàn người.
10. Ban trưởng thứ bảy về tháng bảy, là
Hê-lết, người chi phái Ép-ra-im ở
Pha-lôn; trong ban người có hai vạn bốn
ngàn người.
11. Ban trưởng thứ tám về tháng tám,
là Si-bê-cai, ở Hu-sa, thuộc về dòng
Xê-rách; trong ban người có hai vạn bốn
ngàn người.
12. Ban trưởng thứ chín về tháng chín,
là A-bi-ê-xe, người chi phái
Bên-gia-min, ở A-na-tốt; trong ban người có hai
vạn bốn ngàn người.
13. Ban trưởng thứ mười về tháng mười, là
Ma-ha-rai, về dòng Xê-rách ở
Nê-tô-pha; trong ban người có hai vạn
bốn ngàn người.
14. Ban trưởng thứ mười một về tháng mười một, là
Bê-na-gia, người chi phái Ép-ra-im, ở
Phi-ra-thôn; trong ban người có hai vạn bốn
ngàn người.
15. Ban trưởng thứ mười hai về tháng chạp, là
Hiên-đai, về dòng Ốt-ni-ên, ở
Nê-tô-pha; trong ban người có hai vạn
bốn ngàn người.
16. Ðây là các người cai quản
các chi phái Y-sơ-ra-ên:
Ê-li-ê-xe, con trai Xiếc-ri, cai quản người
Ru-bên; người cai quản người Si-mê-ôn,
là Sê-pha-tia, con trai Ma-a-ca;
17. người cai quản chi phái Lê-vi là
Ha-sa-bia, con trai của Kê-mu-ên; còn
Xa-đốc cai quản con cháu A-rôn;
18. người cai quản Giu-đa là Ê-li-hu, anh em của
Ða-vít; người cai quản Y-sa-ca là
Ôm-ri, con trai của Mi-ca-ên;
19. người cai quản Sa-bu-lôn là
Dít-ma-hia, con trai của Ô-ba-đia; người cai quản
Nép-ta-li là Giê-ri-mốt, con trai của
A-ri-ên;
20. người cai quản con cháu Ép-ra-im
là Ô-sê, con trai của A-xa-xia; người
cai quản nửa chi phái Mê-na-se là
Giô-ên, con trai Phê-đa-gia;
21. người cai quản nửa chi phái Mê-na-se, tại xứ
Ga-la-át, là Gi-đô, con trai của
Xa-cha-ri, người cai quản Bên-gia-min là
Gia-a-xi-ên, con trai Áp-ne;
22. người cai quản Ðan là A-xa-rên, con
trai của Giê-rô-ham. Ấy đó là
các trưởng của các chi phái
Y-sơ-ra-ên.
23. Ða-vít không lấy số dân
Y-sơ-ra-ên từ hai mươi tuổi sấp xuống, bởi vì
Ðức Giê-hô-va có hứa rằng sẽ
làm tăng lên Y-sơ-ra-ên đông
như sao trên trời.
24. Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, khởi
lấy số, nhưng không xong được; vì cớ việc
đó nên có cơn thịnh nộ giáng
họa trên Y-sơ-ra-ên; và số tu bộ ấy
không nhập vào số của sử ký vua
Ða-vít.
25. Ách-ma-vết, con trai A-đi-ên, cai
các khung thành của vua; Giô-na-than,
con trai U-xi-gia, cai các khung thành ở đồng
ruộng, ở trong các thành phố, trong những
làng và trong những đồn.
26. Ết-ri, con trai Kê-lúp, cai các kẻ
lo làm ruộng cày đất;
27. Sim-ri, người Ra-ma, coi sóc các vườn nho;
còn Xáp-đi, người Sê-pham, coi
sóc kho rượu trong vườn nho;
28. Banh-Ha-nan, người Ghê-đe, coi sóc
các cây ô-li-ve và
cây sung mọc trong xứ đồng bằng; còn
Giô-ách coi sóc các kho dầu;
29. Sít-trai, người Sa-rôn; còn
Sa-phát, con trai Át-lai, coi sóc
các bầy bò ở trong trũng;
30. Ô-binh, người Ích-ma-ên, coi
sóc các lạc đà; Giê-đia,
người Mê-rô-nốt, coi sóc các
lừa cái; Gia-xít, người Ha-ga-rít, coi
sóc các bầy chiên.
31. Các người đó đều là kẻ cai quản
các sản nghiệp của vua Ða-vít.
32. Giô-na-than, cậu của Ða-vít,
làm mưu sĩ, là một người thông
sáng và làm quan ký lục;
còn Giê-hi-ên con trai của
Hác-mô-ni, làm giáo sư
các vương tử.
33. A-hi-tô-phên làm mưu sĩ của vua;
Hu-sai, người Ạt-kít, là bạn hữu của vua.
34. Sau A-hi-tô-phên có
Giê-hô-gia-đa, con trai của Bê-na-gia,
và A-bia-tha. Giô-áp làm
quan tướng đội binh của vua.
1 Sử-Ký 28
Home
1. Ða-vít hiệp lại tại Giê-ru-sa-lem hết
thảy các quan trưởng Y-sơ-ra-ên, các
tộc trưởng của các chi phái, các ban
trưởng phục sự vua, các quan tướng cai ngàn
quân và trăm quân, các kẻ cai
quản sản nghiệp của vua và của các con trai
người, luôn với các hoạn quan và những
người mạnh dạn.
2. Vua Ða-vít đứng dậy nói rằng: Hỡi
các anh em và dân sự ta, hãy
nghe! Ta đã có ý xây cất một
cái đền an nghỉ cho hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va, cho cái bệ chân của
Ðức Chúa Trời chúng ta; ta đã
sắm thờ lạy cho sẵn đặng cất.
3. Nhưng Ðức Chúa Trời phán với ta rằng:
Ngươi chớ cất đền cho danh ta, vì người là một
tay chiến sĩ, đã đổ huyết ra nhiều.
4. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên có chọn ta từ trong cả nhà
cha ta, làm vua Y-sơ-ra-ên đời đời (vì
Ngài đã chọn Giu-đa làm trưởng,
và trong nhà Giu-đa, chọn nhà của cha
ta, Ngài vui lòng chọn ta, lập ta làm
vua trên cả Y-sơ-ra-ên).
5. Vả, Ðức Giê-hô-va có ban cho
ta nhiều con trai; trong các con trai ấy Ngài
đã chọn Sa-lô-môn, con trai ta, đặt ngồi
trên ngôi nước Ðức
Giê-hô-va, đặng cai trị Y-sơ-ra-ên.
6. Ngài phán với ta rằng:
Sa-lô-môn, con trai của ngươi, sẽ cất
cái đền và các hành lang
của ta; vì ta đã chọn nó
làm con trai ta, và ta sẽ làm cha
nó.
7. Nếu người bền lòng làm theo các
điều răn và luật lệ ta như ngày nay,
thì ta sẽ làm cho nước người được bền vững đời
đời.
8. Vậy bây giờ, tại trước mặt cả Y-sơ-ra-ên,
là hội chúng của Ðức
Giê-hô-va, đương có Ðức
Chúa Trời chúng ta lắng tai nghe, ta xin
các ngươi hãy tìm kiếm và
giữ gìn các điều răn của
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
các ngươi, để các ngươi nhận lấy xứ tốt tươi nầy
và để lại cho con cháu các ngươi
làm cơ nghiệp đời đời.
9. Còn ngươi, là Sa-lô-môn,
con trai ta, hãy nhận biết Ðức Chúa Trời
của cha, hết lòng vui ý mà phục sự
Ngài; vì Ðức
Giê-hô-va dò xét tấm
lòng, và phân biệt các
ý tưởng. Nếu con tìm kiếm Ngài,
Ngài sẽ cho con gặp; nhưng nếu con lìa bỏ
Ngài, ắt Ngài sẽ từ bỏ con đời đời.
10. Bây giờ, khá cẩn thận; vì
Ðức Giê-hô-va đã chọn con đặng
xây cất một cái đền dùng làm
nơi thánh của Ngài: khá mạnh dạn
mà làm.
11. Bấy giờ, Ða-vít trao cho
Sa-lô-môn, con trai người, cái kiểu về
hiên cửa, về đền thờ, về các khung
thành, về lầu gác, về phòng trong của
đền thờ, và về nắp thi ân;
12. lại chỉ các kiểu người nhờ Thánh Linh cảm
động mà được, về các hành-lang của đền
Ðức Giê-hô-va, và về
các phòng bốn phía, về những khung
thành của đền Ðức Chúa Trời,
và về các kho để vật thánh;
13. về ban thứ của những thầy tế lễ và người
Lê-vi; về các công việc của đền
Ðức Giê-hô-va, và về
các thứ khí dụng trong đền Ðức
Giê-hô-va;
14. cũng chỉ kiểu số cân về các khí
dụng bằng vàng, dùng về mỗi thứ công
việc, và về các khí dụng bằng bạc, với
số cân nó, dùng về mỗi thứ
công việc;
15. lại chỉ số cân về những chân đèn
bằng vàng, và về những thếp đèn
vàng của nó, theo cân nổi của mỗi
chân và thếp nó; số cân về
những chân đèn bằng bạc, theo cân nổi
của mỗi chân và thếp nó, tùy
cách dùng của mỗi chân đèn.
16. Người cũng chỉ số cân về các ban để
bánh trần thiết, và bạc về những bàn
bằng bạc;
17. chỉ kiểu về nỉa, chậu, và ly bằng vàng
ròng; về chén vàng, và số
cân của mỗi cái; về những chén bạc,
và số cân của mỗi cái.
18. Lại chỉ kiểu về bàn thờ xông hương bằng
vàng thét, có số cân,
và kiểu về xe, về các chê-ru-bin
sè cánh ra che trên hòm giao
ước của Ðức Giê-hô-va.
19. Ða-vít nói rằng: Kiểu mẫu về
các công việc nầy, ta nhờ tay của Ðức
Giê-hô-va chép ra, khiến cho ta hiểu
biết vậy.
20. Ða-vít lại nói với
Sa-lô-môn, con trai mình rằng:
Hãy vững lòng bền chí mà
làm; chớ sợ sệt, chớ kinh hãi chi, vì
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời, tức
là Ðức Chúa Trời của cha, vẫn ở
cùng con; Ngài chẳng hề từ bỏ con, cũng chẳng hề
lìa khỏi con cho đến chừng các công
việc cất đền của Ðức Giê-hô-va được xong.
21. Kìa, có các ban thứ của những thầy
tế lễ và người Lê-vi, đặng làm
các công việc của đền Ðức Chúa
Trời; lại còn có những người vui ý,
thông thạo về các nghề, đặng giúp
làm mọi thứ công việc; các quan trưởng
và cả dân sự đều sẽ vâng theo mạng lịnh
của con.
1 Sử-Ký 29
Home
1. Ða-vít nói với cả hội chúng
rằng: Sa-lô-môn, con trai ta, chỉ một
mình con đó mà Ðức
Chúa Trời đã chọn, hãy còn
trẻ tuổi non-nớt, và công việc lại lớn lao;
vì cái đền đó chẳng phải cho
loài người đâu, bèn là cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời.
2. Ta đã hết sức sắm cho đền của Ðức Chúa
Trời ta, nào vàng dùng về đồ
làm bằng vàng, nào bạc dùng
về đồ làm bằng bạc, nào đồng dùng về
đồ làm bằng đồng, nào sắt dùng về đồ
làm bằng sắt, nào gỗ dùng về đồ
làm bằng gỗ, lại sắm những ngọc bích, ngọc để
khảm, ngọc chiếu sáng, ngọc đủ các
màu, và các thứ đá
quí, cùng đá cẩm thạch trắng rất nhiều.
3. Lại, vì lòng ta yêu mến đền của
Ðức Chúa Trời, nên ngoại trừ số ta
đã sắm cho đền thánh, ta cũng dâng cho
đền của Ðức Chúa Trời ta các đồ bằng
vàng và bằng bạc thuộc riêng về ta,
4. tức là ba ngàn ta lâng
vàng Ô-phia, và bảy ngàn ta
lâng bạc thét, đặng dùng bọc
các vách đền;
5. vàng dùng về các việc
làm bởi tay người thợ. Vậy ngày nay, ai
là người vui lòng dâng mình
cho Ðức Giê-hô-va?
6. Bấy giờ, các trưởng tộc, các trưởng của
các chi phái Y-sơ-ra-ên, các
quan tướng cai ngàn người và trăm người,
các kẻ coi sóc công việc của vua,
bèn vui lòng,
7. dâng về công việc đền Ðức
Chúa Trời, năm ngàn ta lâng
vàng, mười ngàn đa-riếc, mười ngàn ta
lâng bạc, mười tám ngàn ta
lâng đồng, và một trăm ngàn ta
lâng sắt.
8. Phàm ai có đá quí,
thì giao cho Giê-hi-ên về
dòng Ghẹt-sôn, để dâng vào
kho của Ðức Giê-hô-va.
9. Dân sự lấy làm vui mừng về điều mình
trọn lòng vui ý dâng cho Ðức
Giê-hô-va; và vua
Ða-vít cũng lấy làm vui mừng lắm.
10. Tại trước mặt cả hội chúng, Ða-vít
chúc tạ Ðức Giê-hô-va
mà rằng: Hỡi Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, tổ phụ chúng
tôi ôi! đáng chúc tạ
Ngài cho đến đời đời vô cùng!
11. Hỡi Ðức Giê-hô-va sự cao cả, quyền
năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi
đáng qui về Ngài; vì muôn
vật trên các từng trời và dưới đất đều
thuộc về Ngài. Ðức Giê-hô-va
ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được
tôn cao làm Chúa tể của muôn
vật.
12. Hoặc sự giàu có, hoặc sự vinh quang, đều do
Chúa mà đến, và Chúa quản
trị trên muôn vật; quyền năng và thế lực
ở nơi tay Chúa; tay Chúa khiến cho được
tôn trọng và ban sức mạnh cho mọi người.
13. Bây giờ, Ðức Chúa Trời
chúng tôi ôi! chúng
tôi cảm tạ Chúa và ngợi khen danh vinh
hiển của Ngài.
14. Nhưng tôi là ai, và dân
sự tôi là gì, mà
chúng tôi có sức dâng
cách vui lòng như vậy? Vì mọi vật đều
do nơi Chúa mà đến; và những vật
chúng tôi đã dâng cho
Chúa chẳng qua là đã thuộc về
Chúa.
15. Vì chúng tôi tại trước mặt
Chúa vốn là kẻ lạ, và kẻ ở đậu như
các tổ phụ chúng tôi; các
ngày chúng tôi tại trên đất,
khác nào cái bóng,
không mong ở lâu được.
16. Hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng tôi ôi! các vật nầy
mà chúng tôi đã sắm sửa để
cất đền cho danh thánh của Chúa, đều do nơi tay
Chúa mà đến, và thảy đều thuộc về
Chúa.
17. Ôi Ðức Chúa Trời tôi!
tôi biết rằng Chúa dò xét
lòng người ta, và Chúa vui vẻ về sự
ngay thẳng. Về phần tôi, tôi cứ theo sự ngay thẳng
của lòng tôi mà vui lòng
dâng các vật nầy; và bây giờ
tôi lấy làm vui mừng mà thấy
dân sự Chúa ở đây cũng có
dâng cho Chúa cách vui lòng.
18. Hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của
Y-sơ-ra-ên, tổ phụ của chúng tôi
ôi! xin hãy cho dân sự Chúa
giữ luôn luôn một tâm ý ấy
trong lòng, và làm cho lòng
chúng chiều theo về Chúa.
19. Xin Chúa hãy ban cho
Sa-lô-môn, con trai tôi, một
lòng trọn vẹn, để gìn giữ các điều
răn, chứng cớ, và luật lệ của Chúa,
cùng làm cho các công việc
nầy, xây cất cái đền mà tôi
đã sắm sửa thờ lạy cho.
20. Ða-vít nói với cả hội
chúng rằng: Hãy chúc tạ
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
các ngươi. Cả hội chúng bèn chiến trận
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ mình, cúi đầu xuống mà thờ lạy
Ðức Giê-hô-va, và lạy vua.
21. Qua ngày sau, chúng dâng những tế
lễ cho Ðức Giê-hô-va, và
dâng những của lễ thiêu cho Ðức
Giê-hô-va: một ngàn con bò
đực, một ngàn con chiên đực, một ngàn
con chiên con, cùng các lễ
quán cặp theo, và nhiều của tế lễ khác
vì cả dân Y-sơ-ra-ên;
22. trong ngày ấy, chúng ăn uống rất vui mừng tại
trước mặt Ðức Giê-hô-va; chúng
lần thứ nhì tôn Sa-lô-môn, con
trai Ða-vít, làm vua, và nhơn
Ðức Giê-hô-va xức dầu cho người
làm vua chúa, và lập Xa-đốc
làm thầy tế lễ.
23. Bấy giờ, Sa-lô-môn ngồi lên
trên ngôi của Ðức
Giê-hô-va, làm vua thế cho
Ða-vít, cha người, và người được hưng
thạnh; cả Y-sơ-ra-ên đều vâng theo mạng người.
24. Các quan trưởng, và người mạnh dạn,
luôn với các con trai của vua
Ða-vít, đều phục tùng vua
Sa-lô-môn.
25. Ðức Giê-hô-va khiến cho
Sa-lô-môn được rất coi trọng tại trước mặt cả
Y-sơ-ra-ên, và ban cho người được oai
nghiêm, đến đỗi trong Y-sơ-ra-ên chẳng
có một vua nào trước người được như vậy.
26. Ða-vít, con trai Y-sai, cai trị trên
cả Y-sơ-ra-ên.
27. Người cai trị trên Y-sơ-ra-ên bốn mươi năm: tại
Hếp-rôn, người cai trị bảy năm, và tại
Giê-ru-sa-lem, người cai trị ba mươi ba năm.
28. Người băng hà tuổi cao, thỏa nguyện về đời
mình, về sự giàu có, và về
vinh hiển; Sa-lô-môn, con trai người, cai trị thế
cho người.
29. Các công việc của vua
Ða-vít, từ đầu đến cuối, đều chép trong
sách của Sa-mu-ên, đấng tiên kiến, trong
sách của Na-than, đấng tiên tri, và
trong sách của Gát, đấng tiên kiến;
30. cuộc trị vì người, sự mạnh dạn người, các
việc xảy ra cho người, cho dân Y-sơ-ra-ên,
và cho các nước khác, đều
đã chép trong các sách ấy.