[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] [31] [32] [33] [34] [35] [36] [37] [38] [39] [40]
Xuất
Ê-díp-tô Ký 1
Home
1. Ðây là tên các con
trai của Y-sơ-ra-ên, mỗi người đều dẫn người nhà
mình đi với Gia-cốp đến xứ
Ê-díp-tô:
2. Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi
và Giu-đa;
3. Y-sa-ca, Sa-bu-lôn và Bên-gia-min;
4. Ðan, Nép-ta-li, Gát, và
A-se.
5. Hết thảy những người bởi Gia-cốp sanh ra, được bảy mươi người;
Giô-sép đã ở tại xứ
Ê-díp-tô.
6. Vả, Giô-sép và anh em người
cùng mọi kẻ đồng đời đó đều chết hết.
7. Con cháu Y-sơ-ra-ên thêm nhiều lạ
lùng, nẩy nở ra, và trở nên rất cường
thạnh; cả xứ đều đầy dẫy.
8. Nhưng bấy giờ tại nước Ê-díp-tô,
có một vua mới lên ngôi, chẳng quen biết
Giô-sép.
9. Vua phán cùng dân mình
rằng: Nầy, dân Y-sơ-ra-ên đông
và mạnh hơn chúng ta;
10. hè! ta hãy dùng chước
khôn ngoan đối cùng họ, kẻo họ thêm
nhiều lên, một mai nếu có cơn chinh chiến xảy đến,
họ sẽ hiệp cùng quân nghịch đánh lại
ta, và ra khỏi xứ chăng.
11. Vậy, người Ê-díp-tô bèn
đặt các kẻ đầu xâu để bắt dân
Y-sơ-ra-ên làm xâu khó nhọc;
họ xây thành Phi-thom và Ram-se
dùng làm kho tàng cho
Pha-ra-ôn.
12. Nhưng người Ê-díp-tô càng
bắt làm khó nhọc chừng nào,
dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều
lên, và tràn ra chừng nấy. Người
Ê-díp-tô bèn đem
lòng ghen ghét dân Y-sơ-ra-ên,
13. bắt làm công việc nhọc nhằn,
14. gây cho đời dân ấy nên cay đắng,
vì nỗi khổ sở nhồi đất, làm gạch và
mọi việc khác ở ngoài đồng. Các
công việc nầy người Ê-díp-tô
bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nhọc nhằn lắm.
15. Vua xứ Ê-díp-tô cũng phán
cùng các bà mụ của dân
Hê-bơ-rơ, một người tên Siếp-ra và một
người tên Phu-a,
16. mà rằng: Khi các ngươi đi rước thai cho người
đàn bà Hê-bơ-rơ, hễ thấy sanh con trai,
thì hãy làm cho chết đi;
còn con gái, thì hãy để cho
sống.
17. Nhưng các bà mụ kính sợ
Ðức Chúa Trời, chẳng làm theo lời vua
Ê-díp-tô phán dặn, đều để cho
các con trai sống hết.
18. Vua xứ Ê-díp-tô bèn
đòi những bà mụ mà phán
rằng: Sao các ngươi làm như vậy, để cho những con
trai sống?
19. Các bà mụ tâu rằng: Ấy tại người
đàn bà Hê-bơ-rơ chẳng phải như người
đàn bà Ê-díp-tô;
vì họ mạnh khỏe hơn, đã sanh nở trước khi mụ đến.
20. Ðức Chúa Trời ban ơn cho những bà mụ;
dân sự gia thêm và trở nên
đông đúc.
21. Ấy vậy, vì bà mụ có
lòng kính sợ Ðức Chúa Trời,
nên Ngài làm cho nhà họ được
thạnh vượng.
22. Pha-ra-ôn bèn truyền lịnh cho cả dân
mình rằng: Phàm con trai của dân
Hê-bơ-rơ mới sanh, hãy liệng xuống sông;
còn con gái, thì để cho sống.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 2
Home
1. Vả, có một người trong họ Lê-vi đi cưới con
gái Lê-vi làm vợ.
2. Nàng thọ thai, và sanh một con trai; thấy con
ngộ, nên đem đi giấu trong ba tháng.
3. Nhưng giấu lâu hơn nữa không được,
nàng bèn lấy một cái rương
mây, trét chai và nhựa thông,
rồi để đứa trẻ vào, đem thả trong đám sậy dựa
mé sông.
4. Người chị đứa trẻ đứng xa nơi đó đặng cho biết
nó sẽ ra sao.
5. Vả, bấy giờ, con gái Pha-ra-ôn xuống
sông tắm, còn các con đòi đi
dạo chơi trên mé sông; công
chúa thấy cái rương mây đó
giữa đám sậy, bèn sai con đòi
mình đi vớt lên.
6. Công chúa mở rương ra, thấy đứa trẻ,
là một đứa con trai nhỏ đương khóc,
bèn động lòng thương xót mà
rằng: Ấy là một đứa con của người Hê-bơ-rơ.
7. Người chị đứa trẻ bèn nói cùng
công chúa rằng: Tôi phải đi
kêu một người vú trong bọn đàn
bà Hê-bơ-rơ đặng cho dứa trẻ bú chớ?
8. Công chúa đáp rằng: Hãy
đi đi. Người gái trẻ đó kêu mẹ của đứa
trẻ.
9. Công chúa nói rằng: Hãy
đem đứa trẻ nầy về nuôi bú cho ta; ta sẽ trả tiền
công cho. Người đàn bà ẵm đứa trẻ
mà cho bú.
10. Khi lớn khôn rồi, người bèn dẫn nó
vào cho công chúa, nàng nhận
làm con, và đặt tên là
Môi-se, vì nàng nói rằng: Ta
đã vớt nó khỏi nước.
11. Vả, đang lúc đó, Môi-se
đã lớn khôn rồi, ra đi đến cùng anh em
mình, xem thấy công việc nhọc nhằn của họ; cũng
thấy một người Ê-díp-tô đánh
một người Hê-bơ-rơ trong vòng anh em
mình;
12. ngó quanh quất chẳng thấy ai, bèn giết người
Ê-díp-tô đem vùi trong
cát.
13. Qua ngày sau, Môi-se đi ra nữa, thấy hai người
Hê-bơ-rơ đánh lộn, bèn nói
cùng người có lỗi rằng: Sao ngươi đánh
người đồng loại mình?
14. Nhưng người đó đáp rằng: Ai đặt ngươi
làm vua, làm quan án cho
chúng ta? Có phải muốn giết ta như đã
giết người Ê-díp-tô kia chăng?
Môi-se sợ, nói rằng: Chắc thật, việc nầy phải lậu
rồi.
15. Pha-ra-ôn hay việc đó, thì
tìm giết Môi-se; nhưng người trốn đi khỏi mặt
Pha-ra-ôn, dừng chân tại xứ Ma-đi-an, và
ngồi gần bên một cái giếng.
16. Vả, thầy tế lễ xứ Ma-đi-an có bảy con gái;
các nàng đó đến giếng xách
nước đổ đầy máng đặng cho bầy chiên cha
mình uống.
17. Nhưng các kẻ chăn chiên đến đuổi đi;
Môi-se bèn đứng dậy, binh vực các
nàng đó và cho những bầy
chiên uống nước.
18. Khi mấy nàng trở về nhà
Rê-u-ên, cha mình, thì người
hỏi rằng: Sao bữa nay các con về sớm vậy?
19. Thưa rằng: Một người Ê-díp-tô cứu
chúng tôi ra khỏi tay bọn chăn chiên,
và cũng có xách nước nhiều
quá cho bầy chiên uống nữa.
20. Cha lại hỏi rằng: Người đó bây giờ ở
đâu? Sao các con bỏ người đi? Hãy mời
đến đặng ăn bánh.
21. Môi-se ưng ở cùng người nầy, người
bèn gả Sê-phô-ra, con gái
mình, cho Môi-se.
22. Nàng sanh một con trai; Môi-se đặt
tên là Ghẹt-sôn vì
nói rằng: Tôi kiều ngụ nơi ngoại bang.
23. Sau cách lâu, vua xứ
Ê-díp-tô băng; dân
Y-sơ-ra-ên than thở kêu van vì phải phục
dịch khổ sở; tiếng kêu van lên thấu Ðức
Chúa Trời.
24. Ngài nghe tiếng than thở chúng, nhớ đến sự
giao ước mình kết lập cùng Áp-ra-ham,
Y-sác và Gia-cốp.
25. Ðức Chúa Trời đoái lại dân
Y-sơ-ra-ên, nhận biết cảnh ngộ của chúng.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 3
Home
1. Vả, Môi-se chăn bầy chiên cho
Giê-trô, ông gia mình,
là thầy tế lễ tại xứ Ma-đi-an; dẫn bầy chiên qua
phía bên kia đồng vắng, đến núi của
Ðức Chúa Trời, là núi
Hô-rếp.
2. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va
hiện ra cùng người trong ngọn lửa, giữa bụi gai kia. Người
nhìn thấy cả bụi gai đang cháy, nhưng
không hề tàn.
3. Môi-se bèn nói rằng: Ta
hãy tẻ bước lại đặng xem sự lạ lớn nầy, vì cớ sao
bụi gai chẳng tàn chút nào.
4. Ðức Giê-hô-va thấy người tẻ bước lại
xem, Ðức Chúa Trời bèn ở giữa bụi gai gọi
rằng: Hỡi Môi-se, hỡi Môi-se! Người thưa rằng:
Có tôi đây!
5. Ðức Chúa Trời phán rằng: Chớ lại gần
chốn nầy, Hãy cổi giầy ngươi ra, vì chỗ ngươi
đang đứng là đất thánh.
6. Rồi Ngài lại nói: Ta là Ðức
Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Ðức Chúa Trời
của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của
Y-sác, và Ðức Chúa Trời của
Gia-cốp. Môi-se liền che mặt, vì sợ
nhìn đến Ðức Chúa Trời.
7. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ta
đã thấy rõ ràng sự cực khổ của
dân ta tại xứ Ê-díp-tô,
và có nghe thấu tiếng kêu rêu
vì cớ người đốc công của nó; phải, ta
biết được nỗi đau đớn của nó.
8. Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người
Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến
một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa
và mật, tức là nơi dân Ca-na-an,
dân Hê-tít, dân
A-mô-rít, dân
Phê-rê-sít, dân
Hê-vít và dân
Giê-bu-sít ở.
9. Nầy, tiếng kêu rêu của dân
Y-sơ-ra-ên thấu đến ta, và ta đã thấy
dân Ê-díp-tô hà
hiếp chúng nó thể nào;
10. vậy bây giờ, hãy lại đây, đặng ta
sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân ta,
là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
11. Môi-se bèn thưa rằng: Tôi
là ai, dám đi đến Pha-ra-ôn, đặng dắt
dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ
Ê-díp-tô?
12. Ðức Chúa Trời phán rằng: Ta sẽ ở
cùng ngươi; nầy là điều làm dấu cho
ngươi biết rằng ta đã sai ngươi đi: Khi ngươi dắt
dân sự ra khỏi xứ Ê-díp-tô
rồi, thì các ngươi sẽ phụng sự Ðức
Chúa Trời tại trên núi nầy.
13. Môi-se thưa cùng Ðức Chúa
Trời rằng: Nầy, tôi sẽ đi đến dân
Y-sơ-ra-ên, nói cùng họ rằng:
Ðức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi sai ta
đến cùng các ngươi; nhưng nếu họ hỏi:
Tên Ngài là chi? thì
tôi nói với họ làm sao?
14. Ðức Chúa Trời phán rằng: Ta
là Ðấng Tự Hữu Hằng Hữu; rồi Ngài lại
rằng: Hãy nói cho dân
Y-sơ-ra-ên như vầy: Ðấng Tự Hữu đã sai ta
đến cùng các ngươi.
15. Ðức Chúa Trời lại phán
cùng Môi-se rằng: Ngươi sẽ nói cho
dân Y-sơ-ra-ên như vầy:
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của tổ
phụ các ngươi, Ðức Chúa Trời của
Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của
Y-sác, Ðức Chúa Trời của Gia-cốp, sai ta
đến cùng các ngươi. Ấy đó
là danh đời đời của ta, ấy sẽ là kỷ niệm của ta
trải qua các đời.
16. Hãy đi, hội hiệp các trưởng lão
Y-sơ-ra-ên, mà nói cùng họ
rằng: Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời
của tổ phụ các ngươi, Ðức Chúa Trời của
Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của
Y-sác, Ðức Chúa Trời của Gia-cốp,
đã hiện ra cùng ta mà phán
rằng: Thật vậy, ta đã thăm viếng các ngươi, thấy
điều họ đãi các ngươi tại xứ
Ê-díp-tô,
17. nên ta đã phán rằng: Ta sẽ
rút các ngươi ra khỏi cảnh khổ tại xứ
Ê-díp-tô, đặng đem lên xứ của
dân Ca-na-an, dân Hê-tít,
dân A-mô-rít, dân
Phê-rê-sít, dân
Hê-vít, và dân
Giê-bu-sít, tức là một xứ đượm sữa
và mật.
18. Dân sự sẽ vâng theo lời ngươi; vậy, ngươi
và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên
hãy đi yết-kiến vua xứ
Ê-díp-tô mà tâu
rằng: Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời
của dân Hê-bơ-rơ, đã hiện ra
cùng chúng tôi. Vây
bây giờ, xin để cho chúng tôi đi đến nơi
đồng vắng, cách chừng ba ngày đường đặng
dâng của lễ cho Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời chúng tôi.
19. Vả, ta biết rằng dẫu lấy quyền lực ép buộc vua
Ê-díp-tô, thì người cũng
chẳng bao giờ cho các ngươi đi!
20. Nhưng ta sẽ giơ tay ra hành xứ
Ê-díp-tô bằng các
phép lạ ta làm giữa xứ đó, sau rồi họ
sẽ cho các ngươi đi.
21. Ta sẽ làm cho dân nầy được ơn trước mắt người
Ê-díp-tô; vậy, khi nào
các ngươi ra đi, thì sẽ chẳng ra đi tay
không;
22. nhưng mỗi người đàn bà sẽ hỏi xin người nữ
lân cận, cùng kẻ ở tạm nhà
mình những đồ bằng vàng, bằng bạc và
quần áo, mặc lấy cho con trai con gái
mình. Các ngươi sẽ lột trần dân
Ê-díp-tô là như vậy.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 4
Home
1. Môi-se thưa rằng: Nhưng dân đó sẽ
chẳng tin và chẳng vâng lời tôi,
vì sẽ nói rằng: Ðức
Giê-hô-va chẳng có hiện ra
cùng ngươi đâu.
2. Ðức Giê-hô-va phán rằng:
Trong tay ngươi cầm vật chi? Thưa rằng: Một cây gậy.
3. Phán rằng: Hãy ném xuống đất đi.
Người bèn ném xuống đất, gậy hóa ra
một con rắn; Môi-se chạy trốn nó.
4. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
giơ tay ngươi ra nắm đuôi nó. Người giơ tay ra
nắm, thì nó hườn lại cây gậy trong tay.
5. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ấy
để cho chúng nó tin rằng
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của tổ
phụ mình, là Ðức Chúa Trời của
Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của
Y-sác, Ðức Chúa Trời của Gia-cốp,
đã hiện ra cùng ngươi.
6. Ðức Giê-hô-va lại phán rằng:
Hãy đặt tay ngươi vào lòng. Người liền
đặt vào, rồi lấy ra. Nầy, tay người nổi phung trắng như
tuyết.
7. Ðoạn, Ngài phán rằng: Hãy
đặt tay ngươi vào lòng lại; người bèn
đặt vào, rồi lấy ra. Kìa, tay trở lại như thịt
mình.
8. Lại phán: Nếu khi nào dân
đó chẳng tin ngươi và chẳng vâng theo
tiếng của dấu thứ nhất, thì sẽ tin theo tiếng của dấu thứ
nhì.
9. Vả lại, nếu dân chẳng tin cả hai dấu nầy, và
không vâng theo lời ngươi, thì
hãy lấy nước dưới sông mà
làm tràn ngập trên mặt đất; nước
mà ngươi đã lấy dưới sông lên
đó, sẽ thành máu trên mặt
đất vậy.
10. Môi-se thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng: Ôi! lạy Chúa,
từ hôm qua, hôm kia, hay là từ
lúc Chúa phán dạy kẻ tôi tớ
Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói
giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập
ngừng.
11. Ðức Giê-hô-va bèn
phán rằng: Ai tạo miệng loài người ra? hay
là ai đã làm câm,
làm điếc, làm sáng, làm mờ?
Có phải ta là Ðức
Giê-hô-va chăng?
12. Vậy bây giờ, hãy đi; ta sẽ ở cùng
miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói.
13. Môi-se thưa rằng: Ôi! lạy Chúa,
Chúa muốn sai ai đi, thì sai.
14. Ðức Giê-hô-va bèn nổi giận
cùng Môi-se mà phán rằng:
Có phải A-rôn, người Lê-vi,
là anh ngươi chăng? Ta biết người đó
có tài nói giỏi, và
kìa, người đang đi đến đón ngươi kìa;
khi thấy ngươi, chắc sẽ vui mừng trong lòng.
15. Vậy ngươi hãy nói cùng người,
và sắp để những lời trong miệng người. Khi hai ngươi
nói, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và miệng
anh ngươi, dạy các ngươi những điều gì phải
làm.
16. Ấy là người đó sẽ nói
cùng dân sự thế cho ngươi, dùng
làm miệng ngươi, còn ngươi sẽ dường như
Ðức Chúa Trời cho người vậy.
17. Ngươi hãy cầm lấy gậy nầy nơi tay, để dùng
làm các dấu lạ.
18. Môi-se bèn đi, trở về
Giê-trô, ông gia mình,
mà thưa rằng: Xin cha hãy cho tôi trở
về nơi anh em tôi tại xứ
Ê-díp-tô, đặng thăm thử họ
còn sống chăng. Giê-trô bèn
nói cùng Môi-se rằng: Con
hãy đi bình yên.
19. Vả, Ðức Giê-hô-va có
phán cùng Môi-se tại Ma-đi-an rằng:
Hãy trở về xứ Ê-díp-tô,
vì mấy người tìm giết ngươi đã chết
hết rồi.
20. Môi-se bèn đỡ vợ và con
mình lên lưng lừa, trở về xứ
Ê-díp-tô. Người cũng cầm cây
gậy của Ðức Chúa Trời theo trong tay.
21. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Khi trở về xứ
Ê-díp-tô, hãy cẩn thận về
các dấu lạ của ta đã giao nơi tay ngươi
mà làm trước mặt Pha-ra-ôn; nhưng ta sẽ
khiến người cứng lòng chẳng cho dân sự đi.
22. Vậy, ngươi phải tâu cùng Pha-ra-ôn
rằng: Ðức Giê-hô-va có
phán như vầy: Y-sơ-ra-ên là con ta, tức
trưởng nam ta,
23. nên ta có phán cùng
ngươi rằng: Hãy cho con ta đi, để nó phụng sự ta,
mà ngươi đã từ chối không cho
nó đi. Nầy, ta sẽ giết con trai ngươi, là con
trưởng nam của ngươi.
24. Vả, đang khi đi đường, Ðức Giê-hô-va
hiện ra trước mặt Môi-se nơi nhà quán,
và kiếm thế giết người đi.
25. Sê-phô-ra lấy con dao bằng đá, cắt
dương bì của con mình, và quăng dưới
chân Môi-se, mà nói rằng:
Thật, chàng là huyết lang cho tôi!
26. Ðức Giê-hô-va tha chồng;
nàng bèn nói rằng: Huyết lang!
là vì cớ phép cắt bì.
27. Ðức Giê-hô-va phán
cùng A-rôn rằng: Hãy đi đến đồng vắng,
đón rước Môi-se. A-rôn bèn
đi, gặp Môi-se tại núi của Ðức
Chúa Trời, và hôn người.
28. Môi-se thuật lại cho A-rôn mọi lời của
Ðức Giê-hô-va sai mình truyền,
và các dấu lạ mà Ngài
đã dạy mình làm.
29. Vậy, Môi-se đi cùng A-rôn,
nhóm lại các trưởng lão dân
Y-sơ-ra-ên.
30. A-rôn bèn thuật hết các lời của
Ðức Giê-hô-va đã phán
cùng Môi-se, và làm những
dấu lạ trước mặt dân sự.
31. Chúng bèn tin, hiểu rằng Ðức
Giê-hô-va đã thăm viếng dân
Y-sơ-ra-ên, và thấy điều cực khổ của
mình; chúng bèn cúi đầu
và thờ lạy.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 5
Home
1. Kế sau, Môi-se và A-rôn đến
tâu cùng Pha-ra-ôn rằng:
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của
dân Y-sơ-ra-ên có phán như
vầy: Hãy cho dân ta đi, đặng nó giữ một
lễ cho ta tại đồng vắng.
2. Nhưng Pha-ra-ôn đáp rằng:
Giê-hô-va là ai mà trẫm phải
vâng lời người, để cho dân Y-sơ-ra-ên đi?
Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết; cũng
chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi nữa.
3. Môi-se và A-rôn tâu rằng:
Ðức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ
đã đến cùng chúng tôi; xin
hãy cho phép chúng tôi đi
vào nơi đồng vắng, cách chừng ba ngày
đường, đặng dâng tế lễ cho Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời chúng tôi, kẻo
Ngài khiến bịnh dịch hay việc gươm dao hành
chúng tôi chăng.
4. Vua xứ Ê-díp-tô phán rằng:
Hỡi Môi-se và A-rôn, sao các
ngươi xui cho dân chúng bỏ công việc như
vậy? Hãy đi làm công việc
mình đi!
5. Pha-ra-ôn lại phán rằng: Kìa,
dân sự trong xứ bây giờ đông
đúc quá, hai người làm cho
chúng nó phải nghỉ việc ư!
6. Trong ngày đó, Pha-ra-ôn truyền lịnh
cho các đốc dịch và phái
viên rằng:
7. Các ngươi đừng phát rơm cho dân sự
làm gạch như lúc trước nữa; chúng
nó phải tự đi kiếm góp lấy.
8. Nhưng các ngươi hãy hạn số gạch y như cũ, chớ
trừ bớt chi cả; vì họ biếng nhác, lấy cớ
mà đồng kêu lên rằng: Hè! đi
dâng tế lễ cho Ðức Chúa Trời
chúng ta!
9. Hãy gán công việc nặng cho
chúng nó, hầu cho chúng nó
mắc công việc, chẳng xiêu về lời giả dối nữa.
10. Các đốc dịch và phái
viên bèn ra, nói cùng
dân chúng rằng: Pha-ra-ôn có
phán như vầy: Ta chẳng cho các ngươi rơm nữa.
11. Hãy tự đi kiếm lấy rơm ở đâu đi; song chẳng
trừ bớt công việc các ngươi chút
nào.
12. Bấy giờ, dân chúng bèn đi rải khắp
xứ Ê-díp-tô, đặng góp gốc rạ
thế cho rơm.
13. Các đốc dịch lại hối rằng: Hãy làm
cho xong phần việc các ngươi, y cố định, ngày
nào cho rồi ngày nấy, cũng như khi có
phát rơm.
14. Những phái viên trong vòng
dân Y-sơ-ra-ên mà các đốc
dịch của Pha-ra-ôn đã lập lên
trên dân đó, bị đánh
và quở rằng: Sao hôm qua và
ngày nay, các ngươi chẳng làm xong
phần định về việc mình làm gạch y như trước?
15. Các phái viên của dân
Y-sơ-ra-ên bèn đến kêu cùng
Pha-ra-ôn rằng: Sao bệ hạ đãi kẻ tôi tớ
như vậy?
16. Người ta chẳng phát rơm cho, lại cứ biểu
chúng tôi rằng: Hãy làm gạch
đi! Nầy tôi tớ của bệ hạ đây bị đòn; lỗi
tại dân của bệ hạ.
17. Nhưng vua đáp rằng: Các ngươi là
đồ biếng nhác, đồ biếng nhác! Bởi cớ
đó nên nói với nhau rằng:
Hè! đi tế Ðức Giê-hô-va!
18. Vậy bây giờ, cứ đi làm việc đi, người ta chẳng
phát rơm cho đâu, nhưng các ngươi phải
nộp gạch cho đủ số.
19. Vậy, các phái viên của
dân Y-sơ-ra-ên lấy làm bối rối,
vì người ta có nói cùng
mình rằng: Các ngươi chẳng được trừ số gạch
đã định cho mình ngày nào
rồi ngày nấy.
20. Khi lui ra khỏi Pha-ra-ôn thì họ gặp
Môi-se và A-rôn đợi tại đó,
21. bèn nói rằng: Hai ngươi đã
làm cho chúng tôi ra mùi
hôi hám trước mặt Pha-ra-ôn
và quần thần, mà trao thanh gươm vào
tay họ đặng giết chúng tôi. Cầu xin Ðức
Giê-hô-va xem xét và xử
đoán hai ngươi!
22. Môi-se bèn trở về cùng Ðức
Giê-hô-va mà thưa rằng: Lạy
Chúa! sao Chúa đã làm hại
cho dân sự nầy? Chúa sai tôi đến
mà chi?
23. Từ khi tôi đi yết kiến Pha-ra-ôn đặng
nhân danh Chúa mà nói,
thì người lại ngược đãi dân nầy,
và Chúa chẳng giải cứu dân của
Chúa.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 6
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Bây giờ ngươi
hãy xem những điều ta sẽ hành
Pha-ra-ôn; vì nhờ tay quyền năng ép
buộc vua đó sẽ tha và đuổi dân
Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.
2. Ðức Chúa Trời lại phán cùng
Môi-se rằng: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
3. Ta đã hiện ra cùng Áp-ra-ham,
cùng Y-sác, và cùng
Gia-cốp, tỏ mình là Ðức Chúa
Trời toàn năng; song về danh ta là
Giê-hô-va, thì ta chưa hề tỏ cho họ biết.
4. Ta cũng có lập giao ước cùng họ, để ban xứ
Ca-na-an cho, là xứ họ đã kiều ngụ như
khách ngoại bang.
5. Ta cũng có nghe lời than thở của dân
Y-sơ-ra-ên bị người Ê-díp-tô
bắt làm tôi mọi, bèn nhớ lại sự giao
ước của ta.
6. Vậy nên, ngươi hãy nói
cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ta
là Ðức Giê-hô-va sẽ
rút các ngươi khỏi gánh nặng
mà người Ê-díp-tô
đã gán cho, cùng giải thoát
khỏi vòng tôi mọi; ta sẽ giơ thẳng tay ra,
dùng sự đoán phạt nặng mà chuộc
các ngươi.
7. Ta sẽ nhận các ngươi làm dân ta,
và ta sẽ làm Ðức Chúa Trời của
các ngươi; các ngươi sẽ biết ta là
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
các ngươi, đã rút các ngươi
khỏi gánh nặng của người
Ê-díp-tô.
8. Ta sẽ dắt các ngươi vào xứ ta đã
thề ban cho Áp-ra-ham, cho Y-sác, cho Gia-cốp,
mà cho các ngươi xứ đó làm
cơ nghiệp: Ta là Ðức Giê-hô-va.
9. Môi-se nói lại như vậy cho dân
Y-sơ-ra-ên; nhưng vì bị sầu não
và việc tôi mọi nặng nề, nên chẳng nghe
Môi-se chút nào.
10. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng:
11. Hãy đi tâu cùng
Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô,
phải cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.
12. Nhưng Môi-se thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng: Nầy, tôi là
một kẻ vụng miệng; dân Y-sơ-ra-ên chẳng
có nghe lời tôi, Pha-ra-ôn há
sẽ khứng nghe lời tôi sao?
13. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se và A-rôn,
bèn truyền cho hai người phải đi đến dân
Y-sơ-ra-ên và Pha-ra-ôn, vua xứ
Ê-díp-tô, đặng đem dân
đó ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
14. Ðây là các trưởng tộc của
những họ hàng dân Y-sơ-ra-ên.
Các con trai của Ru-bên, tức là trưởng
nam Y-sơ-ra-ên, là: Hê-nóc,
Pha-lu, Hết-rôn và Cạt-mi. Ðó
là những họ hàng của Ru-bên.
15. Các con trai của Si-mê-ôn
là: Giê-mu-ên, Gia-min,
Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha và
Sau-lơ là con của vợ xứ Ca-na-an. Ðó
là họ hàng của Si-mê-ôn.
16. Ðây là tên các
con trai của Lê-vi, tùy theo dòng
dõi của họ: Ghẹt-sôn, Kê-hát,
và Mê-ra-ri. Lê-vi hưởng thọ được một
trăm ba mươi bảy tuổi.
17. Các con trai của Ghẹt-sôn, tùy theo
họ hàng mình: Líp-ni và
Si-mê-y.
18. Các con trai của Kê-hát
là: Am-ram, Dít-sê-ha,
Hếp-rôn, và U-xi-ên.
Kê-hát hưởng thọ được một trăm ba mươi ba tuổi.
19. Các con trai của Mê-ra-ri là:
Mách-li, và Mu-si. Ðó
là các họ hàng của Lê-vi,
tùy theo dòng dõi của họ.
20. Vả, Am-ram lấy Giô-kê-bết, là
cô mình, làm vợ; nàng sanh
cho người A-rôn và Môi-se. Am-ram hưởng
thọ được một trăm ba mươi bảy tuổi.
21. Các con trai của Dít-sê-ha
là: Cô-rê, Nê-phết
và Xiếc-ri.
22. Các con trai của U-xi-ên là:
Mi-sa-ên, Ên-sa-phan, và
Sít-ri.
23. A-rôn cưới Ê-li-sê-ba, con
gái của A-mi-na-đáp, em của Na-ha-sôn;
nàng sanh cho người Na-đáp, A-bi-hu,
Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
24. Các con trai của Cô-rê
là: Át-si, Ên-ca-na và
A-bi-a-sáp. Ðó là
các họ hàng của dân
Cô-rê.
25. Ê-lê-a-sa, con trai của A-rôn, cưới
con gái của Phu-ti-ên làm vợ;
nàng sanh Phi-nê-a cho người.
Ðó là các trưởng tộc của
nhà tổ phụ người Lê-vi, tùy theo họ
hàng mình vậy.
26. Ấy, A-rôn và Môi-se nầy, tức
là người mà Ðức
Giê-hô-va đã phán dạy rằng:
Hãy tùy theo cơ đội, đem dân
Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
27. Ấy là hai người tâu cùng
Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô,
đặng đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ đó;
ấy là Môi-se và A-rôn nầy.
28. Vậy, trong ngày Ðức
Giê-hô-va phán cùng
Môi-se tại xứ Ê-díp-tô,
29. thì Ngài có truyền rằng: Ta
là Ðức Giê-hô-va, hãy
tâu lại cùng Pha-ra-ôn, vua xứ
Ê-díp-tô, hết thảy mọi lời ta sẽ
phán cùng ngươi.
30. Môi-se bèn thưa rằng: Nầy, tôi
là người vụng miệng: Pha-ra-ôn há sẽ
nghe tôi sao?
Xuất
Ê-díp-tô Ký 7
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy xem, ta lập ngươi
như là Ðức Chúa Trời cho
Pha-ra-ôn, còn A-rôn, anh ngươi, sẽ
làm kẻ tiên tri của ngươi.
2. Hãy nói lại mọi lời ta sẽ truyền dạy ngươi,
rồi A-rôn, anh ngươi, sẽ tâu cùng
Pha-ra-ôn, đặng người thả dân Y-sơ-ra-ên
ra khỏi xứ mình.
3. Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng,
và thêm nhiều dấu lạ phép kỳ của ta
trong xứ Ê-díp-tô.
4. Nhưng Pha-ra-ôn sẽ chẳng nghe các ngươi
đâu; ta sẽ tra tay vào đất
Ê-díp-tô, dùng những sự
đoán-phạt nằng-nề, đặng rút khỏi xứ đó
các quân đội ta, là dân
Y-sơ-ra-ên.
5. Khi nào ta tra tay vào xứ
Ê-díp-tô mà rút
dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa vòng người
Ê-díp-tô, thì họ sẽ biết ta
là Ðức Giê-hô-va.
6. Môi-se và A-rôn bèn
làm y như lời Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn.
7. Vả, khi hai người tâu cùng Pha-ra-ôn,
thì Môi-se tuổi đã được tám
mươi, còn A-rôn tám mươi ba.
8. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
9. Khi nào Pha-ra-ôn truyền cho các
ngươi: Hãy làm phép lạ đi,
thì ngươi sẽ nói cùng A-rôn
rằng: Hãy lấy cây gậy của anh, liệng trước mặt
Pha-ra-ôn, gậy sẽ hóa thành một con rắn.
10. Vậy, Môi-se và Pha-ra-ôn đến
cùng Pha-ra-ôn và làm như
lời Ðức Giê-hô đã
phán dặn. A-rôn liệng cây gậy
mình trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần,
gậy liền hóa thành một con rắn.
11. Còn Pha-ra-ôn bèn đòi
các bác sĩ và thầy phù
chú, là những thuật-sĩ
Ê-díp-tô; phần họ, cũng cậy
phép phù chú mình
mà làm giống in như vậy.
12. Mỗi người liệng gậy mình, liền hóa
thành rắn; nhưng gậy của A-rôn nuốt các
gậy của họ.
13. Thế mà lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi,
chẳng nghe Môi-se và A-rôn, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán.
14. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Pha-ra-ôn
đã rắn lòng, từ chối không để cho
dân sự đi.
15. Sớm mai Pha-ra-ôn sẽ ngự ra bờ sông, ngươi
hãy ra mắt người và cầm theo tay cây
gậy đã biến ra con rắn đó.
16. Ngươi hãy tâu rằng:
Giê-hô-va, là Ðức
Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, sai
tôi đến gần bệ hạ, đặng tâu rằng: Hãy
tha cho dân ta đi, để chúng nó hầu việc
ta trong đồng vắng; mà đến bây giờ ngươi
không nghe ta chút nào.
17. Ðức Giê-hô-va có
phán như vầy: Vì việc nầy, ngươi sẽ biết ta
là Ðức Giê-hô-va: Nầy ta lấy gậy
trong tay ta mà đập nước ở dưới sông, nước sẽ trở
nên huyết.
18. Cá dưới sông sẽ chết, và
sông sẽ hôi thúi đi; người
Ê-díp-tô uống nước sông lấy
làm ghê gớm.
19. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
truyền cho A-rôn rằng: Cầm lấy cây gậy anh, giơ tay
ra trên nước xứ Ê-díp-tô,
trên rạch, sông, bàu, và khắp
mọi nơi có nước trong xứ, hầu cho nước hóa
thành huyết; cả xứ Ê-díp-tô,
và trong những bình chứa nước bằng gỗ, bằng
đá đều sẽ có huyết hết thảy.
20. Vậy, Môi-se và A-rôn bèn
làm y như lời Ðức Giê-hô-va
đã dặn mình. Trước mặt Pha-ra-ôn
và quần thần, A-rôn giơ gậy lên, đập
nước sông, hết thảy nước sông bèn
hóa thành huyết.
21. Cá dưới sông chết, nước sông
hôi-thúi, người
Ê-díp-tô không thể uống được;
vậy, huyết lan khắp cả xứ Ê-díp-tô.
22. Song các thuật sĩ cậy phù chú
mình cũng làm được như vậy, lòng
Pha-ra-ôn cứng cỏi, không nghe Môi-se
và A-rôn chút nào, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán.
23. Pha-ra-ôn xây đi về đền mình,
lòng chẳng để về mấy điều đó chút
nào.
24. Vả, vì hết thảy người
Ê-díp-tô uống nước sông chẳng
được, nên đào xung quanh sông
tìm nước mà uống.
25. Sau khi Ðức Giê-hô-va đập
sông thì được bảy ngày.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 8
Home
1. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
đi ra mắt Pha-ra-ôn, và tâu
cùng người rằng: Ðức Giê-hô-va
có phán như vầy: Hãy tha cho
dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta.
2. Nếu ngươi không tha cho đi, nầy ta sẽ giáng tai
nạn ếch nhái khắp bờ cõi ngươi.
3. Sông sẽ sanh đông đúc ếch
nhái, bò lên vào cung điện,
phòng ngủ, và trên giường người,
vào nhà đầy tớ và dân sự
ngươi, trong lò bếp, cùng nơi nhồi bột
làm bánh của ngươi.
4. Ếch nhái sẽ bò lên mình
ngươi, lên mình dân sự và mọi
đầy tớ ngươi.
5. Vậy, Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho
A-rôn rằng: Hãy cầm gậy giơ tay ra trên
rạch, trên sông và trên
bàu, khiến ếch nhái tràn lên
xứ Ê-díp-tô.
6. A-rôn giơ tay mình trên
các sông rạch xứ
Ê-díp-tô, ếch nhái
bò lên lan khắp xứ.
7. Các thuật sĩ cũng cậy phù chú
mình làm y như vậy, đặng khiến ếch
nhái bò lên xứ
Ê-díp-tô.
8. Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se
và A-rôn mà phán rằng:
Hãy cầu nguyện Ðức Giê-hô-va, để
Ngài khiến ếch nhái cách xa ta
và dân sự ta; thì ta sẽ tha
dân Hê-bơ-rơ đi tế Ðức
Giê-hô-va.
9. Môi-se bèn tâu cùng
Pha-ra-ôn rằng: Xin hãy định chừng nào
tôi phải vì bệ hạ, đầy tớ cùng
dân sự bệ hạ mà cầu khẩn Ðức
Giê-hô-va, để trừ ếch nhái
lìa khỏi bệ hạ và cung điện, chỉ còn
dưới sông mà thôi.
10. Vua đáp rằng: Ðến ngày mai.
Môi-se rằng: Sẽ làm y theo lời, hầu cho bệ hạ biết
rằng chẳng có ai giống như Giê-hô-va
là Ðức Chúa Trời chúng
tôi.
11. Vậy, ếch nhái sẽ lìa xa bệ hạ, cung điện,
tôi tớ, cùng dân sự của bệ hạ; chỉ
còn lại dưới sông mà thôi.
12. Môi-se và A-rôn bèn lui
ra khỏi Pha-ra-ôn; Môi-se kêu cầu
Ðức Giê-hô-va về việc ếch nhái
mà Ngài đã khiến đến cho
Pha-ra-ôn.
13. Ðức Giê-hô-va làm y theo lời
Môi-se; ếch nhái trong nhà, trong
làng, ngoài đồng đều chết hết.
14. Người ta dồn ếch nhái lại từ đống, và cả xứ
hôi thúi lắm.
15. Nhưng Pha-ra-ôn thấy được khỏi nạn, bèn rắn
lòng, chẳng nghe Môi-se và
A-rôn chút nào, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán.
16. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho
A-rôn rằng: Hãy giơ gậy anh ra, đập bụi
trên đất: bụi sẽ hóa muỗi khắp cả xứ
Ê-díp-tô.
17. Hai người làm y như vậy. A-rôn cầm gậy giơ tay
ra, đập bụi trên đất, bụi liền hóa
thành muỗi, bu người và súc vật; hết
thảy bụi đều hóa thành muỗi trong xứ
Ê-díp-tô.
18. Các thuật sĩ cũng muốn cậy phù chú
mình làm như vậy, để hóa sanh muỗi,
nhưng làm chẳng đặng. Vậy, muỗi bu người và
súc vật.
19. Các thuật sĩ bèn tâu
cùng Pha-ra-ôn rằng: Ấy là
ngón tay của Ðức Chúa Trời; nhưng
Pha-ra-ôn cứng lòng, chẳng nghe Môi-se
và A-rôn chút nào, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán.
20. Kế đó, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng: Nầy
Pha-ra-ôn sẽ ngự ra mé sông, ngươi
hãy dậy sớm, đi ra mắt người, mà tâu
rằng: Ðức Giê-hô-va có
phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi, để
chúng nó hầu việc ta.
21. Vì nếu ngươi không cho đi, nầy, ta sẽ sai ruồi
mòng bu nơi ngươi, quần thần, dân sự và
cung điện ngươi; nhà của người
Ê-díp-tô đều sẽ bị ruồi mòng
bu đầy, và khắp trên đất nữa.
22. Nhưng ngày đó, ta sẽ phân biệt xứ
Gô-sen ra, là nơi dân ta ở,
không có ruồi mòng, hầu cho ngươi biết
rằng ta, Giê-hô-va, có ở giữa xứ.
23. Ta sẽ phân biệt dân ta cùng
dân ngươi. Ðến mai, dấu lạ nầy tất sẽ có.
24. Ðức Giê-hô-va bèn
làm y như lời. Vậy, trong cung điện Pha-ra-ôn,
nhà cửa của quần thần người cùng cả xứ
Ê-díp-tô đều có ruồi
mòng vô số, đất bị ruồi mòng hủy hoại.
25. Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se
và A-rôn mà phán rằng:
Hãy đi dâng tế lễ cho Ðức Chúa
Trời các ngươi trong xứ.
26. Nhưng Môi-se tâu rằng: Làm như vậy
chẳng tiện, vì các của lễ mà
chúng tôi sẽ tế Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời chúng tôi,
là một điều gớm ghê cho người
Ê-díp-tô. Nếu chúng
tôi dâng của lễ gớm ghê trước mắt người
Ê-díp-tô, họ há chẳng liệng
đá chúng tôi sao?
27. Chúng tôi sẽ đi trong đồng vắng, chừng ba
ngày đường, dâng tế lễ cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng tôi, y như lời Ngài sẽ chỉ bảo.
28. Pha-ra-ôn bèn phán rằng: Ta sẽ tha
các ngươi đi dâng tế lễ cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi, ở nơi đồng vắng, nhưng đừng đi xa hơn.
Hãy cầu nguyện cho ta với!
29. Môi-se tâu rằng: Nầy, tôi sẽ lui ra
khỏi bệ hạ, cầu nguyện Ðức Giê-hô-va cho;
ngày mai ruồi mòng sẽ lìa xa
Pha-ra-ôn, quần thần, và dân sự người.
Nhưng xin Pha-ra-ôn chớ cứ gạt chúng tôi
mà không tha dân sự đi dâng tế
lễ cho Ðức Giê-hô-va.
30. Môi-se bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn,
và cầu nguyện Ðức Giê-hô-va;
31. Ngài làm y như lời Môi-se, ruồi
mòng lìa xa Pha-ra-ôn, quần thần,
và dân sự người, không còn
lại một con nào.
32. Nhưng lần nầy, Pha-ra-ôn lại cứng lòng nữa,
không cho dân sự đi.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 9
Home
1. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
đi ra mắt Pha-ra-ôn mà tâu rằng:
Giê-hô-va, là Ðức
Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ,
có phán như vầy: Hãy tha dân
ta đi, đặng chúng nó hầu việc ta;
2. vì nếu ngươi từ chối không tha đi,
còn cầm lại nữa,
3. nầy tay của Ðức Giê-hô-va sẽ tra
vào các súc vật của người
ngoài đồng, vào ngựa, lừa, lạc đà,
bò và chiên: sẽ có dịch lệ
rất lớn.
4. Ðức Giê-hô-va sẽ phân biệt
súc vật của dân Y-sơ-ra-ên
cùng súc vật của người
Ê-díp-tô, sẽ chẳng có một con
nào của dân Y-sơ-ra-ên bị chết.
5. Ðức Giê-hô-va định kỳ mà
rằng: Ðến mai, Ðức Giê-hô-va sẽ
làm sự đó tại trong xứ.
6. Vừa đến mai, Ðức Giê-hô-va
làm sự đó, hết thảy súc vật của người
Ê-díp-tô đều chết; nhưng của
dân Y-sơ-ra-ên chẳng chết một con nào.
7. Pha-ra-ôn sai người đi xét, thấy chẳng
có một con súc vật nào của
dân Y-sơ-ra-ên chết hết. Nhưng Pha-ra-ôn
rắn lòng, chẳng cho dân sự đi.
8. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se và
A-rôn rằng: Hãy hốt trong trong lò đầy
tay các ngươi, rồi tại trước mặt Pha-ra-ôn,
Môi-se sẽ vải tro đó lên trời.
9. Tro sẽ hóa thành bụi khắp cả xứ
Ê-díp-tô, và sanh nhiều ghẻ
chốc cương mủ trên mình người và
súc vật trong khắp cả xứ
Ê-díp-tô.
10. Vậy, hai người hốt tro trong lò, đứng trước mặt
Pha-ra-ôn, rồi Môi-se vải tro lên trời,
thì sanh ra ghẻ chốc cương mủ trên mình
người ta và súc vật.
11. Các thuật sĩ đứng trước mặt Môi-se
không được, vì cớ ghẻ chốc đã sanh
trên mình các thuật sĩ như
trên mình của hết thảy người
Ê-díp-tô.
12. Ðức Giê-hô-va làm cho
Pha-ra-ôn cứng lòng, không nghe
Môi-se và A-rôn chút
nào, y như lời Ðức Giê-hô-va
đã phán cùng Môi-se.
13. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng: Ngươi
hãy thức dậy sớm, ra mắt Pha-ra-ôn mà
tâu rằng: Giê-hô-va, là
Ðức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ,
có phán như vầy: Hãy tha dân
ta đi, để chúng nó hầu việc ta;
14. vì lần nầy ta sẽ giáng các tai nạn
cho lòng ngươi, quần thần, và dân sự
ngươi, hầu cho ngươi biết rằng khắp thế gian chẳng có ai
bằng ta.
15. Nếu bây giờ, ta đã giơ tay ra hành
hại ngươi bịnh dịch, thì ngươi cùng dân
ngươi đều đã bị diệt khỏi đất rồi.
16. Nhưng vì cớ nầy ta để ngươi còn sống,
là cho ngươi thấy quyền năng của ta, hầu cho danh ta đồn
khắp cả thiên hạ.
17. Nếu ngươi còn cản trở, không để cho
dân ta đi,
18. thì mai, tại giờ nầy, ta sẽ làm một
đám mưa đá lớn, đến đỗi tại xứ
Ê-díp-tô từ khi khai sáng cho
đến ngày nay chẳng có đám mưa
nào giống như vậy.
19. Thế thì, bây giờ hãy sai đem lục
súc và mọi vật thuộc về ngươi ở ngoài
đồng vào, cho khỏi hiểm nghèo. Mưa đá
sẽ rớt xuống trên mọi người và vật đang ở
ngoài đồng không vào nhà,
thì sẽ chết hết.
20. Những kẻ nào trong quần thần Pha-ra-ôn
có lòng kính sợ lời Ðức
Giê-hô-va, lật đật rút đầy tớ
và súc vật mình về nhà;
21. còn kẻ nào chẳng chú ý
về lời Ðức Giê-hô-va, thì để đầy
tớ và súc vật mình ở ngoài
đồng.
22. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
giơ tay ngươi lên trời, làm mưa đá rớt
xuống trên cả xứ Ê-díp-tô,
trên mình người, súc vật, và
khắp rau cỏ ngoài đồng.
23. Môi-se bèn giơ gậy mình
lên trời, Ðức Giê-hô-va
làm cho sấm động, mưa đá sa, lửa chạy
trên mặt đất. Vậy, Ðức Giê-hô-va
khiến mưa đá sa trên xứ
Ê-díp-tô.
24. Vả, có mưa đá sa xuống và lửa
cháy rất mạnh pha lộn với, đến nỗi từ khi xứ
Ê-díp-tô lập quốc đến giờ, chẳng
có giống như vậy.
25. Thế thì, trong cả xứ
Ê-díp-tô, mưa đá
làm hại mọi vật ở ngoài đồng, nào
người ta, nào súc vật, nào rau-cỏ,
và làm gãy cây cối nữa.
26. Chỉ đất Gô-sen, là nơi dân
Y-sơ-ra-ên ở, chẳng có mưa đá
mà thôi.
27. Pha-ra-ôn bèn truyền đòi
Môi-se và A-rôn mà
phán rằng: Lần nầy trẫm đã phạm tội; Ðức
Giê-hô-va là công
bình; trẫm cùng dân sự trẫm
là kẻ phạm tội.
28. Hãy cầu nguyện Ðức
Giê-hô-va, hầu cho tan sấm sét
và mưa đá; rồi trẫm sẽ tha các ngươi
đi, không đợi lâu nữa đâu.
29. Môi-se bèn đáp rằng: Vừa khi
tôi ra khỏi thành, tôi sẽ giơ tay
lên Ðức Giê-hô-va, sấm
sét sẽ lặng, mưa đá sẽ tan, hầu cho bệ hạ biết
rằng trái đất thuộc về Ðức
Giê-hô-va.
30. Nhưng tôi biết rằng bệ hạ và quần thần chưa
kính sợ Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời.
31. Vả, trong lúc đó, lúa mạch trổ
bông, cây gai có hoa, nên
lúa mạch và gai bị đập nát;
32. còn lúa mì và tiểu mạch
trổ muộn, nên không bị đập.
33. Vậy, Môi-se lui khỏi Pha-ra-ôn, đi ra
thành, giơ tay lên Ðức
Giê-hô-va, sấm sét và mưa
đá tạnh, mưa bèn ngớt hột trên mặt đất.
34. Khi Pha-ra-ôn thấy mưa, mưa đá và
sấm sét đã tạnh rồi, người và quần
thần lại rắn lòng, cứ phạm tội nữa.
35. Vậy Pha-ra-ôn cứng lòng, không tha
dân Y-sơ-ra-ên đi, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã cậy Môi-se
mà phán.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 10
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy đi đến
Pha-ra-ôn, vì ta đã làm rắn
lòng người và lòng quần thần, để
làm cho các dấu lạ của ta tỏ ra giữa họ,
2. hầu cho ngươi thuật cùng con và
cháu mình những công việc to
tát ta đã làm trên
dân Ê-díp-tô, các
dấu lạ ta đã làm giữa vòng họ, đặng
các ngươi biết rằng ta là Ðức
Giê-hô-va.
3. Môi-se và A-rôn bèn đi đến
Pha-ra-ôn mà tâu rằng:
Giê-hô-va là Ðức Chúa
Trời dân Hê-bơ-rơ, có phán
như vầy: Ngươi không chịu hạ mình trước mặt ta cho
đến chừng nào? Hãy tha dân ta đi, để
chúng nó hầu việc ta.
4. Nếu từ chối, không cho dân ta đi, nầy,
ngày mai ta sẽ sai cào cào đến địa
phận ngươi;
5. nó sẽ phủ rợp trên mặt đất, người ta chẳng
còn thấy đất nữa; nó sẽ cắn xả những vật chi
còn lại, tức vật nào trận mưa đá
còn chừa lại; nó cũng cắn xả những cây
mọc ngoài đồng ruộng các ngươi,
6. vào đầy cung điện ngươi, dinh thất của quần thần ngươi,
và nhà cửa của người
Ê-díp-tô: ấy là một điều tổ
phụ ngươi, đến nỗi thỉ tổ ngươi, cũng chẳng bao giờ thấy từ khi họ
đã có trên mặt đất cho đến
ngày nay. Ðoạn, Môi-se xây mặt
lui ra khỏi Pha-ra-ôn.
7. Quần thần Pha-ra-ôn tâu rằng: Ðến chừng
nào người nầy mới thôi gài bẫy ta?
Hãy tha dân ấy đi, để chúng
nó hầu việc Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời chúng nó! Bệ hạ chưa biết
rằng nước Ê-díp-tô đã bị nguy
vong sao?
8. Họ bèn truyền đòi Môi-se
và A-rôn trở lại cùng
Pha-ra-ôn; người nói rằng: Hãy đi hầu
việc Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi. Hết thảy những ai là người phải đi?
9. Môi-se tâu rằng: Chúng tôi
đi, sẽ đem nam phụ lão ấu và chiên
bò theo, vì về phần chúng
tôi, ấy là một lễ của Ðức
Giê-hô-va.
10. Pha-ra-ôn nói rằng: Cầu xin Ðức
Giê-hô-va ở cùng các ngươi!
Hồ dễ ta cho các ngươi cùng con cái
đều đi sao! Không! quả thật không cho
đâu, vì các ngươi có mưu
ác!
11. Không được vậy đâu, chỉ các ngươi,
là đàn ông, phải đi hầu việc
Ðức Giê-hô-va, vì là
điều các ngươi đã xin. Ðoạn, họ
bèn đuổi Môi-se và A-rôn khỏi
trước mặt Pha-ra-ôn.
12. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
giơ tay ngươi ra trên xứ
Ê-díp-tô, đặng khiến cào
cào tràn lên xứ đó, cắn xả
rau cỏ và mọi vật chi trên đất mưa đá
còn chừa lại.
13. Vậy, Môi-se bèn giơ gậy mình ra
trên xứ Ê-díp-tô,
thì Ðức Giê-hô-va dẫn ngọn
gió đông thổi trên xứ sòng
ngày và đêm đó; qua
sáng mai gió đông đã dẫn
cào cào đến.
14. Cào cào tràn lên khắp cả
xứ Ê-díp-tô, và sa xuống
trong địa hạt xứ ấy nhiều vô số. Trước kia chẳng bao giờ
có bằng số đó, sau nầy cũng chẳng hề sẽ
có bằng như vậy.
15. Cào cào bao phủ khắp mặt đất của cả xứ,
và xứ thành ra tối tăm, cắn xả các rau
cỏ ngoài đồng cùng trái cây
mà mưa đá còn chừa lại; trong khắp xứ
Ê-díp-tô chẳng còn
chút xanh tươi chi cho cây cối hay là
cho cỏ rau ở ngoài đồng ruộng nữa.
16. Pha-ra-ôn vội đòi Môi-se
và A-rôn đến mà phán rằng:
Trẫm đã phạm tội cùng
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi, và cùng các
ngươi nữa.
17. Nhưng bây giờ, xin xá tội cho trẫm lần nầy;
và hãy cầu giùm
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi, hầu cho ít nữa Ngài khiến
xa trẫm cái vạ chết nầy.
18. Môi-se bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn,
và khẩn nguyện Ðức Giê-hô-va.
19. Ðức Giê-hô-va dẫn ngọn gió
tây đến rất mạnh, đem cào cào đi đuổi
xuống Biển đỏ; khắp địa hạt Ê-díp-tô
chẳng còn một con cào cào
nào.
20. Nhưng Ðức Giê-hô-va làm cho
Pha-ra-ôn cứng lòng: người chẳng tha dân
Y-sơ-ra-ên đi.
21. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
giơ tay ngươi lên trời, hầu cho trên xứ
Ê-díp-tô có sự tối tăm
dày đến nỗi người ta rờ đụng đến được.
22. Vậy, Môi-se giơ tay mình lên trời,
bèn có sự tối tăm rất dày trong ba
ngày tại xứ Ê-díp-tô;
23. trong ba ngày đó người ta không
thấy nhau được, không ai nhớm khỏi chỗ mình được.
Nhưng trong chốn dân Y-sơ-ra-ên ở thì
có ánh sáng cho họ.
24. Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se
mà phán rằng: Hãy đi hầu việc
Ðức Giê-hô-va; con trẻ các ngươi
đi theo nữa; chỉ bầy chiên và bò ở lại
thôi.
25. Nhưng Môi-se tâu rằng: Chính bệ hạ
hãy cấp cho chúng tôi các
con sinh và vật chi dùng làm của lễ
thiêu để dâng cho Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời chúng tôi.
26. Các bầy lục súc sẽ theo chúng
tôi nữa, không còn để lại một
móng chân nào; vì
chúng tôi sẽ dùng mấy con
thú đó mà hầu việc
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng tôi. Chúng tôi biết vật
chi dùng để thờ phượng Ðức
Giê-hô-va, chỉ khi nào sẽ đến nơi
đó.
27. Nhưng Ðức Giê-hô-va làm cho
Pha-ra-ôn cứng lòng, nên người
không khứng cho dân Y-sơ-ra-ên đi.
28. Pha-ra-ôn nói rằng: Hãy lui ra khỏi
ta cho rảnh! Khá giữ mình đừng thấy mặt ta nữa,
vì ngày nào ngươi thấy mặt ta
thì sẽ chết!
29. Môi-se bèn nói rằng: Bệ hạ
nói phải lắm; tôi chẳng hề thấy mặt bệ hạ nữa
đâu.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 11
Home
1. Vả, Ðức Giê-hô-va có
phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ
giáng cho Pha-ra-ôn và xứ
Ê-díp-tô một tai vạ nữa; đoạn, người sẽ
tha các ngươi đi khỏi đây. Khi người định tha đi,
thì sẽ đuổi các ngươi ra khỏi đây.
2. Vậy, hãy nói cùng dân sự
và dặn rằng mỗi người bất luận nam hay nữ phải xin kẻ
lân cận mình những đồ bằng bạc và bằng
vàng.
3. Ðức Giê-hô-va làm cho
dân sự được ơn trước mặt người
Ê-díp-tô; Môi-se cũng
là một người rất tôn trọng trong xứ
Ê-díp-tô, trước mắt quần thần của
Pha-ra-ôn và trước mắt dân ấy.
4. Môi-se nói: Ðức
Giê-hô-va có phán như vầy:
Chừng giữa đêm ta sẽ ra tuần hành xứ
Ê-díp-tô.
5. Hết thảy con trưởng nam trong xứ
Ê-díp-tô sẽ chết, từ thái tử
của Pha-ra-ôn ngồi trên ngai mình, cho
đến con cả của người đòi ở sau cối, và
luôn mọi con đầu lòng của súc vật nữa.
6. Trong cả xứ Ê-díp-tô sẽ có
tiếng kêu la inh ỏi, cho đến đỗi chưa hề có,
và cũng sẽ chẳng bao giờ có giống như vậy nữa.
7. Nhưng, trong cả dân Y-sơ-ra-ên dầu đến một con
chó cũng sẽ chẳng sủa hoặc người, hoặc vật; hầu cho
các ngươi biết rằng Ðức
Giê-hô-va phân biệt dân
Y-sơ-ra-ên cùng người
Ê-díp-tô là dường
nào.
8. Nầy, quần thần của bệ hạ sẽ xuống cùng tôi, sấp
mình trước mặt tôi mà rằng: Ngươi
và cả dân sự theo ngươi hãy đi đi!
Ðoạn, tôi sẽ đi ra. Môi-se bèn
lui ra khỏi Pha-ra-ôn lấy làm giận lắm.
9. Vả, Ðức Giê-hô-va có
phán cùng Môi-se rằng:
Pha-ra-ôn chẳng khứng nghe ngươi đâu, hầu cho
các dấu lạ ta thêm lên trong xứ
Ê-díp-tô.
10. Môi-se và A-rôn bèn
làm các dấu lạ trước mặt Pha-ra-ôn;
nhưng Ðức Giê-hô-va làm cho
Pha-ra-ôn cứng lòng, nên người chẳng tha
dân Y-sơ-ra-ên đi khỏi xứ mình.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 12
Home
1. Tại xứ Ê-díp-tô, Ðức
Giê-hô-va phán cùng
Môi-se rằng:
2. Tháng nầy định làm tháng đầu cho
các ngươi, tức là tháng
giêng trong quanh năm.
3. Hãy nói cho toàn hội
chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Ðến ngày
mồng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng tùy theo
nhà mình phải bắt một con chiên con.
4. Nếu nhà ít người quá ăn
không hết một chiên con, hãy chung
cùng người rất lân cận mình,
tùy theo số người; và hãy
tính cho mỗi chiên con tùy sức người ăn
hết.
5. Các ngươi hãy bắt hoặc trong bầy
chiên, hoặc trong bầy dê, chiên con đực
hay là dê con đực, tuổi giáp
niên, chẳng tì vít chi,
6. đoạn để dành cho đến ngày mười bốn
tháng nầy; rồi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên
sẽ giết nó, vào lối chiều tối.
7. Họ sẽ lấy huyết đem bôi trên hai cây
cột và mày cửa của nhà nào
ăn thịt chiên con đó.
8. Ðêm ấy họ sẽ ăn thịt chiên quay với
bánh không men và rau đắng.
9. Chớ ăn thịt nửa chín nửa sống hay là luộc
trong nước, nhưng phải quay trên lửa cả và đầu,
giò, với bộ lòng.
10. Các ngươi chớ để chi còn lại đến
sáng mai; nếu còn lại, hãy
thiêu đi.
11. Vậy, ăn thịt đó, phải như vầy: Dây lưng cột,
chân mang giày, tay cầm gậy, ăn hối hả; ấy
là lễ Vượt-qua của Ðức Giê-hô-va.
12. Ðêm đó ta sẽ đi qua xứ
Ê-díp-tô, hành hại mọi con
đầu lòng xứ Ê-díp-tô, từ
người ta cho đến súc vật; ta sẽ xét
đoán các thần của xứ
Ê-díp-tô; ta là Ðức
Giê-hô-va.
13. Huyết bôi trên nhà các
ngươi ở, sẽ dùng làm dấu hiệu; khi ta
hành hại xứ Ê-díp-tô, thấy
huyết đó, thì sẽ vượt qua, chẳng có
tai nạn hủy diệt các ngươi.
14. Các ngươi hãy ghi ngày
đó làm kỷ niệm; trải các đời
hãy giữ làm một lễ cho Ðức
Giê-hô-va, tức là một lễ lập ra đời đời.
15. Trong bảy ngày phải ăn bánh không
men: vừa đến ngày thứ nhất, hãy dẹp men khỏi
nhà đi; vì hễ ai ăn bánh có
men từ ngày thứ nhất cho đến ngày thứ bảy,
thì sẽ bị truất ra khỏi Y-sơ-ra-ên.
16. Ngày thứ nhất, sẽ có một sự nhóm
hiệp thánh; qua ngày thứ bảy các ngươi
cũng sẽ có một sự nhóm hiệp thánh nữa.
Trong mấy ngày đó chẳng nên
làm công việc chi, chỉ lo sắm đồ ăn cho mỗi người
cần ăn mà thôi.
17. Vậy, các ngươi hãy giữ lễ bánh
không men, vì chánh ngày
đó ta rút quân đội các ngươi
ra khỏi xứ Ê-díp-tô; nên chi,
trải các đời phải giữ ngày đó như một
lễ lập ra đời đời.
18. Ngày mười bốn tháng giêng, chiều
lại, các ngươi sẽ ăn bánh không men cho
đến chiều ngày hai mươi mốt tháng đó.
19. Trong bảy ngày không nên
còn thấy men tại nhà các ngươi;
vì bất luận người ngoại bang hay là người bổn xứ,
hễ ai ăn bánh có men sẽ bị truất khỏi hội
chúng Y-sơ-ra-ên.
20. Chớ nên ăn bánh có men; khắp nơi
các ngươi ở đều phải ăn bánh không men.
21. Vậy, Môi-se nhóm lại các trưởng
lão Y-sơ-ra-ên mà nói rằng:
Hãy đi bắt một con trong bầy cho mọi nhà
các ngươi, và giết nó làm
lễ Vượt-qua.
22. Rồi hãy lấy một chùm kinh giới
nhúng vào huyết trong chậu, bôi
lên mây và hai cây cột cửa,
đoạn, trong các ngươi chớ ai ra khỏi cửa nhà
mình cho đến sáng mai.
23. Ðức Giê-hô-va sẽ đi qua đặng
hành hại xứ Ê-díp-tô; khi
thấy huyết nơi mày và hai cây cột cửa,
Ngài sẽ vượt qua, không cho kẻ tiêu diệt
vào nhà các ngươi đặng hành
hại.
24. Hãy giữ lễ nầy như một lệ lập ra đời đời cho
các ngươi và con cháu các
ngươi.
25. Khi nào các ngươi vào xứ
mà Ðức Giê-hô-va sẽ ban cho, như
lời Ngài đã phán, thì
hãy giữ lễ nầy.
26. Khi con cháu các ngươi hỏi rằng: Lễ nầy
là nghĩa chi?
27. Hãy đáp rằng: Ấy là của tế lễ
Vượt-qua của Ðức Giê-hô-va, vì
khi Ngài hành hại xứ
Ê-díp-tô thì Ngài
đi vượt qua các nhà dân
Y-sơ-ra-ên, và cứu nhà chúng
ta đó.
28. Dân Y-sơ-ra-ên bèn cúi
đầu lạy, rồi đi, làm theo như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se và A-rôn.
29. Vả, khi giữa đêm, Ðức
Giê-hô-va hành hại mọi con đầu
lòng tại xứ Ê-díp-tô, từ
thái tử của Pha-ra-ôn ngồi trên ngai
mình, cho đến con cả người bị tù, và
hết thảy con đầu lòng của súc vật.
30. Ðang lúc ban đêm, Pha-ra-ôn,
quần thần cùng hết thảy người
Ê-díp-tô đều chờ dậy; có
tiếng kêu la inh ỏi trong xứ
Ê-díp-tô, vì chẳng một
nhà nào là không
có người chết.
31. Trong đêm đó, Pha-ra-ôn
bèn đòi Môi-se và
A-rôn mà phán rằng: Hai ngươi
và dân Y-sơ-ra-ên hãy chờ
dậy, ra khỏi giữa vòng dân ta mà đi hầu
việc Ðức Giê-hô-va, như các
ngươi đã nói.
32. Cũng hãy dẫn bò và chiên
đi, như lời các ngươi đã nói,
và cầu phước cho ta nữa.
33. Người Ê-díp-tô thúc giục
dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mau mau, vì
nói rằng: Chúng ta đều chết hết!
34. Vậy, dân sự đều đem bột nhồi rồi chưa men đi,
và bọc những thùng nhồi bột trong áo
tơi vác lên vai mình.
35. Vả, dân Y-sơ-ra-ên có làm
y theo lời Môi-se đã dặn, xin người
Ê-díp-tô những đồ bằng bạc và
bằng vàng cùng áo xống.
36. Ðức Giê-hô-va làm cho
dân sự được ơn trước mắt người
Ê-díp-tô, nên họ bằng
lòng cho; và dân Y-sơ-ra-ên
lột trần người Ê-díp-tô vậy.
37. Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến Su-cốt, số
không kể con nít, được chừng sáu mươi
vạn người đàn ông đi bộ.
38. Lại có vô số người ngoại bang đi lên
chung luôn với chiên, bò, súc
vật rất nhiều.
39. Chúng bèn hấp bánh không
men bằng bột của mình đã đem theo từ xứ
Ê-díp-tô; bột không men,
vì cớ bị đuổi khỏi xứ
Ê-díp-tô không thế chậm trễ,
và cũng chẳng sắm kịp lương thực chi được.
40. Vả, thì kiều ngụ của dân Y-sơ-ra-ên
tại xứ Ê-díp-tô được bốn trăm ba mươi
năm.
41. Khi mãn bốn trăm ba mươi năm rồi, thì, cũng
trong ngày đó, các quân đội
của Ðức Giê-hô-va ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
42. Ấy là một đêm người ta phải giữ cho
Ðức Giê-hô-va, vì
Ngài rút dân Y-sơ-ra-ên khỏi
xứ Ê-díp-tô. Trải các đời, cả
dân Y-sơ-ra-ên phải giữ đêm
đó, để tôn trọng Ðức
Giê-hô-va.
43. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
Ðây là luật lệ về lễ Vượt-qua:
Phàm người ngoại bang chẳng được ăn lễ đó.
44. Còn về phần kẻ tôi mọi, là người bỏ
tiền ra mua, ngươi hãy làm phép cắt
bì cho, thì họ mới được ăn.
45. Khách ngoại bang và kẻ làm
thuê cũng chẳng được phép ăn lễ đâu.
46. Lễ đó chỉ ăn nội trong nhà; ngươi đừng đem
thịt ra ngoài, và cũng đừng làm
gãy một cái xương nào.
47. Hết thảy hội chúng Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ
Vượt-qua.
48. Khi một khách ngoại bang nào kiều ngụ
nhà ngươi, muốn giữ lễ Vượt-qua của Ðức
Giê-hô-va, thì mọi người nam của họ phải
chịu phép cắt bì; đoạn, họ mới được đến gần giữ
lễ nầy, và được coi như người sanh trong xứ. Nhưng ai
không chịu phép cắt bì, thì
chẳng được ăn đâu.
49. Cũng đồng một luật cho người sanh trong xứ cùng
khách ngoại bang nào đến kiều ngụ giữa
các ngươi.
50. Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều
làm như lời Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se và
A-rôn.
51. Cũng trong ngày đó, Ðức
Giê-hô-va rút dân
Y-sơ-ra-ên, tùy theo quân đội, ra khỏi
xứ Ê-díp-tô.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 13
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên bất luận
người hay vật, hãy vì ta biệt riêng ra
thánh mọi con đầu lòng; bởi con đầu
lòng thuộc về ta.
3. Môi-se nói cùng dân sự
rằng: Hãy kỷ niệm ngày nầy, vì
là ngày Ðức Giê-hô-va
dùng tay quyền năng rút các ngươi ra
khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi
nhà nô lệ; nên chớ ai ăn bánh
có men.
4. Ngày nay, nhằm tháng lúa trỗ,
các ngươi ra đi.
5. Vậy khi nào Ðức Giê-hô-va đưa
ngươi vào bờ cõi xứ dân Ca-na-an,
dân Hê-tít, dân
A-mô-rít, dân
Hê-vít, và dân
Giê-bu-sít rồi, là một xứ đượm sữa
và mật, và là xứ Ngài
đã thề cùng tổ phụ sẽ ban cho ngươi,
thì đến trong tháng nầy hãy giữ lễ
thánh đó.
6. Trong bảy ngày hãy ăn bánh
không men; đến ngày thứ bảy sẽ có lễ
kính Ðức Giê-hô-va.
7. Phải ăn bánh không men trong bảy
ngày; khắp cả địa hạt ngươi sẽ không thấy
bánh có men, hoặc men tại nơi ngươi nữa.
8. Trong ngày đó hãy giải nghĩa cho
con trai ngươi rằng: Ấy vì việc Ðức
Giê-hô-va làm cho ta, khi ta ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
9. Ðiều đó sẽ làm một dấu hiệu nơi tay
ngươi, làm một kỷ niệm ghi nơi trán ở giữa cặp
mắt ngươi, hầu cho luật pháp của Ðức
Giê-hô-va ở nơi miệng ngươi, vì
Ðức Giê-hô-va đã dùng
tay quyền năng rút ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
10. Hằng năm, đến kỳ, ngươi phải giữ lễ nầy.
11. Khi Ðức Giê-hô-va đã đưa
ngươi vào bờ cõi xứ Ca-na-an, như Ngài
đã thề cùng ngươi, và tổ phụ ngươi,
khi Ngài đã ban xứ đó cho rồi,
12. thì hãy đem dâng cho Ðức
Giê-hô-va những con trưởng nam cùng cả
con đầu lòng đực của súc vật ngươi, vì
chúng nó đều sẽ thuộc về Ðức
Giê-hô-va.
13. Nhưng mỗi con lừa đầu lòng, ngươi phải bắt
chiên con hay là dê con mà
chuộc; bằng không, ngươi hãy vặn cổ nó.
Ngươi cũng chuộc mọi trưởng nam trong vòng con trai ngươi.
14. Vả, một mai con trai ngươi hỏi rằng: Ðiều đó
có ý nghĩa chi? thì hãy
đáp rằng: Ấy vì cớ Ðức
Giê-hô-va đã dùng tay quyền
năng rút chúng ta ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, tức là
nhà nô lệ;
15. và khi Pha-ra-ôn cứng lòng
không tha chúng ta đi, Ngài
bèn giết hết các con đầu lòng trong xứ
đó, từ con trưởng nam người ta cho đến con đầu
lòng súc vật. Vì cớ đó, ta
dâng tế lễ cho Ðức Giê-hô-va mọi
con đực sanh đầu lòng, và ta chuộc con trưởng nam
trong vòng con trai ta.
16. Ấy sẽ làm một dấu hiệu nơi tay ngươi, và ấn
chí nơi trán giữa cặp mắt ngươi, để nhắc cho nhớ
rằng Ðức Giê-hô-va đã
dùng tay quyền năng rút chúng ta ra
khỏi xứ Ê-díp-tô.
17. Vả, khi Pha-ra-ôn tha dân Y-sơ-ra-ên
đi, Ðức Chúa Trời không dẫn dân
ấy đi theo đường về xứ Phi-li-tin, là đường gần hơn hết,
vì Ngài nói rằng: E khi dân
thấy trận mạc, dời lòng trở về xứ
Ê-díp-tô chăng.
18. Cho nên Ðức Chúa Trời dẫn
chúng đi vòng theo đường trong đồng vắng, về
hướng Biển-dỏ. Dân Y-sơ-ra-ên cầm khí
giới ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
19. Môi-se dời hài cốt
Giô-sép theo mình, vì
Giô-sép có bắt dân
Y-sơ-ra-ên thề quyết rằng: Chắc Ðức Chúa
Trời sẽ viếng các ngươi; hãy dời hài
cốt ta theo các ngươi khỏi đây.
20. Vả, chúng đi khỏi Su-cốt, đóng trại tại
Ê-tam, ở cuối đầu đồng vắng.
21. Ðức Giê-hô-va đi trước dân
sự, ban ngày ở trong một trụ mây, để dẫn đường đi;
ban đêm trong một trụ lửa, để soi sáng cho
chúng, hầu cho được đi luôn ngày
và đêm.
22. Ban ngày trụ mây chẳng bao giờ cách
xa dân sự, trụ lửa ban đêm cũng vậy.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 14
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên trở lại
đóng trại tại trước Phi-Ha-hi-rốt, ngang
Ba-anh-Sê-phôn, giữa khoảng
Mít-đôn và biển. Các ngươi
hãy đóng trại đối diện nơi nầy, gần biển.
3. Chắc Pha-ra-ôn sẽ nói về dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Dân đó lạc đường bị
khốn trong đồng vắng rồi.
4. Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng,
người sẽ đuổi theo dân đó; nhưng ta sẽ
vì Pha-ra-ôn và cả toán binh
người được rạng danh; người Ê-díp-tô sẽ
biết ta là Ðức Giê-hô-va.
Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như
vậy.
5. Vả, họ báo cùng vua
Ê-díp-tô rằng dân
Hê-bơ-rơ đã trốn đi rồi. Lòng
Pha-ra-ôn và quần thần đối cùng
dân đó bèn thay đổi, nói
rằng: Chúng ta đã làm chi vậy, tha
dân Y-sơ-ra-ên đi để khỏi phục dịch ta nữa sao?
6. Pha-ra-ôn bèn thắng xe và đem
dân mình theo.
7. Người đem sáu trăm xe thượng hạng và hết thảy
xe trong xứ Ê-díp-tô, trên mỗi
xe đều có chiến binh cả.
8. Ðức Giê-hô-va làm cho
Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô,
cứng lòng, đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên;
nhưng dân nầy đã ra đi một cách dạn dĩ.
9. Người Ê-díp-tô và cả ngựa
xe, lính kỵ, cùng toán binh của
Pha-ra-ôn đều đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên,
gặp đang đóng đồn nơi bờ biển, gần Phi-ha-hi-rốt, ngang
Ba-anh-Sê-phôn.
10. Vả, khi Pha-ra-ôn đến gần, dân
Y-sơ-ra-ên ngước mắt lên, thấy dân
Ê-díp-tô đuổi theo, bèn lấy
làm hãi hùng, kêu van
Ðức Giê-hô-va.
11. Chúng lại nói cùng
Môi-se rằng: Xứ Ê-díp-tô
há chẳng có nơi mộ phần, nên nỗi người
mới dẫn chúng tôi vào đồng vắng đặng
chết sao? Người đưa chúng tôi ra xứ
Ê-díp-tô để làm chi?
12. Chúng tôi há chẳng có
nói cùng người tại xứ
Ê-díp-tô rằng: Ðể mặc
chúng tôi phục dịch dân
Ê-díp-tô, vì thà
rằng phục dịch họ còn hơn phải chết nơi đồng vắng?
13. Môi-se đáp cùng dân sự
rằng: Chớ sợ chi, hãy ở đó, rồi ngày
nay xem sự giải cứu Ðức Giê-hô-va sẽ
làm cho các ngươi; vì người
Ê-díp-tô mà các
ngươi ngó thấy ngày nay, thì chẳng bao
giờ ngó thấy nữa.
14. Ðức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho,
còn các ngươi cứ yên lặng.
15. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Sao ngươi kêu van ta?
Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cứ đi;
16. còn ngươi hãy giơ gậy lên, đưa tay
trên mặt biển, phân rẽ nước ra, thì
dân Y-sơ-ra-ên sẽ xuống biển đi như trên
đất cạn.
17. Còn ta sẽ làm cho dân
Ê-díp-tô cứng lòng theo
dân Y-sơ-ra-ên xuống biển, rồi ta sẽ được rạng danh
vì Pha-ra-ôn, cả đạo binh, binh xa, và
lính kỵ người.
18. Khi nào ta được rạng danh vì
Pha-ra-ôn, binh xa, cùng lính kỵ người,
thì người Ê-díp-tô sẽ
rõ ràng ta là Ðức
Giê-hô-va vậy.
19. Thiên sứ của Ðức Chúa Trời
đã đi trước trại quân của dân
Y-sơ-ra-ên lộn lại đi sau; còn trụ mây
vốn đi trước trại quân, lại ở về sau;
20. trụ mây đứng về giữa khoảng trại người
Ê-díp-tô và trại
dân Y-sơ-ra-ên, làm áng
mây tối tăm cho đàng nầy, soi sáng ban
đêm cho đàng kia; nên trọn cả
đêm hai trại chẳng hề xáp gần nhau được.
21. Vả, Môi-se giơ tay ra trên biển, Ðức
Giê-hô-va dẫn trận gió đông
thổi mạnh đến đùa biển lại trọn cả đêm;
Ngài làm cho biển bày ra
khô, nước phân rẽ.
22. Dân Y-sơ-ra-ên xuống biển, đi như
trên đất cạn; còn nước làm
thành một tấm vách ngăn bên hữu
và bên tả.
23. Người Ê-díp-tô bèn đuổi
theo; hết thảy ngựa, binh xa cùng lính kỵ của
Pha-ra-ôn đều theo xuống giữa biển.
24. Vả, đến canh sáng, Ðức
Giê-hô-va ở trong lòng trụ mây
và lửa, nhìn ra thấy trại quân
Ê-díp-tô, bèn làm
cho họ phải rối loạn.
25. Ngài tháo bánh xe của họ, khiến
dẫn dắt cực nhọc. Người Ê-díp-tô
bèn nói nhau rằng: Ta hãy trốn khỏi
dân Y-sơ-ra-ên đi, vì Ðức
Giê-hô-va thế dân đó
mà chiến cự cùng chúng ta.
26. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi ra
trên biển, nước sẽ trở lấp người
Ê-díp-tô, binh xa và
lính kỵ của chúng nó.
27. Môi-se bèn giơ tay mình ra
trên biển, lối sáng mai, nước trở lấp phủ
đáy biển lại, người Ê-díp-tô
chạy trốn bị nước chận; vậy Ðức Giê-hô-va
xô họ xuống giữa biển.
28. Thế thì, nước trở lại bao phủ binh xa, lính
kỵ của cả đạo binh Pha-ra-ôn đã theo dân
Y-sơ-ra-ên xuống biển, chẳng còn sót
lại một ai.
29. Song dân Y-sơ-ra-ên đi giữa biển như
trên đất cạn; nước làm thành
vách ngăn bên hữu và bên tả.
30. Trong ngày đó, Ðức
Giê-hô-va giải cứu dân
Y-sơ-ra-ên thoát khỏi tay người
Ê-díp-tô; dân ấy thấy người
Ê-díp-tô chết trên
bãi biển.
31. Dân Y-sơ-ra-ên thấy việc lớn lao mà
Ðức Giê-hô-va đã làm
cho người Ê-díp-tô, nên
kính sợ Ngài, tin Ngài và
Môi-se, là tôi tớ Ngài.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 15
Home
1. Ðoạn, Môi-se và dân
Y-sơ-ra-ên hát bài ca nầy cho
Ðức Giê-hô-va, rằng: Tôi ca tụng
Ðức Giê-hô-va, vì
Ngài rất vinh hiển oai nghiêm. Ngài
đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa.
2. Ðức Giê-hô-va là sức mạnh
và sự ca tụng của tôi: Ngài
đã trở nên Ðấng cứu tôi.
Ngài là Ðức Chúa Trời
tôi, tôi ngợi khen Ngài; Ðức
Chúa Trời của tổ phụ tôi, tôi
tôn kính Ngài.
3. Ðức Giê-hô-va là một chiến
sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va.
4. Ngài đã ném xuống biển binh xa
Pha-ra-ôn và cả đạo binh của người; Quan tướng
kén chọn của người đã bị đắm nơi Biển đỏ,
5. Những lượn sóng đã vùi lấp họ rồi;
Họ chìm đến đáy biển như một hòn
đá vậy.
6. Hỡi Ðức Giê-hô-va! Tay hữu
Ngài có sức mạnh vinh hiển thay. Hỡi Ðức
Giê-hô-va! Tay hữu Ngài hủy
quân nghịch tan đi.
7. Bởi sự cả thể của oai nghiêm Ngài,
Ðánh đổ kẻ dấy nghịch cùng
mình. Ngài nổi giận phừng phừng, Ðốt họ
cháy như rơm ra.
8. Lỗ mũi Ngài thở hơi ra, nước bèn dồn lại, Lượn
sóng đổ dựng như một bờ đê; Vực sâu đọng
lại nơi rún biển.
9. Quân nghịch rằng: Ta đuổi theo, ta sẽ đuổi kịp Ta sẽ chia
phân của giặc; Tâm hồn ta sẽ thỏa nguyện nơi họ; Ta
rút gươm ra, tay ta hủy diệt họ.
10. Ngài đã thở hơi ra Biển vùi lấp
quân nghịch lại; Họ bị chìm như cục chì
Nơi đáy nước sâu.
11. Hỡi Ðức Giê-hô-va! trong
vòng các thần, ai giống như Ngài?
Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như Ngài.
Ðáng sợ, đáng khen Hay làm
các phép lạ?
12. Ngài đã đưa tay hữu ra, Ðất
đã nuốt chúng nó.
13. Ngài lấy lòng thương xót
dìu dắt Dân nầy mà Ngài
đã chuộc lại; Ngài đã dùng
năng lực đưa nó Về nơi ở thánh của
Ngài.
14. Các dân tộc nghe biết việc nầy đều run sợ, Cơn
kinh hãi áp-hãm dân xứ
Pha-lê-tin.
15. Các quan trưởng xứ Ê-đôm
bèn lấy làm bối rối; Mấy mặt anh hùng
nơi Mô-áp đều kinh hồn; Cả dân Ca-na-an
đều mất vía
16. Sự hoảng hốt kinh hãi giáng cho
chúng nó; Hỡi Ðức
Giê-hô-va! vì quyền cao nơi
cánh tay Ngài, Chúng nó đều
bị câm như đá, Cho đến chừng nào
dân Ngài vượt qua; Cho đến khi dân
mà Ngài đã chuộc, vượt qua rồi.
17. Hỡi Ðức Giê-hô-va! Ngài đưa
dân ấy vào, và lập nơi núi
cơ nghiệp Ngài, Tức là chốn Ngài
đã sắm sẵn, để làm nơi ở của Ngài, Hỡi
Chúa! là đền thánh mà tay
Ngài đã lập.
18. Ðức Giê-hô-va sẽ cai trị đời đời kiếp
kiếp.
19. Vì ngựa của Pha-ra-ôn, binh xa,
cùng lính kỵ người đã xuống biển;
Và Ðức Giê-hô-va đã
vùi dập nước biển lên trên, Nhưng
dân Y-sơ-ra-ên đi giữa biển như đi trên
đất cạn.
20. Nữ tiên tri Mi-ri-am, là em gái
A-rôn, tay cầm trống cơm, các đàn
bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và
múa.
21. Mi-ri-am đáp lại rằng: Hãy ca tụng
Ðức Giê-hô-va, vì
Ngài rất vinh hiển oai nghiêm; Ngài
đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa.
22. Ðoạn, Môi-se đem dân
Y-sơ-ra-ên đi khỏi Biển đỏ, đến nơi đồng vắng Su-rơ; trọn ba
ngày đi trong đồng vắng, kiếm chẳng được nước đâu
cả.
23. Kế đến đất Ma-ra, nhưng vì nước tại đó đắng,
uống chẳng được, nên chi chỗ nầy gọi là Ma-ra.
24. Dân sự bèn oán trách
Môi-se rằng: Chúng tôi lấy chi uống?
25. Môi-se kêu van Ðức
Giê-hô-va; Ngài bèn chỉ cho
người một cây gỗ, người lấy liệng xuống nước, nước
bèn hóa ra ngọt. Ấy tại đó,
Ðức Giê-hô-va định luật lệ cùng
lập pháp độ cho dân sự, và tại
đó Ngài thử họ.
26. Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi,
làm sự ngay thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe
các điều răn và giữ mọi luật lệ Ngài,
thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong
các bịnh nào mà ta đã
giáng cho xứ Ê-díp-tô;
vì ta là Ðức
Giê-hô-va, Ðấng chữa bịnh cho ngươi.
27. Ðoạn, dân sự đến đất Ê-lim; nơi
đó có mười hai suối nước, và bảy mươi
cây chà là; dân sự
đóng trại tại đó, gần bên suối nước.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 16
Home
1. Nhằm ngày mười lăm tháng hai, sau khi ra khỏi
xứ Ê-díp-tô, cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên ở nơi Ê-lim đi đến đồng vắng Sin, nằm về
giữa khoảng Ê-lim và Si-na-i.
2. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán
trách Môi-se và A-rôn tại nơi
đồng vắng,
3. nói cùng hai người rằng: Ôi!
thà rằng chúng tôi chịu chết về tay
Ðức Giê-hô-va tại xứ
Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi
thịt và ăn bánh chán hê!
Vì hai người dẫn dắt chúng tôi
vào nơi đồng vắng nầy đều bị chết đói.
4. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Nầy, ta sẽ từ
trên trời cao làm mưa bánh xuống cho
các ngươi. Dân sự sẽ đi ra, mỗi ngày
nào thâu bánh đủ cho ngày
nấy, đặng ta thử dân coi có đi theo luật lệ của ta
hay chăng.
5. Qua ngày thứ sáu, dân sự sẽ dự bị
phần đã góp, và sẽ được phần gấp bằng
hai của mình thường thâu hằng ngày.
6. Môi-se và A-rôn bèn
nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Chiều nay các ngươi sẽ nhận biết rằng ấy là
Ðức Giê-hô-va đã rút
các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô,
7. và sáng mai sẽ thấy sự vinh quang của
Ðức Giê-hô-va, vì
Ngài đã nghe lời các ngươi
oán trách Ngài rồi. Vả lại,
chúng ta là ai mà các ngươi
oán trách chúng ta?
8. Môi-se nói: Chiều nầy Ðức
Giê-hô-va sẽ phát thịt cho
các ngươi ăn, rồi sáng mai bánh nhiều
dư dật, vì Ngài đã nghe lời
các ngươi oán trách Ngài
rồi. Thế thì, chúng ta là ai? Những
lời oán trách chẳng phải đổ về chúng
ta đâu, nhưng về Ðức Giê-hô-va
vậy.
9. Môi-se nói cùng A-rôn
rằng: Hãy nói cho cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đến
trước mặt Ðức Giê-hô-va, vì
Ngài đã nghe lời oán trách
của các ngươi rồi.
10. Vả, khi A-rôn nói cùng cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên, thì họ xây
mặt về phía đồng vắng, thấy sự vinh quang của
Ngài hiện ra trong đám mây.
11. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
12. Ta đã nghe lời oán trách của
dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, ngươi hãy
nói cùng chúng nó rằng: Lối
chiều các ngươi sẽ ăn thịt; sáng mai sẽ ăn
bánh no nê, và sẽ biết ta là
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
các ngươi.
13. Vậy, chiều lại, có chim cút bay lên
phủ trên trại quân; đến sáng mai lại
có một lớp sương ở chung quanh trại quân.
14. Lớp sương đó tan đi, trên mặt đồng vắng thấy
có vật chi nhỏ, tròn, như hột sương
đóng trên mặt đất.
15. Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy, bèn hỏi
nhau rằng: Cái chi vậy? Vì chẳng biết vật
đó là gì. Môi-se
bèn nói cùng dân sự rằng: Ấy
là bánh mà Ðức
Giê-hô-va ban cho các ngươi
làm lương thực đó.
16. Nầy là lời Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn: Hãy tùy sức ăn
của mỗi người, và tùy số người trong trại
mà góp cho mỗi tên một ô-me.
17. Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm
như vậy, kẻ thì lượm nhiều, người thì lượm
ít,
18. cứ lường từ mô-me; ai lượm nhiều chẳng được trội, ai lượm
ít cũng chẳng thiếu; mỗi người lượm vừa đủ sức
mình ăn.
19. Môi-se nói cùng dân sự
rằng: Ðừng ai để dư lại cho đến sáng mai.
20. Nhưng dân sự chẳng nghe theo lời Môi-se, một
vài người để dư lại đến sáng mai; thì
sâu hóa ở trong, vật sanh mùi
hôi hám. Môi-se bèn nổi giận
cùng họ.
21. Vậy, hằng buổi sớm mai mỗi người lượm vừa đủ sức mình
ăn; khi mặt trời nắng nóng thì vật đó
tan ra.
22. Ðến ngày thứ sáu, dân sự
lượm lương thực gấp hai; mỗi người hai ô-me. Các
hội trưởng đến thuật lại cho Môi-se rõ.
23. Người đáp rằng: Ấy là lời Ðức
Giê-hô-va đã phán rằng: Mai
là ngày nghỉ, tức ngày
Sa-bát thánh cho Ðức
Giê-hô-va, hãy nướng món chi
các ngươi muốn nướng, hãy nấu món chi
các ngươi muốn nấu; hễ còn dư, hãy để
dành đến sáng mai.
24. Dân sự bèn để dành cho đến
sáng mai, y như lời Môi-se đã truyền;
vật đó chẳng sanh mùi hôi
hám và cũng chẳng hóa sâu
chút nào.
25. Môi-se bèn nói rằng: Bữa nay
hãy ăn đồ đó đi, vì là
ngày Sa-bát của Ðức
Giê-hô-va; hôm nay các ngươi
chẳng tìm thấy vật đó ở trong đồng đâu.
26. Các ngươi lượm trong sáu ngày,
nhưng qua ngày thứ bảy là ngày
Sa-bát, sẽ chẳng có đâu.
27. Ngày thứ bảy, một vài người trong
vòng dân sự ra đặng lượm lấy, nhưng tìm
chẳng thấy chi hết.
28. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Các
ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật
pháp ta cho đến chừng nào?
29. Hãy suy nghĩ rằng Ðức
Giê-hô-va đã cho các ngươi
ngày Sa-bát; vậy nên, đến
ngày thứ sáu Ngài lại cho
các ngươi lương thực đủ hai ngày. Trong
ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ
mình, chớ ai ra khỏi nhà.
30. Thế thì, ngày thứ bảy dân sự đều
nghỉ ngơi.
31. Nhà Y-sơ-ra-ên đặt tên lương thực
nầy là ma-na; nó giống như hột ngò,
sắc trắng, mùi như bánh ngọt pha mật ong.
32. Môi-se nói rằng: Lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn như
vầy: Hãy đổ đầy một ô-me ma-na, đặng lưu truyền
trải các đời, hầu cho thiên hạ thấy thứ
bánh ta đã cho các ngươi ăn nơi đồng
vắng, khi ta rút các ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
33. Môi-se lại nói cùng A-rôn
rằng: Hãy lấy một cái bình đựng đầy
một ô-me ma-na, để trước mặt Ðức
Giê-hô-va, đặng lưu truyền các đời.
34. A-rôn bèn để bình đó
trước sự chứng cớ, hầu cho được lưu truyền y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
35. Dân Y-sơ-ra-ên ăn ma-na trải bốn mươi năm, cho
đến khi vào bờ cõi xứ Ca-na-an, là xứ
có người ta ở.
36. Vả, ô-me là một phần mười của ê-pha.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 17
Home
1. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đi từ đồng vắng Sin, đi
từng trạm, tùy theo lịnh Ðức
Giê-hô-va, đóng trại tại
Rê-phi-đim; ở đó chẳng có nước cho
dân sự uống.
2. Dân sự bèn kiếm cớ cãi lộn
cùng Môi-se mà rằng: Hãy cho
chúng tôi nước uống. Môi-se
đáp rằng: Sao các ngươi kiếm cớ cãi
lộn cùng ta? Sao ướm thử Ðức
Giê-hô-va vậy?
3. Dân sự ở đó không có nước,
bị khát, nên oán trách
Môi-se mà rằng: Sao người khiến chúng
tôi ra xứ Ê-díp-tô, hầu cho
chúng tôi, con và các bầy
súc vật phải chịu chết khát thế nầy?
4. Môi-se bèn kêu cầu Ðức
Giê-hô-va mà rằng: Tôi phải xử
thế nào cùng dân nầy? Thiếu điều họ
ném đá tôi!
5. Ðức Giê-hô-va đáp
cùng Môi-se rằng: Hãy cầm gậy của ngươi
đã đập dưới sông, dẫn theo những trưởng
lão Y-sơ-ra-ên, rồi đi trước mặt dân sự.
6. Nầy ta sẽ đứng đằng trước ngươi, ở trên hòn
đá tại Hô-rếp kia, ngươi hãy đập
hòn đá, thì nước từ đó chảy
ra, dân sự sẽ uống lấy. Môi-se bèn
làm như vậy trước mặt các trưởng lão
Y-sơ-ra-ên.
7. Người đặt tên nơi nầy là Ma-sa và
Mê-ri-ba, vì cớ việc cãi lộn
mà dân Y-sơ-ra-ên kiếm cớ gây
cùng người, và vì họ đã ướm
thử Ðức Giê-hô-va mà
nói rằng: Có Ðức
Giê-hô-va ở giữa chúng ta hay chăng?
8. Vả, khi đó, dân A-ma-léc đến
khêu chiến cùng Y-sơ-ra-ên tại
Rê-phi-đim.
9. Môi-se bèn nói cùng
Giô-suê rằng: Hãy chọn lấy
tráng sĩ cho chúng ta, ra chiến đấu
cùng dân A-ma-léc; ngày mai
ta sẽ đứng nơi đầu nổng, cầm gậy của Ðức Chúa Trời
trong tay.
10. Giô-suê bèn làm y như lời
Môi-se nói, để cự chiến dân
A-ma-léc; còn Môi-se, A-rôn
và Hu-rơ lên trên đầu nổng.
11. Vả, hễ đang khi Môi-se giơ tay lên,
thì dân Y-sơ-ra-ên thắng hơn; nhưng khi
người xụi tay xuống, dân A-ma-léc lại thắng hơn.
12. Tay Môi-se mỏi, A-rôn và Hu-rơ
bèn lấy đá kê cho người ngồi, rồi ở hai
bên đỡ tay người lên; tay người chẳng lay động cho
đến khi mặt trời lặn.
13. Giô-suê lấy lưỡi gươm đánh bại
A-ma-léc và dân sự người.
14. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
chép điều nầy trong sách làm kỷ niệm,
và hãy nói cho
Giô-suê biết rằng ta sẽ bôi sạch kỷ niệm
về A-ma-léc trong thiên hạ.
15. Môi-se lập lên một bàn thờ, đặt
tên là "Giê-hô-va cờ
xí của tôi";
16. và nói rằng: Bởi vì
A-ma-léc có giơ tay lên nghịch
cùng ngôi Ðức
Giê-hô-va, nên Ðức
Giê-hô-va chinh chiến với A-ma-léc từ
đời nầy qua đời kia.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 18
Home
1. Giê-trô, thầy tế lễ xứ Ma-đi-an, ông
gia của Môi-se, hay được mọi điều Ðức Chúa
Trời đã làm cho Môi-se cùng
Y-sơ-ra-ên, là dân sự Ngài,
và nghe Ngài đã dẫn dân ấy
ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
2. Người bèn dẫn Sê-phô-ra, vợ
Môi-se, đã cho trở về nhà cha,
3. cùng hai con trai, một tên là
Ghẹt-sôn, vì Môi-se đã
nói rằng: Tôi kiều ngụ nơi ngoại bang;
4. và một tên là
Ê-li-ê-se, vì người lại có
nói: Ðức Chúa Trời của tổ phụ
tôi đã vùa giúp
và giải cứu tôi khỏi gươm Pha-ra-ôn.
5. Vậy, Giê-trô, ông gia của
Môi-se, đến với hai con trai và vợ
Môi-se, thăm người nơi đồng vắng, chỗ đóng trại
gần bên núi Ðức Chúa Trời.
6. Người bèn sai báo cùng
Môi-se rằng: Ta là Giê-trô,
ông gia của ngươi, ta cùng vợ ngươi và
hai con trai nàng đến thăm ngươi.
7. Môi-se ra đón rước ông gia
mình, mọp xuống và hôn người, hỏi thăm
nhau, rồi vào trại.
8. Môi-se liền thuật cho ông gia mình
biết mọi điều Ðức Giê-hô-va vì
Y-sơ-ra-ên đã làm cho
Pha-ra-ôn và người
Ê-díp-tô, mọi điều khổ nhọc xảy đến cho
mình dọc đường và Ðức
Giê-hô-va đã giải thoát
dân Y-sơ-ra-ên thế nào.
9. Giê-trô lấy làm vui mừng về
các ơn mà Ðức
Giê-hô-va đã làm cho
Y-sơ-ra-ên, giải cứu dân ấy khỏi tay người
Ê-díp-tô.
10. Giê-trô nói rằng:
Ðáng ngợi khen Ðức
Giê-hô-va thay! là Ðấng
đã giải cứu các ngươi ra khỏi tay người
Ê-díp-tô và tay
Pha-ra-ôn, và giải cứu dân sự ra khỏi
quyền của người Ê-díp-tô.
11. Bây giờ ta biết rằng Ðức
Giê-hô-va là lớn hơn hết các
thần, vì khi người Ê-díp-tô
cậy lòng kiêu ngạo dấy lên,
thì Ngài thắng được chúng
nó.
12. Giê-trô, ông gia của
Môi-se, bèn bày một của lễ
thiêu và các lễ vật mà
dâng cho Ðức Chúa Trời; rồi
A-rôn và các trưởng lão
Y-sơ-ra-ên đến ăn bánh cùng
ông gia của Môi-se, trước mặt Ðức
Chúa Trời.
13. Qua ngày sau, Môi-se ra ngồi xét
đoán dân sự; dân sự đứng chực trước mặt
người từ sớm mai đến chiều.
14. Ông gia thấy mọi điều người làm cho
dân sự, bèn hỏi rằng: Con làm chi
cùng dân sự đó? Sao con chỉ ngồi một
mình, còn cả dân sự đứng chực trước mặt
từ sớm mai cho đến chiều như vậy?
15. Môi-se bèn thưa rằng: Ấy vì
dân sự đến cùng tôi đặng hỏi
ý Ðức Chúa Trời.
16. Khi nào họ có việc chi, thì đến
cùng tôi, tôi xét
đoán người nầy cùng người kia, và cho
họ biết những mạng lịnh và luật pháp của
Ðức Chúa Trời.
17. Nhưng ông gia lại nói rằng: Ðiều con
làm đó chẳng tiện.
18. Quả thật, con cùng dân sự ở với con sẽ bị đuối
chẳng sai, vì việc đó nặng nề quá sức
con, một mình gánh chẳng nổi.
19. Bây giờ, hãy nghe cha khuyên con một
lời, cầu xin Ðức Giê-hô-va phù
hộ cho. Về phần con, hãy làm kẻ thay mặt cho
dân sự trước mặt Ðức Chúa Trời,
và đem trình mọi việc cho Ngài hay.
20. Hãy lấy mạng lịnh và luật pháp
Ngài mà dạy họ, chỉ cho biết con đường
nào phải đi, và điều chi phải làm.
21. Nhưng hãy chọn lấy trong vòng dân
sự mấy người tài năng, kính sợ Ðức
Chúa Trời, chân thật, ghét sự tham lợi,
mà lập lên trên dân sự,
làm trưởng cai trị hoặc ngàn người, hoặc trăm
người, hoặc năm mươi người, hoặc mười người,
22. đặng xét đoán dân sự hằng
ngày. Nếu có việc can hệ lớn, họ hãy
giải lên cho con; còn những việc nhỏ mọn,
chính họ hãy xét đoán lấy.
Hãy san bớt gánh cho nhẹ; đặng họ chia
gánh cùng con.
23. Nếu con làm việc nầy, và Ðức
Chúa Trời ban lịnh cho con, con chắc sẽ chịu nổi được,
và cả dân sự nấy sẽ đến chỗ mình
bình yên.
24. Môi-se vâng lời ông gia
mình, làm y như lọi điều người đã dạy.
25. Vậy, Môi-se bèn chọn trong cả
Y-sơ-ra-ên những người tài năng, lập lên
trên dân sự, làm trưởng cai trị, hoặc
ngàn người, hoặc trăm người, hoặc năm mươi người, hoặc mười
người;
26. họ xét đoán dân sự hằng
ngày. Các việc khó họ giãi
lên cho Môi-se; nhưng chính họ
xét lấy các việc nhỏ.
27. Ðoạn, Môi-se để cho ông gia
mình trở về xứ người.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 19
Home
1. Tháng thứ ba, sau khi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, trong ngày
đó dân Y-sơ-ra-ên đến nơi đồng vắng
Si-na-i.
2. Từ Rê-phi-đim ra đi, đến nơi đồng vắng Si-na-i,
đóng trại tại đó, đối diện cùng
núi.
3. Môi-se bèn lên đến Ðức
Chúa Trời, Ðức Giê-hô-va ở
trên núi gọi người mà phán
rằng: Ngươi hãy nói như vầy cho nhà
Gia-cốp, và tỏ điều nầy cho dân
Y-sơ-ra-ên:
4. Các ngươi đã thấy điều ta làm cho
người Ê-díp-tô, ta chở các
ngươi trên cánh chim ưng làm sao,
và dẫn các ngươi đến cùng ta thể
nào.
5. Vậy, bây giờ, nếu các ngươi vâng lời
ta và giữ sự giao ước ta, thì trong
muôn dân, các ngươi sẽ thuộc
riêng về ta, vì cả thế gian đều thuộc về ta.
6. Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ,
cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy
nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại
cùng dân Y-sơ-ra-ên.
7. Môi-se đến đòi các trưởng
lão trong dân sự, thuật cùng họ mọi lời
Ðức Giê-hô-va đã dặn
mình nói lại.
8. Cả dân sự đồng thinh đáp rằng: Chúng
tôi xin làm mọi việc Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn.
Môi-se bèn thuật lại lời của dân sự
cùng Ðức Giê-hô-va.
9. Ngài phán rằng: Nầy, ta sẽ ở trong
đám mây mịt mịt đi đến ngươi; đặng khi
nào ta phán cùng ngươi, thì
dân sự nghe và tin cậy ngươi luôn
luôn. Ðoạn, Môi-se đem lời của
dân sự thưa lại cho Ðức Giê-hô-va.
10. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
đi đến cùng dân sự, khiến dân giữ
mình thánh sạch ngày nay và
ngày mai, cùng phải giặt áo xống
mình.
11. Qua ngày thứ ba, dân khá sẵn
sàng, vì ngày đó
Ðức Giê-hô-va sẽ giáng
lâm trước mắt dân sự tại núi Si-na-i.
12. Vả, ngươi hãy phân định giới hạn cho
dân sự ở chung quanh núi, và dặn rằng:
Khá giữ mình đừng leo lên
núi, hoặc đụng đến chân; hễ kẻ nào đụng
đến thì sẽ bị xử tử.
13. Chớ ai tra tay vào mình người đó,
nhưng người đó phải bị liệng đá hoặc bắn
tên; bất luận vật hay người, cũng chẳng để cho sống
đâu. Khi kèn thổi lên, dân sự
sẽ đến gần núi.
14. Môi-se xuống núi đến cùng
dân sự, khiến họ giữ mình thánh sạch,
và giặt áo xống mình.
15. Người dặn dân sự rằng: Trong ba ngày
hãy sẵn sàng chớ đến gần đàn
bà.
16. Qua sáng ngày thứ ba, có sấm vang
chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở
trên núi, và tiếng kèn thổi
rất vang động; cả dân sự ở trong trại quân đều run
hãi.
17. Môi-se bèn biểu dân ra khỏi trại
quân nghinh tiếp Ðức Chúa Trời;
dân sự dừng lại tại chân núi.
18. Vả, bấy giờ, khắp núi Si-na-i đều ra khói,
vì Ðức Giê-hô-va ở trong lửa
giáng lâm nơi đó; khói ra
khác nào khói của lò lửa
lớn kia, và cả hòn núi đều rung động
cách kịch liệt.
19. Tiếng kèn càng vang động; Môi-se
nói, Ðức Chúa Trời đáp tiếng
lại.
20. Ðức Giê-hô-va
giáng-lâm trên chót
núi Si-na-i, đòi Môi-se lên,
Môi-se bèn lên.
21. Ðức Giê-hô-va phán rằng:
Hãy xuống cấm dân sự đừng xông pha đến
gần Ðức Giê-hô-va mà
nhìn, e nhiều người trong bọn phải chết chăng.
22. Dầu những thầy tế lễ đến gần Ðức
Giê-hô-va cũng phải giữ mình
thánh sạch, kẻo Ngài hại họ chăng.
23. Môi-se thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng: Dân sự chẳng được
lên núi Si-na-i đâu, vì
Ngài có cấm chúng tôi
mà phán rằng: Hãy phân định
giới hạn chung quanh núi, và phân biệt
nơi đó là đất thánh.
24. Ðức Giê-hô-va phán rằng:
Hãy đi xuống, rồi đem A-rôn lên
cùng ngươi, song những thầy tế lễ và
dân sự chớ xông pha đặng lên đến gần
Ðức Giê-hô-va, e Ngài hại họ
chăng.
25. Vậy, Môi-se đi xuống, nói lại cho
dân sự nghe.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 20
Home
1. Bấy giờ, Ðức Chúa Trời phán mọi lời
nầy, rằng:
2. Ta là Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi
xứ Ê-díp-tô, là
nhà nô lệ.
3. Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần
khác.
4. Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ
làm tượng nào giống những vật trên trời
cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất.
5. Ngươi chớ quì lạy trước các hình
tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng
nó; vì ta là
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi,
tức là Ðức Chúa Trời kỵ tà, hễ
ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con
cháu đến ba bốn đời,
6. và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những
kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.
7. Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời ngươi mà làm chơi,
vì Ðức Giê-hô-va chẳng cầm bằng
vô tội kẻ nào lấy danh Ngài
mà làm chơi.
8. Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm
nên ngày thánh.
9. Ngươi hãy làm hết công việc
mình trong sáu ngày;
10. nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ
của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con
gái tôi trai tớ gái, súc vật
của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà
ngươi, đều chớ làm công việc chi hết;
11. vì trong sáu ngày Ðức
Giê-hô-va đã dựng nên trời,
đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua
ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy
nên Ðức Giê-hô-va đã
ban phước cho ngày nghỉ và làm
nên ngày thánh.
12. Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi
được sống lâu trên đất mà
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi
ban cho.
13. Ngươi chớ giết người.
14. Ngươi chớ phạm tội tà dâm.
15. Ngươi chớ trộm cướp.
16. Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận
mình.
17. Ngươi chớ tham nhà kẻ lân cận ngươi, cũng đừng
tham vợ người, hoặc tôi trai tớ gái,
bò, lừa, hay là vật chi thuộc về kẻ lân
cận ngươi.
18. Vả, cả dân sự nghe sấm vang, tiếng kèn thổi,
thấy chớp nhoáng, núi ra khói,
thì run rẩy và đứng cách tận xa.
19. Dân sự bèn nói cùng
Môi-se rằng: Chính mình người
hãy nói cùng chúng
tôi thì chúng tôi sẽ nghe;
nhưng cầu xin Ðức Chúa Trời chớ phán
cùng, e chúng tôi phải chết chăng.
20. Môi-se đáp rằng: Ðừng sợ chi,
vì Ðức Chúa Trời giáng
lâm đặng thử các ngươi, hầu cho sự kính
sợ Ngài ở trước mặt các ngươi, cho các
ngươi không phạm tội.
21. Vậy, dân sự đứng cách tận xa, còn
Môi-se đến gần đám mây đen kịt
có Ðức Chúa Trời ngự ở trong.
22. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy
nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy:
Các ngươi đã thấy ta từ trên trời
phán xuống cùng;
23. vậy, chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng
vàng mà sánh với ta.
24. Ngươi hãy lập cho ta một bàn thờ bằng đất,
trên đó phải dâng của lễ
thiêu, cùng của lễ thù ân của
ngươi, hoặc chiên hay bò. Phàm nơi
nào có ghi nhớ danh ta, ta sẽ đến và
ban phước cho ngươi tại đó.
25. Nếu ngươi lập cho ta một bàn thờ bằng đá, chớ
dùng đá chạm, vì nếu ngươi
dùng đồ để chạm thì sẽ làm
đá đó ra ô uế.
26. Ngươi chớ đi từ bực thang lên bàn thờ ta, hầu
cho sự lõa lồ ngươi không tố lộ.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 21
Home
1. Ðây là luật lệ ngươi phải truyền cho
dân sự:
2. Nếu ngươi mua một người đầy tớ Hê-bơ-rơ, nó sẽ
hầu việc cho sáu năm; nhưng qua năm thứ bảy nó sẽ
được thả ra, không phải thối tiền.
3. Nếu nó vào ở một mình,
thì sẽ ra một mình; nếu có vợ,
thì sẽ ra với vợ.
4. Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sanh được con trai
hay gái, thì nó sẽ ra một
mình, vợ và con thuộc về chủ.
5. Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương
chủ, vợ và con tôi, không muốn ra được
tự do,
6. thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt
Ðức Chúa Trời, biểu lại gần cửa hay là
cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc người
chủ đó trọn đời.
7. Nếu ai bán con gái mình
làm con đòi, con gái đó
không được ra như các đầy tớ kia.
8. Nếu chủ trước đã ưng lấy con đòi
làm hầu, rồi sau lại chẳng muốn, thì chủ phải
biểu chuộc nàng lại, chớ không có
phép gạt, rồi đem bán nàng cho kẻ
ngoại bang.
9. Nhưng nếu chủ định để cho con trai mình, thì
phải xử với nàng theo phép như con gái
mình vậy.
10. Nếu chủ có lấy người khác, thì đối
với người thứ nhất chẳng được phép giảm đồ ăn, đồ mặc,
và tình nghĩa vợ chồng chút
nào.
11. Nếu người chủ không làm theo ba điều nầy,
nàng được phép ra không, chẳng phải
thối tiền lại.
12. Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử.
13. Nhược bằng kẻ đó chẳng phải mưu giết, nhưng
vì Ðức Chúa Trời đã
phú người bị giết vào tay kẻ đó,
thì ta sẽ lập cho ngươi một chỗ đặng kẻ giết người ẩn
thân.
14. Còn nhược bằng kẻ nào dấy lên
cùng người lân cận mà lập mưu giết
người, thì dẫu rằng nó núp nơi
bàn thờ ta, ngươi cũng bắt mà giết đi.
15. Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị
xử tử.
16. Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ
lại trong tay mình, sẽ bị xử tử.
17. Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.
18. Khi hai người đánh lộn nhau, người nầy đánh
người kia bằng đá hay là đấm cú,
không đến đỗi phải chết, nhưng phải nằm liệt giường,
19. nếu đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được, người
đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ phải đền tiền
thiệt hại trong mấy ngày nghỉ và nuôi
cho đến khi lành mạnh.
20. Khi người chủ lấy gậy đánh đầy tớ trai hay
gái mình và chết liền theo tay,
thì chắc phải bị phạt.
21. Song nếu đầy tớ trai hay gái còn sống một hai
ngày, người chủ khỏi tội, vì nó vốn
là tài sản của chủ.
22. Nếu người ta đánh nhau, đụng nhằm một người
đàn bà có thai, làm cho
phải sảo, nhưng chẳng bị sự hại chi khác, thì kẻ
đánh nhằm đó phải bồi thường theo lời chồng người
sẽ định, và trả tiền trước mặt quan án.
23. Còn nếu có sự hại chi, thì ngươi
sẽ lấy mạng thường mạng,
24. lấy mắt thường mắt, lấy răng thường răng, lấy tay thường tay, lấy
chân thường chân,
25. lấy phỏng thường phỏng, lấy bầm thường bầm, lấy thương thường
thương.
26. Nếu ai đánh nhằm con mắt đầy tớ trai hay gái
mình, làm cho mất đi, thì
hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất con mắt.
27. Nếu ai làm rụng một răng của đầy tớ trai hay
gái mình, thì hãy tha
nó ra tự do, vì cớ mất một răng.
28. Ví có một con bò báng
nhằm một người đàn ông hay đàn
bà phải chết đi, con bò sẽ bị ném
đá chết, người ta không nên ăn thịt
nó; còn người chủ bò sẽ được
vô tội.
29. Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay
báng và chủ đã bị mắng vốn
mà không cầm giữ, nếu bò nầy
còn giết một người đàn ông hay
đàn bà, thì nó sẽ bị
ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa.
30. Nhược bằng người ta định giá cho chủ bò chuộc
mạng, chủ phải chuộc mạng mình y như giá
đã định.
31. Nếu bò báng nhằm một đứa con trai hay
là con gái, người ta cũng sẽ chiếu theo luật nầy.
32. Con bò báng nhằm một đứa đầy tớ trai hay
gái, chủ bò phải trả ba chục siếc lơ bạc cho chủ
nó; rồi bò sẽ bị ném đá
chết.
33. Nếu ai mở miệng hầm hay là đào hầm
mà chẳng đậy lại, và nếu có
bò hay là lừa té xuống đó,
34. chủ hầm sẽ bồi thường giá tiền cho chủ của
súc vật, nhưng súc vật bị giết đó sẽ
về phần mình.
35. Bằng bò của ai báng nhằm bò của kẻ
lân cận mình phải chết đi, hai người
hãy bán bò sống đó, chia
tiền và chia luôn con bò chết nữa.
36. Nếu người chủ đã tỏ tường trước rằng bò
mình có tật hay báng, mà
không lo cầm giữ, chủ phải lấy bò thường
bò, nhưng bò chết sẽ về phần người.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 22
Home
1. Ví ai bắt trộm bò hay chiên, rồi
giết hoặc bán đi, thì phải thường năm con
bò cho một con, và bốn con chiên cho
một con.
2. Nếu kẻ trộm đang cạy cửa mà bị bắt và
đánh chết đi, thì kẻ đánh chết chẳng
phải tội sát nhân.
3. Song nếu đánh chết trong khi mặt trời đã mọc
rồi, thì bị tội sát nhân. Kẻ trộm phải
bồi thường; bằng chẳng có chi, thì sẽ bị
bán vì tội trộm cắp mình.
4. Nếu vật mà kẻ trộm đã lấy, hoặc bò,
lừa hay chiên, hãy còn thấy sống trong
tay, thì kẻ trộm phải bồi thường gấp hai.
5. Ngộ ai làm hư hại trong ruộng hay là vườn nho,
thả súc vật mình vào ăn trong ruộng
người khác, thì ai đó phải lấy hoa lợi
tốt nhất của ruộng hay là vườn nho mình
mà thường bồi.
6. Nếu lửa nổi đốt bụi gai và cháy lan qua
lúa đã bó, mùa
màng, hay là đồng ruộng, thì kẻ nổi
lửa đó phải bồi thường trọn mọi vật đã bị
cháy.
7. Khi ai giao tiền bạc bay đồ vật cho kẻ lân cận
mình giữ, rủi bị trộm cắp tại nhà kẻ
lân cận đó, nếu tên trộm đã
bị bắt được, thì nó phải thường gấp hai.
8. Nếu kẻ trộm không bị bắt được, thì chủ
nhà cho gởi phải dẫn đến trước mặt Ðức
Chúa Trời, đặng thề rằng mình chẳng hề đặt tay
vào tài vật của kẻ lân cận
mình.
9. Trong mọi việc gian lận nào, hoặc về một con
bò, một con lừa, một con chiên, áo xống
hay là một vật chi bị mất, mà có người
nói rằng: "quả thật là đồ đó",
thì phải đem duyên cớ hai đàng đến
trước mặt Ðức Chúa Trời; kẻ nào bị
Ngài xử phạt phải thường bồi cho kẻ lân cận
mình gấp hai.
10. Nhược bằng người nào giao lừa, bò,
chiên, hoặc súc vật nào khác
cho kẻ lân cận mình giữ và bị chết,
gãy một giò hay là bị đuổi đi,
không ai thấy,
11. thì hai đàng phải lấy danh Ðức
Giê-hô-va mà thề, hầu cho biết rằng
người giữ súc vật có đặt tay trên
tài vật của kẻ lân cận mình chăng.
Người chủ con vật phải nhận lời thề, và người kia chẳng bồi
thường.
12. Còn nếu con vật bị bắt trộm, thì người
lãnh giữ phải thường bồi cho chủ nó.
13. Nếu con bật bị thú rừng xé chết, người
lãnh giữ phải đem nó ra làm chứng, sẽ
không phải bồi thường vật bị xé đó.
14. Vì ai mượn người lân cận mình một
con vật mà nó gãy một giò,
hoặc bị chết, không có mặt chủ, thì ai
đó phải bồi thường.
15. Nếu chủ có mặt tại đó, thì
không phải bồi thường. Nếu con vật đã cho mướn,
thì giá muớn thế cho tiền bồi thường.
16. Nếu kẻ nào hòa dụ và nằm với một
người gái đồng trinh chưa hứa giá, thì
kẻ đó phải nộp tiền sính và cưới
nàng làm vợ.
17. Nhược bằng cha nàng quyết từ chối không gả,
thì kẻ đó phải nộp tiền bằng số tiền
sính của người gái đồng trinh.
18. Ngươi chớ để các đồng cốt sống.
19. Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử.
20. Kẻ nào tế các thần khác hơn một
mình Ðức Giê-hô-va sẽ bị diệt.
21. Ngươi chớ nên bạc đãi khách ngoại
bang, và cũng chẳng nên hà hiếp họ,
vì các ngươi đã làm
khách kiều ngụ tại xứ
Ê-díp-tô.
22. Các ngươi chớ ức hiếp một người góa bụa hay
là một kẻ mồ côi nào.
23. Nếu ức hiếp họ, và họ kêu van ta, chắc ta sẽ
nghe tiếng kêu của họ;
24. cơn nóng giận ta phừng lên, sẽ lấy gươm giết
các ngươi, thì vợ các ngươi sẽ trở
nên góa bụa, và con các
ngươi sẽ mồ côi.
25. Trong dân ta có kẻ nghèo
nàn ở cùng ngươi, nếu ngươi cho người mượn tiền,
chớ xử với họ như người cho vay, và cũng chẳng nên
bắt họ chịu lời.
26. Nếu ngươi cầm áo xống của kẻ lân cận
mình làm của tin, thì phải trả cho họ
trước khi mặt trời lặn;
27. vì là đồ chỉ có che
thân, là áo xống che đậy da
mình; người lấy chi mà ngủ? Nếu người đến
kêu van ta, tất ta sẽ nghe lời người, vì ta
là Ðấng hay thương xót.
28. Ngươi chớ nên nói lộng ngôn
cùng Ðức Chúa Trời, và cũng
đừng rủa sả vua chúa của dân sự ngươi.
29. Ngươi chớ trễ nải mà dâng cho ta những hoa quả
đầu mùa của ngươi chứa trong vựa và rượu
ép chảy nơi bàn ép. Ngươi cũng phải
dâng cho ta con trai đầu lòng ngươi.
30. Về phần chiên và bò ngươi cũng
hãy làm như vậy; trong bảy ngày đầu,
con đầu lòng ở cùng mẹ nó, qua
ngày thứ tám ngươi hãy dâng
nó cho ta.
31. Các ngươi sẽ làm người thánh của
ta, chớ nên ăn thịt chi bị thú rừng xé
ở ngoài đồng; hãy liệng cho chó ăn.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 23
Home
1. Ngươi chớ đồn huyễn; chớ hùa cùng kẻ hung
ác đặng làm chứng dối.
2. Ngươi chớ hùa đảng đông đặng làm
quấy; khi ngươi làm chứng trong việc kiện cáo,
chớ nên trở theo bên phe đông
mà phạm sự công bình.
3. Ngươi chớ tư vị kẻ nghèo trong việc kiện cáo.
4. Nhược bằng ngươi gặp bò hay lừa của kẻ thù
nghịch mình đi lạc thì buộc phải đem về cho họ.
5. Ngộ ngươi thấy lừa của kẻ ghét mình bị chở
nặng phải quị, chớ khá bỏ ngơ, phải cứu nó cho
được nhẹ.
6. Trong cơn kiện cáo, ngươi chớ phạm quyền lợi của người
nghèo ở giữa vòng ngươi.
7. Ngươi phải tránh xa các lời giả dối; chớ giết
kẻ vô tội và kẻ công bình,
vì ta chẳng hề tha kẻ gian ác đâu.
8. Ngươi chớ nhậm của hối lộ, vì của hối lộ làm
mờ mắt người thượng trí, và làm mất
duyên do của kẻ công bình.
9. Ngươi chớ hiếp đáp người ngoại bang, vì
các ngươi đã kiều ngụ tại xứ
Ê-díp-tô, chính
các ngươi hiểu biết lòng khách ngoại
bang là thế nào.
10. Trải sáu năm ngươi hãy gieo trong đất,
thâu lấy hoa lợi,
11. nhưng qua năm thứ bảy hãy để đất hoang cho nghỉ; hầu cho
kẻ nghèo khổ trong dân sự ngươi được nhờ lấy hoa
quả đất đó, còn dư lại bao nhiêu,
thú vật ngoài đồng ăn lấy. Cũng hãy
làm như vậy về vườn nho và cây
ô-li-ve.
12. Luôn trong sáu ngày ngươi
hãy làm công việc mình,
nhưng qua ngày thứ bảy hãy nghỉ, hầu cho
bò và lừa ngươi được nghỉ; cùng con
trai của đầy tớ gái và người ngoại bang được
dưỡng sức lại.
13. Ngươi khá giữ hết mọi lời ta phán
cùng ngươi. Chớ xưng đến danh các thần
khác; chớ cho nghe danh đó ở nơi miệng ngươi ra.
14. Mỗi năm ba kỳ ngươi sẽ giữ lễ kính ta.
15. Ngươi hãy giữ lễ bánh không men;
phải ăn bánh không men trong bảy ngày
về mùa tháng lúa trỗ, như lời ta
đã phán dặn; vì trong tháng
đó ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
Lại chẳng ai nên tay không đến trước mặt ta.
16. Ngươi hãy giữ lễ mùa màng, tức
là mùa hoa quả đầu tiên của
công lao ngươi về các giống ngươi đã
gieo ngoài đồng; và giữ lễ mùa gặt về
lúc cuối năm, khi các ngươi đã
hái hoa quả của công lao mình
ngoài đồng rồi.
17. Mỗi năm ba kỳ các người nam phải đến trước mặt
Chúa, tức là Ðức
Giê-hô-va.
18. Ngươi chớ dâng huyết của con sinh tế ta chung với
bánh có pha men; còn mỡ của
nó dâng nhằm ngày lễ kính
ta, chớ để trọn đêm đến sáng mai.
19. Những hoa quả đầu mùa của đất, ngươi phải đem đến đền
thờ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ngươi. Ngươi chớ nên nấu dê con trong sữa mẹ
nó.
20. Ðây nầy, ta sai một thiên sứ đi trước
mặt ngươi, đặng phù hộ trong lúc đi đường,
và đưa ngươi vào nơi ta đã dự bị.
21. Trước mặt người, ngươi khá giữ mình, phải
nghe theo lời, chớ nên phản nghịch; người sẽ chẳng tha tội
ngươi đâu, vì danh ta ngự trong mình
người.
22. Nhưng nếu ngươi chăm chỉ nghe lời người, cùng
làm theo mọi lời ta sẽ phán, ta sẽ thù
nghịch cùng kẻ thù nghịch ngươi, và
đối địch với kẻ đối địch ngươi.
23. Vì thiên sứ ta sẽ đi trước mắt, đưa ngươi
vào xứ của dân A-mô-rít,
dân Hê-tít, dân
Phê-rê-sít, dân Ca-na-an,
dân Hê-vít, và dân
Giê-bu-sít, rồi ta sẽ diệt chúng
nó.
24. Ngươi chớ quì lạy và hầu việc các
thần chúng nó; chớ bắt chước công việc
họ, nhưng phải diệt hết các thần đó và
đạp nát các pho tượng họ đi.
25. Ngươi hãy hầu việc Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời ngươi; Ngài sẽ ban ơn cho
vật ăn uống của ngươi và tiêu trừ các
bịnh hoạn giữa vòng ngươi.
26. Trong xứ ngươi sẽ chẳng có đàn bà
sảo thai hay là đàn bà son sẻ. Ta sẽ
cho ngươi được trường thọ.
27. Ta sẽ sai sự kinh khiếp ta đi trước, hễ ngươi đến dân
nào, ta sẽ làm cho dân ấy vỡ chạy lạc
đường, và cho kẻ thù nghịch ngươi xây
lưng trước mặt ngươi.
28. Ta sẽ sai ong lỗ đi trước đánh đuổi dân
Hê-vít, dân Ca-na-an, dân
Hê-tít khỏi trước mặt ngươi.
29. Ta sẽ chẳng đuổi chúng nó đi hết trong một
năm đâu, e khi xứ sẽ trở nên đồng vắng,
và loài thú rừng sanh sản ra
đông, hại ngươi chăng;
30. nhưng ta sẽ đuổi chúng nó lần lần khỏi trước
mặt ngươi, cho đến chừng nào số ngươi thêm nhiều
và có thể cầm đất đó làm
sản nghiệp.
31. Ta sẽ phân định bờ cõi ngươi từ Biển đỏ
chí biển Phi-li-tin, từ đồng vắng đến sông
cái; vì ta sẽ giao phú dân
đó vào tay ngươi, và ngươi sẽ đuổi
chúng nó khỏi mặt mình.
32. Ngươi đừng kết giao ước cùng chúng
nó, hoặc cùng các thần của
chúng nó.
33. Họ sẽ chẳng ở trong xứ ngươi đâu, e khi chúng
nó xui cho ngươi phạm tội cùng ta mà
hầu việc các thần họ chăng; điều đó chắc sẽ
thành một cái bẫy cho ngươi vậy.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 24
Home
1. Ðức Chúa Trời phán cùng
Môi-se rằng: Ngươi và A-rôn,
Na-đáp, và A-bi-hu cùng bảy mươi
trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy lên
cùng Ðức Giê-hô-va ở đằng xa
mà lạy.
2. Chỉ một mình Môi-se sẽ đến gần Ðức
Giê-hô-va mà thôi,
còn họ không đến gần, và dân
sự cùng không lên cùng người.
3. Môi-se bèn đến thuật lại cho dân sự
mọi lời phán của Ðức Giê-hô-va
và các luật lệ, thì chúng
đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi sẽ
làm mọi lời Ðức Giê-hô-va
phán dạy.
4. Môi-se chép hết mọi lời của Ðức
Giê-hô-va; rồi dậy sớm, xây một
bàn thờ nơi chân núi, dựng mười hai
cây trụ chỉ về mười hai chi phái
Y-sơ-ra-ên.
5. Người sai kẻ trai trẻ của dân Y-sơ-ra-ên đi
dâng của lễ thiêu và của lễ
thù ân cho Ðức
Giê-hô-va bằng con bò tơ.
6. Môi-se lấy phân nửa huyết đựng trong
các chậu, còn phân nửa thì
rưới trên bàn thờ.
7. Ðoạn, người cầm quyển sách giao ước đọc cho
dân sự nghe, thì dân sự nói
rằng: Chúng tôi sẽ làm và
vâng theo mọi lời Ðức Giê-hô-va
phán chỉ.
8. Môi-se bèn lấy huyết rưới trên
mình dân sự mà nói rằng:
Ðây là huyết giao ước của Ðức
Giê-hô-va đã lập cùng
các ngươi y theo mọi lời nầy.
9. Ðoạn, Môi-se và A-rôn,
Na-đáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng
lão dân Y-sơ-ra-ên đều lên
núi,
10. ngó thấy Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, dưới chân Ngài có
một vật giống bích ngọc trong ngần, khác
nào như sắc trời thanh-quang.
11. Ngài chẳng tra tay vào những người
tôn trọng trong vòng dân
Y-sơ-ra-ên; nhưng họ ngó thấy Ðức
Chúa Trời, thì ăn và uống.
12. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy lên
núi, đến cùng ta và ở lại
đó; ta sẽ ban cho ngươi bảng đá, luật
pháp và các điều răn của ta
đã chép đặng dạy dân sự.
13. Môi-se bèn chờ dậy cùng
Giô-suê, kẻ hầu mình, rồi
Môi-se đi lên núi Ðức
Chúa Trời.
14. Người bèn nói cùng các
trưởng lão rằng: Hãy đợi chúng
tôi tại đây cho đến chừng nào trở về
cùng các ngươi. Nầy, A-rôn
và Hu-rơ ở lại cùng các ngươi, ai
có việc chi hãy hỏi hai người đó.
15. Vậy, Môi-se lên núi, mây
che phủ núi.
16. Sự vinh quang của Ðức Giê-hô-va ở tại
núi Si-na-i; trong sáu ngày
mây phủ núi, qua ngày thứ bảy
Ðức Giê-hô-va ngự trong đám
mây gọi Môi-se.
17. Cảnh trạng của sự vinh quang Ðức
Giê-hô-va nơi đỉnh núi, trước mặt
dân Y-sơ-ra-ên, khác nào như
đám lửa hừng.
18. Môi-se vào giữa đám mây,
lên núi, ở tại đó trong bốn mươi
ngày và bốn mươi đêm.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 25
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên đặng họ dâng lễ vật cho ta;
các ngươi hãy nhận lấy lễ vật của mọi người
có lòng thành dâng cho.
3. Nầy là lễ vật các ngươi sẽ nhận lấy của họ:
vàng, bạc, và đồng;
4. chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông
dê, da chiên đực nhuộm đỏ,
5. da cá nược, cây si-tim,
6. dầu thắp, hương liệu đặng làm dầu xức và hương,
7. bích ngọc cùng các thứ ngọc
khác để gắn vào ê-phót
và bảng đeo ngực.
8. Họ sẽ làm cho ta một đền thánh và
ta sẽ ở giữa họ.
9. Hãy làm điều đó y như kiểu đền tạm
cùng kiểu các đồ dùng mà ta
sẽ chỉ cho ngươi.
10. Vậy, chúng hãy đóng một
cái hòm bằng cây si-tim; bề
dài hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi, và
bề cao cũng một thước rưỡi,
11. lấy vàng ròng bọc trong, bọc
ngoài, và chạy đường viền chung quanh
hòm bằng vàng.
12. Ngươi cũng hãy đúc bốn khoen bằng
vàng để tại bốn góc hòm: hai
cái bên hông nầy, hai cái
bên hông kia,
13. cùng làm hai cây đòn
bằng cây si-tim, bọc vàng;
14. rồi lòn đòn vào khoen hai
bên hông hòm, để dùng
đòn khiêng hòm.
15. Ðòn sẽ ở trong khoen luôn,
không nên rút ra.
16. Ngươi hãy cất vào trong hòm bảng
chứng mà ta sẽ ban cho.
17. Ngươi cũng hãy làm một cái nắp thi
ân bằng vàng ròng, bề dài
hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi.
18. Lại làm hai tượng chê-ru-bin bằng
vàng giát mỏng, để hai đầu nắp thi ân,
19. ló ra ngoài, một tượng ở đầu nầy
và một tượng ở đầu kia.
20. Hai chê-ru-bin sẽ sè cánh ra, che
trên nắp thi ân, đối diện nhau và
xây mặt vào nắp thi ân.
21. Ngươi hãy để nắp thi ân trên
hòm, rồi để vào trong hòm bảng chứng
mà ta sẽ ban cho.
22. Ta sẽ gặp ngươi tại đó, và ở trên
nắp thi ân, giữa hai tượng chê-ru-bin,
trên hòm bảng chứng, ta sẽ truyền cho ngươi
các mạng lịnh về dân Y-sơ-ra-ên.
23. Ngươi cũng hãy đóng một cái
bàn bằng cây si-tim; bề dài hai thước,
bề ngang một thước, và bề cao một thước rưỡi,
24. bọc bằng vàng ròng, và chạy một
đường viền chung quanh;
25. rồi lên be cho tứ vi bàn, cao chừng bốn
ngón tay và chạy cho be một đường viền
vàng.
26. Lại đúc bốn cái khoen vàng, tra
vào bốn góc nơi chân bàn.
27. Khoen sẽ ở gần be, để xỏ đòn khiêng
bàn.
28. Ngươi hãy chuốt đòn bằng cây
si-tim, bọc vàng, rồi người ta sẽ dùng
khiêng bàn đó.
29. Lại hãy lấy vàng ròng
mà làm dĩa, chén, chậu, và
ly đặng dùng làm lễ quán.
30. Trên bàn ngươi sẽ để bánh trần
thiết cho có luôn luôn trước mặt ta.
31. Ngươi cũng hãy làm chân
đèn bằng vàng ròng. Cái
chân, cái thân, cái
đài, cái bầu cùng cái hoa
của đèn đều làm bằng vàng
đánh giát.
32. Hai bên thân đèn sẽ có
sáu nhánh nứt ra, hạ nhánh ở
bên nầy và ba nhánh ở bên kia.
33. Trong sáu nhánh nứt ra trên
chân đèn, mỗi nhánh đều sẽ
có ba cái đài hình như hột
hạnh nhân cùng bầu và hoa.
34. Trên thân chân đèn, lại
cũng sẽ có bốn cái đài hình
hột hạnh nhân, bầu và hoa.
35. Trong sáu nhánh từ thân
chân đèn nứt ra, hễ cứ mỗi hai nhánh
thì dưới có một cái bầu.
36. Bầu cùng nhánh của chân
đèn đều bằng vàng ròng
nguyên miếng đánh giát.
37. Ngươi cũng hãy làm bảy cái thếp
đèn, đặng hễ khi thắp thì chiếu trước
chân đèn.
38. Kéo bắt tim cùng đồ đựng tàn
đèn cũng sẽ bằng vàng ròng.
39. Người ta sẽ dùng một ta lâng vàng
ròng làm chân đèn nầy
và các đồ phụ tùng của chân
đèn.
40. Vậy, ngươi hãy xem, cứ làm y như kiểu
đã chỉ cho trên núi.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 26
Home
1. Ngươi hãy dùng mười bức màn
mà làm đền tạm, màn dệt bằng vải gai
mịn, chỉ tím, đỏ điều và đỏ sặm, có
thêu các hình chê-ru-bin cực
xảo.
2. Mỗi bức màn bề dài hai mươi tám
thước, bề rộng bốn thước. Các bức đều đồng cỡ với nhau.
3. Mỗi năm bức màn sẽ kết dính lại nhau.
4. Ngươi hãy thắt vòng chỉ tím nơi
triêng của bức màn thứ nhất ở đầu bức
nguyên; và cũng làm như vậy cho đầu
chót của bức màn cuối trong bức nguyên
thứ nhì.
5. Lại làm năm chục cái vòng cho bức
màn thứ nhất, và năm chục cái
vòng nơi đầu triêng bức nguyên thứ
nhì; các vòng hai bên sẽ đối
nhau.
6. Cũng hãy làm năm mươi cái
móc bằng vàng, rồi móc bức
nguyên nầy qua bức nguyên kia, hầu cho đền tạm kết
lại thành một.
7. Ngươi cũng hãy kết mười một bức màn bằng
lông dê, để dùng làm bong che
trên đền tạm.
8. Bề dài mỗi bức màn ba chục thước, bề rộng bốn
thước, mười một bức đồng một cỡ với nhau.
9. Ngươi hãy kết năm bức màn nầy riêng
ra, và sáu bức màn kia riêng
ra; nhưng hãy gấp đôi bức màn thứ
sáu ở trước đền tạm.
10. Lại thắt năm chục cái vòng nơi
triêng màn thứ nhất, ném về cuối của
bức nguyên thứ nhất, và năm chục cái
vòng nơi triêng màn của bức
nguyên thứ nhì;
11. cũng làm năm chục cái móc bằng
đồng, móc vào vòng, rồi hiệp
cái bong lại, để nó thành ra một.
12. Nhưng còn dư, tức là phân nửa của
bức màn dư trong bức bong nguyên, thì
sẽ xủ xuống phía sau đền tạm;
13. phần bề dài dư trong các bức màn
của bong, bên nầy một thước, bên kia một thước,
thì sẽ xủ xuống hai bên hông đền tạm
đặng che vậy.
14. Ngươi hãy làm một tấm lá phủ bằng
da chiên đực nhuộm đỏ để trên bong, và
kết một tấm lá phủ bằng da cá nược đắp
lên trên nữa.
15. Ngươi cũng hãy làm những ván cho
vách đền tạm bằng cây si-tim.
16. Mỗi tấm trướng mười thước, hoành một thước rưỡi,
17. có hai cái mộng liền nhau; hết thảy
các tấm ván vách đền tạm ngươi cũng sẽ
làm như vậy.
18. Về phía nam đền tạm, ngươi hãy làm
hai mươi tấm ván;
19. dưới hai mươi tấm ván hãy đặt bốn mươi lỗ
mộng bằng bạc; cứ hai lỗ mộng ở dưới, để chịu hai cái mộng
của mỗi tấm ván.
20. Lại hãy làm hai mươi tấm ván về
phía bắc đền tạm,
21. và bốn mươi lỗ mộng bằng bạc, cứ dưới mỗi tấm
có hai lỗ mộng.
22. Ngươi cũng hãy làm sáu tấm
ván về phía sau đền tạm, tức là về
hướng tây.
23. Về hai góc phía sau đền tạm, phải
làm hai tấm ván,
24. khít nhau tự dưới chí trên bởi một
cái khoen ở nơi đầu; hai cái góc đều
làm như vậy.
25. Thế thì, có tám tấm ván
và mười sáu lỗ mộng bằng bạc; cứ hai lỗ mộng ở
dưới mỗi một tấm ván.
26. Lại, ngươi hãy làm năm cây
xà ngang bằng gỗ si-tim cho những tấm ván về
phía bên nầy,
27. năm cây xà ngang về phía
bên kia và năm cây xà ngang
khác nữa về phía sau của đền tạm, tức
là hướng tây.
28. Cây xà ngang giữa sẽ ở về thân giữa
những tấm ván, chạy suốt từ đầu nầy đến đầu kia.
29. Cũng hãy lấy vàng bọc ván
cùng xà ngang, và làm những
khoen bằng vàng, đặng xỏ các cây
xà ngang.
30. Ngươi phải dựng đền tạm y như kiểu đã chỉ cho ngươi
trên núi vậy.
31. Ngươi hãy làm một bức màn bằng vải
gai đậu mịn, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, có
thêu những hình chê-ru-bin cực xảo;
32. rồi xủ màn đó trên bốn trụ bằng
cây si-tim, bọc vàng, dựng trên bốn lỗ
trụ bằng bạc; các móc trụ đều bằng
vàng.
33. Ngươi sẽ treo màn đó vào
móc dưới bức bong, rồi ở phía trong
màn để hòm bảng chứng; màn nầy
dùng phân biệt cho các ngươi nơi
thánh và nơi chí thánh.
34. Ðoạn, hãy để cái nắp thi ân
trên hòm bảng chứng, đặt trong nơi chí
thánh.
35. Bên ngoài bức màn về
phía bắc đền tạm thì để cái
bàn; còn cây chân
đèn thì để về phía nam đối ngang
cái bàn.
36. Về cửa Trại ngươi hãy làm một bức
màn bằng chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai đậu
mịn, có thêu cực xảo;
37. rồi làm cho bức màn nầy năm cái
trụ bằng cây si-tim, bọc vàng; đinh nó
cũng bằng vàng, và đúc năm lỗ trụ bằng
đồng.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 27
Home
1. Ngươi cũng hãy đóng một bàn thờ
bằng cây si-tim, hình vuông, năm thước
bề dài, năm thước bề ngang, và bề cao ba thước.
2. Nơi bốn góc bàn thờ hãy
làm sừng ló ra và bọc đồng.
3. Những đồ phụ tùng của bàn thờ thì
hãy làm bằng đồng: bình đựng tro,
vá, ảng, nỉa và bình hương.
4. Lại làm cho bàn thờ một tấm rá bằng
lưới đồng; và nơi bốn góc rá
làm bốn cái khoen bằng đồng;
5. rồi để rá đó dưới thành
bàn thờ, từ dưới chân lên đến nửa bề cao.
6. Cũng hãy chuốt đòn khiêng
bàn thờ bằng cây si-tim, bọc đồng,
7. rồi xỏ vào những khoen; khi khiêng đi,
đòn sẽ ở hai bên bàn thờ.
8. Bàn thờ sẽ đóng bằng ván, trống
bộng, làm y như đã chỉ cho ngươi trên
núi vậy.
9. Ngươi cũng hãy làm cái
hành lang cho đền tạm. Về phía nam của
hành lang làm bố vi bằng vải gai đậu mịn,
dài trăm thước,
10. cùng hai chục cây trụ và hai chục
lỗ trụ bằng đồng; đinh và nuông trụ thì
bằng bạc.
11. Về phía bắc cũng vậy; bố vi đó có
trăm thước bề dài, hai chục cây trụ và
hai chục lỗ trụ bằng đồng; đinh và nuông trụ
thì bằng bạc.
12. Bố vi của hành lang về phía tây
có năm chục thước bề dài, mười cây trụ
và mười lỗ trụ.
13. Bề ngang của hành lang phía trước, tức
là phía đông, có năm chục
thước: phía hữu
14. có mười lăm thước bố vi, ba cây trụ
và ba lỗ trụ;
15. phía tả có mười lăm thước bố vi, ba
cây trụ và ba lỗ trụ.
16. Còn cửa hành lang có một bức
màn dài hai chục thước bằng vải gai đậu mịn, chỉ
tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thêu,
cùng vốn cây trụ và bốn lỗ trụ.
17. Hết thảy trụ xung quanh hành lang đều sẽ có
nhờ nuông bạc chắp lại với nhau; đinh trụ thì bằng
bạc, lỗ trụ thì bằng đồng.
18. Bề dài của hành lang được một trăm thước, bề
ngang, mỗi phía, năm chục thước, bề cao năm thước; bố vi sẽ
bằng vải gai đậu mịn, còn những lỗ trụ thì bằng
đồng.
19. Hết thảy đồ phụ tùng dùng về các
việc phụng sự trong đền tạm, cùng cây nọc của đền
tạm và cây nọc của hành lang, đều sẽ
làm bằng đồng.
20. Ngươi hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên
đem đến dầu lọc ô-li-ve ép, đặng thắp
đèn cho đèn sáng luôn
luôn.
21. Trong hội mạc, ở ngoài màn, trước
hòm bảng chứng, A-rôn cùng
các con trai người sẽ lo sửa soạn đèn, hầu cho
trước mặt Ðức Giê-hô-va đèn
cháy luôn luôn từ tối cho đến
sáng. Ấy là một luật đời đời cho dòng
dõi dân Y-sơ-ra-ên phải giữ.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 28
Home
1. Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên, ngươi
hãy chọn A-rôn, anh ngươi, cùng
các con trai ngươi, là Na-đáp,
A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma, lập
lên làm chức tế lễ trước mặt ta.
2. Ngươi hãy chế bộ áo thánh cho
A-rôn, anh ngươi, để người được vinh hiển trang sức.
3. Hãy truyền cho hết thảy kẻ thông minh,
là người ta đã ban đầy tính
trí huệ, chế bộ áo cho A-rôn, đặng biệt
người riêng ra thánh, hầu cho người làm
chức tế lễ trước mặt ta.
4. Ðây là bộ áo mà
họ sẽ chế: Bảng đeo ngực, ê-phót, áo
dài, áo lá trong thêu, mũ
và đai. Thế thì, họ sẽ chế bộ áo
thánh cho A-rôn, anh ngươi, cùng
các con trai người, để các người đó
làm chức tế lễ trước mặt ta.
5. Họ sẽ dùng kim tuyến, chỉ màu tím,
đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai mịn.
6. Họ sẽ chế ê-phót bằng kim tuyến, chỉ
màu tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai
đậu mịn thêu cực xảo.
7. Hai bên ê-phót làm hai đai
vai, đâu đầu vào ê-phót.
8. Ðai để cột ê-phót ở phía
ngoài, sẽ làm nguyên miếng một cũng như
công việc ê-phót, bằng kim tuyến, chỉ
tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn.
9. Ngươi hãy lấy hai viên bích ngọc
mà khắc các tên con trai
Y-sơ-ra-ên ở trên:
10. sáu tên trên viên
bích ngọc nầy, sáu tên trên
viên bích ngọc kia, tùy theo thứ tự
ngày sinh của họ.
11. Phải khắc các tên con trai
Y-sơ-ra-ên trên hai viên bích
ngọc đó, như cách của thợ khắc con dấu,
và khảm trong khuôn bằng vàng.
12. Ðoạn gắn hai viên bích ngọc
đó trên hai đai vai ê-phót,
dùng làm ngọc kỷ niệm về con cháu
Y-sơ-ra-ên; A-rôn sẽ mang tên của họ
trên hai vai mình làm kỷ niệm trước mặt
Ðức Giê-hô-va.
13. Ngươi cũng hãy làm móc
gài bằng vàng,
14. đánh hai sợi dây chuyền nhỏ bằng
vàng ròng như hình dây, rồi
để chuyền đánh như thế vào móc
gài.
15. Bảng đeo ngực về sự xét đoán, ngươi cũng phải
làm cho cực xảo, y như ê-phót; tức
là bằng kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm,
và vải gai đậu mịn.
16. Bảng đeo ngực hình vuông và may
lót; bề dài một em-ban, bề ngang một em-ban.
17. Ngươi hãy gắn bốn hàng ngọc vào
bảng đeo ngực: hàng thứ nhất gắn ngọc mã
não, ngọc hồng bích, và ngọc lục bửu;
18. hàng thứ nhì, ngọc phỉ túy, ngọc
lam bửu và ngọc kim cương;
19. hàng thứ ba, ngọc hồng bửu, ngọc bạch mã
não, và ngọc tử tinh;
20. hàng thứ tư, ngọc huỳnh bích, ngọc hồng
mã não, và bích ngọc.
Các ngọc nầy sẽ khảm vào khuôn bằng
vàng.
21. Số các ngọc đó hết thảy là mười
hai viên, tùy theo tên các
con trai Y-sơ-ra-ên; trên mỗi viên ngọc
sẽ khắc tên của một trong mười hai chi phái
Y-sơ-ra-ên, như người ta khắc con dấu vậy.
22. Ngươi hãy làm các sợi chuyền bằng
vàng ròng đánh như hình
dây, chuyền trên bảng đeo ngực;
23. rồi làm hai khoanh bằng vàng để ở hai
góc đầu trên bảng.
24. cùng cột hai sợi chuyền vàng vào
hai khoanh nơi hai đầu bảng,
25. và hai đầu sợi chuyền cột vào móc
gài, đoạn gắn trên hai đai vai
ê-phót về phía đằng trước ngực.
26. Ngươi cũng hãy làm hai cái khoanh
bằng vàng nữa, để vào hai góc đầu dưới
của bảng đeo ngực, về phía trong ê-phót.
27. Lại làm hai khoanh khác nữa bằng
vàng, gắn vào hai đầu dưới đai vai
ê-phót ném về phía trước, ở
trên đai gần chỗ giáp mối.
28. Rồi một sợi dây màu tím sẽ cột hai
cái khoanh của bảng đeo ngực lại cùng hai
cái khoanh ê-phót, hầu cho
nó dính với đai, đừng rớt khỏi
ê-phót.
29. Thế thì, khi nào A-rôn
vào nơi thánh, sẽ mang trên
lòng mình tên các con trai
Y-sơ-ra-ên nơi bảng đeo ngực về sự xét
đoán, đặng giữ làm kỷ niệm luôn
luôn trước mặt Ðức Giê-hô-va.
30. Trên bảng đeo ngực của sự xét đoán,
ngươi hãy gắn u-rim và thu-mim vào,
đặng khi A-rôn đến trước mặt Ðức
Giê-hô-va thì các
món đó sẽ ở trên lòng
mình. Ấy vậy, trước mặt Ðức
Giê-hô-va, A-rôn sẽ mang sự
xét đoán của con trai Y-sơ-ra-ên
trên lòng mình luôn
luôn.
31. Ngươi cũng hãy may áo dài của
ê-phót toàn bằng vải tím.
32. Ở giữa áo có một lỗ tròng đầu
vào; viền chung quanh, dệt như lỗ áo
giáp mặt lưới, để cho khỏi tét.
33. Nơi biên dưới hãy thắt trái lựu
màu tím, đỏ điều, đỏ sặm, cùng
chuông vàng nhỏ đan tréo nhau ở
vòng theo viền,
34. nghĩa là một cái chuông rồi kế một
trái lựu, ở vòng khắp chung quanh viền
áo.
35. Khi A-rôn hầu việc tế lễ, sẽ mặc áo
đó; và khi vào hay ra nơi
thánh trước mặt Ðức Giê-hô-va,
người ta sẽ nghe tiếng chuông vàng nhỏ,
và A-rôn khỏi chết vậy.
36. Ngươi cũng hãy làm một cái thẻ
bằng vàng ròng, trên đó khắc
như người ta khắc con dấu, rằng: Thánh Cho Ðức
Giê-hô-va.
37. Rồi lấy một sợi dây màu tím buộc
thẻ đó để trên đằng trước cái mũ.
38. Thẻ đó sẽ ở trên trán
A-rôn; A-rôn gánh tội lỗi của
dân Y-sơ-ra-ên phạm trong khi họ dâng của
lễ thánh; thẻ đó sẽ ở nơi trán
A-rôn luôn luôn, để dân sự được
đẹp ý Ðức Giê-hô-va.
39. Ngươi hãy chế một cái áo
lá mặc trong bằng vải gai mịn, một cái mũ bằng
vải gai mịn và một cái đai thêu.
40. Ngươi cũng hãy chế cho các con trai
A-rôn áo lá, đai và mũ, hầu
cho họ được vinh hiển và trang sức.
41. Ðoạn, hãy lấy các bộ áo
đó mặc cho A-rôn, anh ngươi, cùng
các con trai người; hãy xức dầu cho, lập
và biệt riêng ra thánh, để họ
làm chức tế lễ trước mặt ta.
42. Hãy chế cho họ quần lót trong bằng vải gai,
đặng che sự lõa lồ, mặc từ ngang lưng quần cho đến bắp vế.
43. A-rôn cùng các con trai người sẽ
mặc quần đó trong khi vào hội mạc hay
là đến gần bàn thờ đặng làm việc tế lễ
trong nơi thánh, thì chẳng mắc tội và
chẳng chết đâu. Ấy là một mạng lịnh đời đời cho
A-rôn và dòng dõi người.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 29
Home
1. Ðây là điều ngươi sẽ làm
đặng biệt riêng A-rôn và con trai người
riêng ra thánh, để họ làm chức tế lễ
trước mặt ta.
2. Hãy bắt một con bò tơ đực và hai
con chiên đực không tì vít,
dùng bột mì thiệt mịn làm
bánh không men, bánh nhỏ
không men nhồi với dầu, và bánh
tráng không men tẩm dầu;
3. rồi để các bánh đó trong một giỏ
dâng luôn lên cùng
bò tơ đực và hai chiên đực.
4. Ðoạn, ngươi sẽ biểu A-rôn cùng
các con trai người đến gần nơi cửa hội mạc, rồi lấy nước tắm
cho họ.
5. Kế đó, lấy bộ áo mặc cho A-rôn, tức
là áo lá mặc trong, áo
dài của ê-phót,
ê-phót, và bảng đeo ngực, rồi lấy đai
của ê-phót thắt lưng cho người;
6. đoạn đội cái mũ lên đầu và để thẻ
thánh trên mũ,
7. cùng lấy dầu xức đổ trên đầu và xức
cho người.
8. Lại biểu các con trai A-rôn đến gần mặc
áo lá cho họ,
9. rồi lấy đai thắt lưng và đội mũ cho A-rôn
cùng các con trai người. Thế thì, chức
tế lễ sẽ bởi mạng lịnh định đời đời cho họ. Ngươi lập A-rôn
và các con trai người là thế.
10. Ðoạn, hãy dắt con bò tơ đực lại gần
trước hội mạc, A-rôn cùng các con trai
người sẽ nhận tay mình trên đầu con bò
đó.
11. Ngươi hãy giết bò đực trước mặt Ðức
Giê-hô-va, tại nơi cửa hội mạc;
12. rồi lấy huyết bò đó, nhúng
ngón tay vào, bôi các sừng
của bàn thờ, và đổ khắp dưới chân
bàn thờ.
13. Cũng hãy lấy hết thảy những mỡ bọc ruột, tấm da mỏng bọc
gan, hai trái cật và mỡ trên
trái cật, mà đem xông trên
bàn thờ.
14. Nhưng ở ngoài trại quân hãy
thiêu hết thịt, da, và phẩn của con bò
đực đó; ấy là một của lễ chuộc tội vậy.
15. Ngươi cũng hãy bắt một trong hai con chiên
đực, A-rôn và các con trai ngươi sẽ
nhận tay mình trên đầu nó;
16. rồi giết chiên đực đó, lấy huyết mà
rưới khắp chung quanh trên bàn thờ.
17. Kế đó, sả chiên ra từng miếng, rửa sạch bộ
lòng và giò đi, rồi để lên
trên các miếng đã sả và đầu
nó;
18. đoạn xông cả con chiên đực tại trên
bàn thờ; ấy là một của lễ thiêu,
có mùi thơm dâng cho Ðức
Giê-hô-va, tức là một của lễ
dùng lửa dâng lên cho Ðức
Giê-hô-va vậy.
19. Ðoạn, ngươi hãy bắt con chiên đực thứ
nhì, A-rôn cùng các con trai
người sẽ nhận tay mình trên đầu nó;
20. rồi ngươi giết chiên đực đó, lấy huyết
bôi nơi trái tai hữu của A-rôn
và của các con trai người, trên
ngón cái bàn tay mặt và
ngón cái bàn chân mặt; huyết
còn dư hãy rưới chung quanh trên
bàn thờ.
21. Ngươi hãy lấy huyết ở nơi bàn thờ
và dầu xức mà rảy trên mình
và quần áo A-rôn, cùng
trên mình và quần áo
các con trai người. Như vậy, A-rôn cùng
quần áo mình, các con trai người
cùng quần áo họ sẽ được biệt riêng ra
thánh.
22. Vì cớ chiên đực đó dùng
làm lễ truyền chức, nên ngươi hãy lấy
mỡ, đuôi, mỡ bọc ruột, tấm da mỏng bọc gan, hai
trái cật, cùng mỡ trên trái
cật và giò bên hữu,
23. lại lấy luôn một ổ bánh, một bánh
nhỏ nhồi với dầu, và một cái bánh
tráng ở trong giỏ bánh không men để
trước mặt Ðức Giê-hô-va;
24. rồi ngươi để mấy món đó trong lòng
bàn tay A-rôn, và trong lòng
bàn tay của các con trai ngươi, mà đưa
qua đưa lại trước mặt Ðức Giê-hô-va.
25. Ðoạn, hãy lấy ra khỏi bàn tay họ đem
xông trên bàn thờ, ở trên của
lễ thiêu, để cho có mùi thơm trước mặt
Ðức Giê-hô-va; ấy là một của lễ
dùng lửa dâng lên cho Ðức
Giê-hô-va.
26. Cũng hãy lấy cái o chiên đực về lễ
lập A-rôn mà đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va. Ấy sẽ về phần ngươi.
27. Vậy, ngươi sẽ biệt riêng ra thánh
cái o và giò của chiên đực
đã dùng làm lễ lập A-rôn
cùng các con trai người, tức là o
đã đưa qua đưa lại, và giò
đã giơ lên.
28. Lễ vật nầy sẽ do nơi Y-sơ-ra-ên dâng cho
A-rôn cùng các con trai người
tùy theo mạng lịnh đời đời đã lập, vì
là một điều ban cho bởi trong các của lễ
thù ân của dân Y-sơ-ra-ên, tức
là một của lễ giơ lên mà họ
dâng cho Ðức Giê-hô-va vậy.
29. Những áo thánh của A-rôn sẽ để lại
cho các con trai nối sau người, để họ mặc áo
đó, được xức dầu và lập trong chức tế lễ.
30. Ai trong vòng con trai người được làm thầy tế
lễ thế cho ngươi, mà đến hội mạc đặng hầu việc tại nơi
thánh, thì sẽ mặc áo đó
trong bảy ngày.
31. Ðoạn, ngươi hãy bắt con chiên đực
dùng làm lễ thiết lập mà nấu thịt
nó trong một nơi thánh.
32. A-rôn cùng các con trai người sẽ ăn
thịt chiên đực đó, cùng bánh
trong giỏ nơi cửa hội mạc.
33. Vậy, họ sẽ ăn các món nầy, bởi đó
được chuộc tội, để lập và biệt họ riêng ra
thánh; nhưng khách ngoại bang chẳng được ăn,
vì các món đó đã
biệt riêng ra thánh rồi.
34. Nếu thịt lễ thiết lập và bánh còn
dư lại đến ngày mai, ngươi hãy thiêu
trong lửa, chớ nên ăn, vì là của
đã biệt riêng ra thánh.
35. Vậy, theo mọi điều ta phán dặn, ngươi hãy
làm cho A-rôn cùng các con
trai người, và lập họ trong bảy ngày.
36. Mỗi ngày hãy dâng một con
bò tơ đực đặng chuộc tội, và dâng
vì bàn thờ một của lễ chuộc tội cùng
xức dầu cho để biệt bàn thờ riêng ra
thánh.
37. Trong bảy ngày ngươi hãy làm lễ
chuộc tội cho bàn thờ và biệt riêng ra
thánh; bàn thờ sẽ trở nên rất
thánh, phàm vật chi đụng đến đều sẽ được
nên thánh vậy.
38. Ðây là các điều ngươi sẽ
dâng lên bàn thờ: Hai chiên
con một tuổi, mỗi ngày thường thường như vậy.
39. Buổi sớm mai ngươi hãy dâng một trong hai
chiên con; con thứ nhì hãy
dâng vào buổi chiều tối.
40. Với con chiên thứ nhất, hãy dâng một
phần mười bột mì mịn nhồi với một phần tư hin dầu
ép, và cùng lễ quán một
phần tư hin rượu nho.
41. Về con chiên thứ nhì hãy
dâng vào buổi chiều tối với một của lễ
và một lễ quán y như lễ sớm mai; ấy là
một của lễ thiêu, có mùi thơm
dâng cho Ðức Giê-hô-va.
42. Ấy là một của lễ thiêu mà
các ngươi phải dâng luôn luôn,
trải qua các đời, tại cửa hội mạc trước mặt Ðức
Giê-hô-va, là nơi ta sẽ giáng
lâm mà phán cùng ngươi.
43. Vậy, ta sẽ có tại đó cùng
dân Y-sơ-ra-ên; chỗ nầy sẽ vì sự vinh
hiển ta mà được biệt riêng ra thánh.
44. Ta sẽ biệt hội mạc cùng bàn thờ
riêng ra thánh; cùng biệt
A-rôn và các con trai người
riêng ra thánh nữa, đặng họ làm chức tế
lễ trước mặt ta.
45. Ta sẽ ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, làm
Ðức Chúa Trời dân ấy.
46. Dân ấy sẽ biết ta là
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
chúng nó, đã đem chúng
nó ra khỏi xứ Ê-díp-tô đặng ở
giữa vòng họ. Ta là Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của họ.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 30
Home
1. Ngươi cũng hãy đóng một cái
bàn thờ bằng cây si-tim, để xông hương.
2. Mặt bàn sẽ vuông, bề dài một thước,
bề ngang một thước, và bề cao hai thước; bàn thờ
sẽ có bốn sừng ló ra.
3. Ngươi hãy bọc vàng ròng
trên mặt, bốn cạnh chung quanh và các
sừng; còn tứ vi chạy đường viền vàng.
4. Dưới đường viền đó, nơi hai bên, hãy
làm hai cái khoen bằng vàng, để xỏ
đòn dùng đặng khiêng.
5. Hãy chuốt đòn khiêng bằng
cây si-tim, bọc vàng.
6. Ngươi sẽ để bàn thờ đó trước bức
màn che hòm bảng chứng đối cùng nắp
thi ân trên hòm, là nơi ta sẽ
gặp ngươi.
7. Mỗi buổi sớm mai, khi A-rôn làm đèn,
sẽ xông hương tại nơi đó.
8. Vào lúc chiều tối, khi A-rôn thắp
đèn, cũng sẽ xông hương: ấy là một thứ
hương phải xông trước mặt Ðức
Giê-hô-va luôn luôn, trải qua
các đời.
9. Trên bàn thờ nầy chớ xông hương lạ,
hoặc dâng của lễ thiêu, của lễ chay hay
là lễ quán nào hết.
10. Nhưng trải qua các đời, mỗi năm một lần, A-rôn
sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc tôi, bôi
trên sừng bàn thờ nầy đặng chuộc tội cho
nó. Ấy sẽ là một việc rất thánh cho
Ðức Giê-hô-va.
11. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se rằng:
12. Khi nào ngươi điểm số dân Y-sơ-ra-ên
đặng kê sổ, mỗi tên phải nộp tiền đền mạng
mình cho Ðức Giê-hô-va, hầu cho
khỏi mắc tai nạn chi trong khi kê sổ.
13. Kẻ nào có tên trong sổ phải nộp nửa
siếc-lơ, tùy siếc-lơ của nơi thánh, cận nặng hai
mươi ghê-ra; vậy, nửa siếc-lơ, tức là của
dâng cho Ðức Giê-hô-va.
14. Mọi người có tên vào sổ từ hai mươi
tuổi sắp lên sẽ dâng của nầy cho Ðức
Giê-hô-va.
15. Khi dâng của nầy cho Ðức
Giê-hô-va đặng đền mạng mình, người
giàu không nộp trội, người nghèo
không nộp thiếu nửa siếc-lơ.
16. Vậy, ngươi thâu tiền đền mạng của dân
Y-sơ-ra-ên, rồi dùng tiền đó
vào việc hội mạc; ấy là một kỷ niệm của
dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Ðức
Giê-hô-va, đặng đền mạng mình.
17. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se nữa rằng:
18. Ngươi hãy làm một cái
thùng với chân thùng bằng đồng, đặng
rửa mình ở trong, rồi để giữa khoảng của hội mạc
và bàn thờ, và đổ nước vào.
19. A-rôn cùng các con trai người sẽ
rửa tay và chân mình ở trong.
20. Khi họ vào hội mạc sẽ lấy nước rửa mình, hầu
cho họ khỏi chết; và khi lại gần bàn thờ đặng
phụng sự, tức là xông của lễ dùng lửa
dâng cho Ðức Giê-hô-va, họ cũng
phải giữ như vậy.
21. Thế thì, họ hãy rửa tay và
chân, hầu cho khỏi chết. Ấy là một lệ đời đời cho
A-rôn, cùng dòng dõi người
trải qua các đời.
22. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
23. Hãy góp các hương liệu tốt nhất:
một dược nước năm trăm siếc-lơ; hương nhục quế phân nửa số
đó, tức là hai trăm rưỡi; hương xương bồ hai trăm
rưỡi;
24. quế-bì năm trăm, đều theo siếc-lơ nơi thánh,
và một hin dầu ô-li-ve.
25. Ngươi hãy lấy các hương liệu đó
theo phép hòa hương, chế ra một thứ dầu thơm
dùng làm dầu xức thánh.
26. Ðoạn, lấy xức cho hội mạc cùng hòm
bảng chứng,
27. bàn thờ cùng các đồ phụ
tùng, chân đèn cùng
các đồ phụ tùng, bàn thờ
xông hương,
28. bàn thờ của lễ thiêu cùng
các đồ phụ tùng, cái thùng
và chân thùng.
29. Ấy vậy, ngươi sẽ biệt các vật nầy riêng ra
thánh, hầu cho làm rất thánh, hễ
món chi đụng đến, đều sẽ được nên thánh.
30. Ngươi cũng hãy xức dầu cho A-rôn
cùng các con trai người, biệt họ riêng
ra thánh, để làm chức tế lễ trước mặt ta.
31. Lại hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Về phần ta, dầu nầy sẽ là dầu xức
thánh trải qua mọi đời các ngươi.
32. Chớ nên đổ trên xác thịt
loài người, và cũng đừng làm dầu
nào khác theo phép hòa
hương đó; dầu nầy là thánh, cũng sẽ
thánh cho các ngươi.
33. Hễ ai chế một thứ hòa hương giống như vậy, và
đem rưới trên mình người ngoại bang, sẽ bị truất
khỏi vòng dân sự.
34. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se nữa rằng: Hãy lấy
các hương liệu, tức tô hiệp hương, loa yểm hương,
phong chi hương, cùng thanh nhũ hương, mỗi thứ bằng nhau,
35. theo phép hòa hương, chế ra một thứ hương,
mặn, trong và thánh.
36. Hãy nghiền nó ra bột, rồi để trước
hòm bảng chứng trong hội mạc, tức là nơi ta sẽ
gặp ngươi: về phần các ngươi, hương nầy sẽ là một
vật rất thánh.
37. Còn thứ hương mà ngươi sẽ chế, chớ chế giống
như phép hòa hương nầy; ấy là một vật
ngươi nên biệt riêng ra thánh cho
Ðức Giê-hô-va.
38. Hễ kẻ nào làm giống y như vậy đặng ngửi
mùi, sẽ bị truất khỏi vòng dân sự.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 31
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se nữa rằng:
2. Nầy, ta đã kêu tên
Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu
của Hu-rơ, trong chi phái Giu-đa.
3. Ta đã làm cho người đầy dẫy Thần của
Ðức Chúa Trời, sự khôn ngoan, sự
thông sáng, và sự hiểu biết để
làm mọi thứ nghề thợ,
4. đặng bày ra và chế tạo đồ vàng, bạc
và đồng,
5. đặng khác và khảm ngọc, đẽo gỗ và
làm được mọi thứ nghề thợ.
6. Ðây, ta lại cho một người phụ việc, tên
là Ô-hô-li-áp, con trai của
A-hi-sa-mạc, trong chi phái Ðan. Ta cũng
đã ban sự thông minh cho mọi người tài
năng, hầu cho họ làm các việc ta đã
phán dặn ngươi,
7. là hội mạc, hòm bảng chứng, nắp thi
ân ở trên hòm, cùng đồ
dùng trong hội mạc;
8. bàn thờ cùng đồ phụ tùng,
chân đèn bằng vàng ròng
và đồ phụ tùng, bàn thờ xông
hương,
9. bàn thờ dâng của lễ thiêu
cùng đồ phụ tùng, cái thùng
và chân thùng;
10. áo lễ, áo thánh cho
A-rôn thầy tế lễ cả, và bộ áo cho
các con trai người, đặng làm chức tế lễ;
11. dầu xức, và hương thơm của nơi thánh.
Các người đó phải làm hết thảy theo
lời ta đã phán dặn ngươi.
12. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
13. Phần ngươi, hãy nói cùng
dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nhất là
các ngươi hãy giữ ngày
sa-bát ta, vì là một dấu giữa ta
và các ngươi, trải qua mọi đời, để
thiên hạ biết rằng ta, là Ðức
Giê-hô-va, làm cho các ngươi
nên thánh.
14. Vậy, hãy giữ ngày sa-bát,
vì là một ngày thánh cho
các ngươi. Kẻ nào phạm đến ngày
đó, phải bị xử tử; kẻ nào làm một việc
chi trong ngày đó, cũng sẽ bị truất khỏi
vòng dân sự.
15. Người ta sẽ làm công việc trong sáu
ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là
ngày sa-bát, tức là ngày
nghỉ, biệt riêng ra thánh cho Ðức
Giê-hô-va. Trong ngày sa-bát
hễ ai làm một việc chi sẽ bị xử tử.
16. Ấy vậy, dân Y-sơ-ra-ên sẽ giữ ngày
sa-bát trải các đời của họ, như một giao ước đời
đời.
17. Ấy là một dấu đời đời cho ta cùng
dân Y-sơ-ra-ên, vì Ðức
Giê-hô-va đã dựng nên trời
và đất trong sáu ngày, qua
ngày thứ bảy Ngài nghỉ và lấy sức lại.
18. Khi Ðức Giê-hô-va đã
phán xong cùng Môi-se tại
núi Si-na-i, bèn cho người hai bảng chứng bằng
đá, với ngón tay Ðức Chúa Trời
viết ra.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 32
Home
1. Dân sự thấy Môi-se ở trên
núi chậm xuống, bèn nhóm lại chung
quanh A-rôn mà nói rằng:
Nào! hãy làm các thần để đi
trước chúng tôi đi, vì về phần
Môi-se nầy, là người đã dẫn
chúng tôi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, chúng tôi
chẳng biết điều chi đã xảy đến cho người rồi.
2. A-rôn đáp rằng: Hãy một những
vòng vàng đeo nơi tai vợ, con trai và
con gái các ngươi đi, rồi đem lại cho ta.
3. Hết thảy đều lột vòng vàng nơi tai
mình mà đem lại cho A-rôn;
4. người nhận lấy nơi tay họ, và dùng đục
làm thành một bò con đúc.
Dân chúng nói rằng: Hỡi
Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần của ngươi
đã đem ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
5. A-rôn thấy vậy, bèn lập một bàn thờ
trước mặt tượng bò đó; đoạn, người la
lên rằng: Sáng mai sẽ có lễ
tôn trọng Ðức Giê-hô-va!
6. Sáng mai dân chúng bèn
thức dậy sớm, dâng các của lễ thiêu
và lễ thù ân; ngồi mà ăn
uống, đoạn đứng dậy mà vui chơi.
7. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
xuống đi, vì dân mà ngươi đưa ra khỏi
xứ Ê-díp-tô đã bại hoại rồi,
8. vội bỏ đạo ta truyền dạy, đúc một con bò tơ,
mọp trước tượng bò đó và
dâng của lễ cho nó mà nói
rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! đây là
các thần đã dẫn ngươi lên khỏi xứ
Ê-díp-tô!
9. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se rằng: Ta đã xem thấy
dân nầy, kìa là một dân cứng
cổ.
10. Vả, bây giờ hãy để mặc ta làm, hầu
cho cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng chúng
nó, diệt chúng nó đi; nhưng ta sẽ
làm cho ngươi thành một dân lớn.
11. Môi-se bèn nài xin
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời người
rằng: Lạy Ðức Giê-hô-va, sao nổi thạnh nộ
cùng dân Ngài? là
dân mà Ngài đã
dùng quyền lớn lao mạnh mẽ đưa ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
12. Sao để cho người Ê-díp-tô
nói rằng: Ngài đưa chúng nó
ra khỏi xứ đặng làm hại cho, giết đi tại trong
núi, cùng diệt chúng nó
khỏi mặt đất? Cầu xin Chúa hãy nguôi
cơn giận và bỏ qua điều tai họa mà
Ngài muốn giáng cho dân Ngài.
13. Xin Chúa hãy nhớ lại Áp-ra-ham,
Y-sác, Y-sơ-ra-ên, là các
tôi tớ Ngài, mà Ngài
có chỉ mình thề cùng họ rằng: Ta sẽ
thêm dòng dõi các ngươi
lên nhiều như sao trên trời, ta sẽ ban cho
dòng dõi đó cả xứ mà ta chỉ
phán, và họ sẽ được xứ ấy làm cơ
nghiệp đời đời.
14. Ðức Giê-hô-va bèn bỏ qua
điều tai họa mà Ngài nói rằng sẽ
giáng cho dân mình.
15. Ðoạn, Môi-se ở trên núi trở
xuống, tay cầm hai bảng chứng; hai bảng chứng có viết hai
bên, mặt nầy và mặt kia.
16. Hai bảng đó là việc của Ðức
Chúa Trời làm ra; chữ cũng là chữ của
Ðức Chúa Trời khắc trên bảng.
17. Vả, Giô-suê nghe dân chúng
la lên, bèn nói cùng
Môi-se rằng: Trong trại quân có tiếng
chiến đấu.
18. Môi-se đáp rằng: Chẳng phải tiếng
kêu về thắng trận, cũng chẳng phải tiếng kêu về
thua trận; nhưng ta nghe tiếng kẻ hát.
19. Khi đến gần trại quân, Môi-se thấy
bò con và sự nhảy múa, bèn
nổi giận, liệng hai bảng chứng khỏi tay mịnh, bể ra nơi chân
núi;
20. đoạn lấy bò con của chúng đã
đúc đem đốt trong lửa, rồi nghiền cho đến thành
ra bụi, rải trên mặt nước, và cho dân
Y-sơ-ra-ên uống.
21. Môi-se bèn nói cùng
A-rôn rằng: Dân nầy làm chi anh,
mà anh xui cho chúng phạm tội nặng dường ấy?
22. A-rôn đáp rằng: Xin chúa
tôi đừng nổi giận, chúa biết rằng dân
nầy chuyên làm điều ác!
23. Họ có nói cùng tôi rằng:
Hãy làm các thần đi trước
chúng tôi; vì về phần Môi-se
nầy, là người đã dẫn chúng
tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô,
chúng tôi chẳng biết có điều chi xảy
đến cho người rồi.
24. Tôi bèn nói cùng
chúng rằng: Ai có vàng hãy
lột ra! Họ bèn đưa cho tôi, tôi bỏ
vào lửa, và bởi đó thành ra
bò con nầy.
25. Vả, Môi-se thấy dân sự buông lung,
vì A-rôn để họ buông lung, đến đỗi bị sỉ
nhục trong vòng các thù nghịch,
26. thì người đứng nơi cửa trại quân mà
nói rằng: Ai thuộc về Ðức
Giê-hô-va, hãy đến cùng ta
đây! Hết thảy người Lê-vi đều nhóm lại
gần bên người.
27. Người truyền cho họ rằng: Giê-hô-va,
là Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, có phán như vầy: Mỗi người
trong các ngươi hãy đeo gươm bên
mình, đi qua đi lại trong trại quân, từ cửa nầy
đến cửa kia, và mỗi người hãy giết anh em, bạn
hữu, và kẻ lân cận mình.
28. Dân Lê-vi bèn làm y như
lời Môi-se; trong ngày đó có
chừng ba ngàn người bị chết.
29. Vả, Môi-se đã truyền rằng: Ngày nay
mỗi người trong vòng các ngươi hãy
dâng tay mình cho Ðức
Giê-hô-va, chẳng sá chi đến con trai hay
là anh em mình, hầu cho các ngươi được
ơn phước vậy.
30. Ngày mai, Môi-se nói
cùng dân sự rằng: Các ngươi
đã phạm một tội rất trọng; song bây giờ ta
lên đến Ðức Giê-hô-va,
có lẽ ta sẽ được chuộc tội các ngươi chăng.
31. Vậy, Môi-se trở lên đến Ðức
Giê-hô-va mà thưa rằng: Ôi!
dân sự nầy có phạm một tội trọng, làm
cho mình các thần bằng vàng;
32. nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Bằng
không, hãy xóa tên
tôi khỏi sách Ngài đã
chép đi.
33. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Kẻ nào phạm tội
cùng ta, ta sẽ xóa nó khỏi
sách ta.
34. Bây giờ, hãy đi, dẫn dân sự đến nơi
ta đã chỉ phán. Nầy thiên sứ ta sẽ đi
trước ngươi; nhưng ngày nào ta hình
phạt thì sẽ phạt tội chúng nó.
35. Ðức Giê-hô-va hành phạt
dân sự là vậy, vì dân sự
là gốc phạm về tượng bò vàng
mà A-rôn đã làm ra.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 33
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Nầy, ngươi cùng
dân sự mà ngươi đã dẫn ra khỏi xứ
Ê-díp-tô hãy từ đây
đi lên xứ ta đã thề ban cho Áp-ra-ham,
Y-sác, và Gia-cốp, rằng: Ta sẽ ban xứ
đó cho dòng dõi ngươi.
2. Ta sẽ sai một thiên sứ đi trước ngươi, và sẽ
đuổi dân Ca-na-an, dân
A-mô-rít, dân
Hê-tít, dân
Phê-rê-sít, dân
Hê-vít, và dân
Giê-bu-sít,
3. đặng đưa các ngươi vào xứ đượm sữa
và mật; nhưng ta không cùng
lên với ngươi đâu, vì ngươi
là dân cứng cổ, e ta diệt ngươi dọc đường chăng.
4. Khi dân sự nghe lời hăm nầy, bèn đều để tang,
không ai đeo đồ trang sức hết.
5. Vì Ðức Giê-hô-va
đã phán cùng Môi-se rằng:
Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên: Các ngươi là dân
cứng cổ, nếu ta cùng lên với các ngươi
chỉ trong một lúc, thì ta sẽ diệt các
ngươi! Vậy, bây giờ, hãy cất đồ trang sức trong
mình ngươi đi, đặng ta biết liệu đãi ngươi
cách nào.
6. Thế thì, từ núi Hô-rếp,
dân Y-sơ-ra-ên đã lột các đồ
trang sức mình.
7. Môi-se lấy Trại đem dựng xa ra ngoài trại
quân, gọi là hội mạc, phàm ai muốn cầu
khẩn Ðức Giê-hô-va, thì ra đến
hội mạc ở ngoài trại quân.
8. Vừa khi Môi-se ra đến Trại, thì cả
dân sự chổi dậy, mỗi người đứng nơi cửa trại mình,
ngó theo Môi-se cho đến khi nào người
vào trong Trại rồi.
9. Vừa khi người vào đó, thì trụ
mây giáng xuống dừng tại cửa Trại, và
Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se.
10. Cả dân sự thấy trụ mây dừng tại cửa Trại,
bèn đứng dậy, rồi mỗi người đều sấp mình xuống
nơi cửa trại mình.
11. Ðức Giê-hô-va đối diện phán
cùng Môi-se, như một người nói chuyện
cùng bạn hữu mình. Ðoạn, Môi-se
trở về trại quân, còn kẻ hầu trẻ của người,
tên là Giô-suê, con trai của
Nun, không ra khỏi Trại.
12. Môi-se thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng: Nầy, Chúa
phán cùng tôi rằng: Hãy đem
dân sự nầy lên! Song Chúa chẳng cho
tôi biết Chúa sai ai đi cùng
tôi. Vả, Chúa có phán rằng:
Ta biết ngươi vì danh ngươi, và ngươi được ơn
trước mặt ta.
13. Vậy bây giờ, nếu tôi được ơn trước mặt
Chúa, xin cho tôi biết đường của Chúa,
để cho tôi biết Chúa và được ơn trước
mặt Ngài. Xin cũng hãy nghĩ rằng dân
nầy là dân của Ngài!
14. Ðức Giê-hô-va đáp rằng:
Chính mình ta sẽ đi cùng ngươi,
và ta sẽ cho ngươi an nghỉ.
15. Môi-se thưa rằng: Nếu chính mình
Ngài chẳng đi, xin đừng đem chúng tôi
lên khỏi đây.
16. Lấy cớ chi mà người ta sẽ biết rằng tôi
cùng dân sự Ngài được ơn trước mặt
Ngài? Có phải khi nào Ngài
cùng đi với chúng tôi chăng? Thế
thì, tôi cùng dân sự
Ngài sẽ được phân biệt với muôn
dân trên mặt đất.
17. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm điều ngươi
cầu xin ta, vì ngươi được ơn trước mặt ta, và ta
biết ngươi bởi danh ngươi vậy.
18. Môi-se thưa rằng: Tôi xin Ngài cho
tôi xem sự vinh hiển của Ngài!
19. Ðức Giê-hô-va phán
ràng: Ta sẽ làm cho các sự
nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta
hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi;
làm ơn cho ai ta muốn làm ơn, và
thương xót ai ta muốn thương xót.
20. Ngài lại phán rằng: Ngươi sẽ chẳng thấy được
mặt ta, vì không ai thấy mặt ta mà
còn sống.
21. Ðức Giê-hô-va lại phán:
Ðây có một chỗ gần ta, ngươi
hãy đứng trên hòn đá;
22. khi sự vinh hiển ta đi ngang qua, ta sẽ để ngươi trong bộng
đá, lấy tay ta che ngươi, cho đến chừng nào ta đi
qua rồi.
23. Ta sẽ rút tay lại, và ngươi thấy
phía sau ta; nhưng thấy mặt ta chẳng được.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 34
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy đục hai bảng
đá như hai bảng trước; rồi ta sẽ viết trên hai
bảng nầy các lời đã ở nơi hai bảng kia,
mà ngươi đã làm bể.
2. Ngày mai, hãy chực cho sẵn, vừa
sáng lên trên đỉnh núi
Si-na-i, đứng trước mặt ta tại đó.
3. Không ai nên lên theo cùng
ngươi hết, khắp núi không nên thấy
có người, và chiên, bò cũng
chẳng nên ăn cỏ nơi núi nầy nữa.
4. Môi-se bèn đục hai bảng đá, y như
hai bảng trước; dậy sớm, cầm theo tay hai bảng đó
lên trên núi Si-na-i, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn.
5. Ðức Giê-hô-va ngự xuống trong
đám mây, đứng gần bên Môi-se
và hô danh Giê-hô-va.
6. Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng:
Giê-hô-va! Giê-hô-va!
là Ðức Chúa Trời nhân từ,
thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ
và thành thực,
7. ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian
ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ
có tội là vô tội, và nhơn
tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời.
8. Môi-se lật đật cúi đầu xuống đất và
thờ lạy, mà thưa rằng:
9. Lạy Chúa! Nếu tôi được ơn trước mặt
Chúa, xin hãy đi giữa chúng
tôi, vì dân nầy là một
dân cứng cổ. Xin hãy tha sự gian ác
cùng tội lỗi, và nhận chúng
tôi làm cơ nghiệp Chúa.
10. Ðức Giê-hô-va phán rằng:
Nầy, ta lập một giao ước. Trước mặt các dân sự của
ngươi, ta sẽ làm các phép lạ chưa hề
có làm trên cả mặt đất, hay
là nơi dân nào; và
toàn dân sự mà trong đó
có ngươi, sẽ xem thấy việc Ðức
Giê-hô, vì điều ta sẽ làm
cùng ngươi là một điều đáng kinh khiếp.
11. Hãy cẩn thận về điều ta truyền cho ngươi hôm
nay. Nầy, ta sẽ đuổi khỏi trước mặt ngươi dân
A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân
Hê-tít, dân
Phê-rê-sít, dân
Hê-vít, và dân
Giê-bu-sít.
12. Hãy cẩn thận đừng lập giao ước cùng
dân của xứ mà ngươi sẽ vào, e
chúng nó sẽ thành cái bẫy
giữa ngươi chăng.
13. Nhưng các ngươi hãy phá hủy
bàn thờ, đập bể pho tượng và đánh hạ
các thần chúng nó.
14. Vì ngươi đừng sấp mình xuống trước mặt
Chúa nào khác, bởi Ðức
Giê-hô-va tự xưng là Ðức
Chúa Trời kỵ tà; Ngài thật
là một Ðức Chúa Trời kỵ tà vậy.
15. Hãy cẩn thận đừng lập giao ước cùng
dân của xứ đó, e khi chúng
nó hành dâm cùng
các tà thần chúng nó
và tế các tà thần của chúng
nó, có kẻ mời, rồi ngươi ăn của chúng
họ chăng.
16. Lại đừng cưới con gái chúng nó cho
con trai ngươi, e khi con gái chúng nó
hành dâm với các tà thần
chúng nó, quyến dụ con trai ngươi cũng
hành dâm cùng các
tà thần của chúng nó nữa chăng.
17. Ngươi chớ đúc thần tượng.
18. Ngươi hãy giữ lễ bánh không men.
Nhằm kỳ tháng lúa trỗ, hãy ăn
bánh không men trong bảy ngày, như ta
đã truyền dặn ngươi; vì nhằm tháng
đó ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
19. Các con trưởng nam đều thuộc về ta; cùng
các con đực đầu lòng của bầy súc vật
ngươi, hoặc bò hoặc chiên cũng vậy.
20. Nhưng ngươi sẽ bắt một chiên con hay là
dê con mà chuộc một con lừa đầu lòng.
Nếu chẳng chuộc nó, ngươi hãy bẻ cổ
nó. Ngươi sẽ chuộc các con trưởng nam
mình; và chớ ai đi tay không đến chầu
trước mặt ta.
21. Trong sáu ngày ngươi hãy
làm công việc, nhưng qua ngày thứ bảy
hãy nghỉ, dẫu mùa cày hay
mùa gặt ngươi cũng phải nghỉ vậy.
22. Ðầu mùa gặt lúa mì, ngươi
hãy giữ lễ của các tuần lễ; và cuối
năm giữ lễ mùa màng.
23. Thường năm ba lần, trong vòng các ngươi, mỗi
người nam sẽ ra mắt Chúa Giê-hô-va,
là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
24. Vì ta sẽ đuổi các dân khỏi trước
mặt ngươi, ta sẽ mở rộng bờ cõi ngươi; và trong
khi ngươi lên ra mắt Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời ngươi, mỗi năm ba lần, thì
sẽ chẳng ai tham muốn xứ ngươi hết.
25. Ngươi chớ dâng huyết của con sinh tế ta cùng
bánh pha men; thịt của con sinh về lễ Vượt-qua chớ
nên giữ đến sáng mai.
26. Ngươi sẽ đem dâng hoa quả đầu mùa của đất sanh
sản vào đến Giê-hô-va, là
Ðức Chúa Trời ngươi. Ngươi chớ nấu thịt dê
con trong sữa mẹ nó.
27. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se rằng: Hãy chép
các lời nầy; vì theo các lời nầy
mà ta lập giao ước cùng ngươi và
cùng Y-sơ-ra-ên.
28. Môi-se ở đó cùng Ðức
Giê-hô-va trong bốn mươi ngày
và bốn mười đêm, không ăn
bánh, cũng không uống nước; Ðức
Giê-hô-va chép trên hai bảng
đá các lời giao ước, tức là mười điều
răn.
29. Khi Môi-se tay cầm hai bảng chứng đi xuống núi
Si-na-i, chẳng biết rằng da mặt mình sáng rực bởi
vì mình hầu chuyện Ðức
Giê-hô-va.
30. Nhưng A-rôn cùng cả dân
Y-sơ-ra-ên nhìn Môi-se thấy mặt người
sáng rực, sợ không dám lại gần.
31. Môi-se bèn gọi họ, A-rôn
cùng các hội trưởng đến gần; rồi nói
chuyện cùng họ.
32. Kế sau, cả dân Y-sơ-ra-ên đến gần, người truyền
dặn các điều của Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn mình nơi núi
Si-na-i.
33. Môi-se thôi nói chuyện
cùng họ, liền lấy lúp che mặt mình lại.
34. Khi Môi-se vào trước mặt Ðức
Giê-hô-va đặng hầu chuyện Ngài,
thì dở lúp lên cho đến chừng
nào lui ra; đoạn ra nói lại cùng
dân Y-sơ-ra-ên mọi lời Ngài
đã phán dặn mình.
35. Dân Y-sơ-ra-ên nhìn mặt
Môi-se thấy da mặt người sáng rực, thì
Môi-se lấy lúp che mặt mình cho đến khi
nào vào hầu chuyện Ðức
Giê-hô-va.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 35
Home
1. Môi-se nhóm hết hội chúng
Y-sơ-ra-ên lại mà nói rằng:
Ðây là các việc của Ðức
Giê-hô-va đã phán dạy
làm:
2. Người ta sẽ làm công việc trong sáu
ngày, nhưng đến ngày thứ bảy sẽ là một
lễ thánh, tức là ngày
sa-bát biệt riêng ra thánh cho
Ðức Giê-hô-va. Ai làm
công việc trong ngày đó sẽ bị xử tử.
3. Nhằm ngày sa-bát chớ nổi lửa trong
nhà nào của các ngươi hết.
4. Môi-se nói cùng cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Ðây
là các lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn:
5. Hãy lấy một lễ vật chi ở nhà các
ngươi mà dâng cho Ðức
Giê-hô-va. Hễ người nào có
lòng thành dâng cho, hãy đem
lễ vật cho Ðức Giê-hô-va: vàng,
bạc và đồng;
6. chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông
dê,
7. da chiên đực nhuộm đỏ, da cá nược,
cây si-tim,
8. dầu thắp, các thứ hương liệu đặng chế dầu xức
và hương thơm,
9. bích ngọc, và các thứ ngọc
khác để dùng khảm cho ê-phót
và bảng đeo ngực.
10. Trong vòng các ngươi mấy người khôn
ngoan hơn hết hãy đến làm mọi điều Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn;
11. đền tạm, trại và bong của đền tạm, móc,
ván, xà ngang, trụ và lỗ trụ;
12. hòm bảng chứng và đòn
khiêng, nắp thi ân cùng màn
che nơi chí thánh;
13. cài bàn và đòn
khiêng, các đồ phụ tùng của
bàn cùng bánh trần thiết;
14. chân đèn, đồ phụ tùng,
các đèn và dầu thắp đèn;
15. bàn thờ xông hương cùng
đòn khiêng; dầu xức, hương liệu, và bức
màn cửa đền tạm;
16. bàn thờ dâng của lễ thiêu
và rá đồng; đòn khiêng
và các đồ phụ tùng của bàn
thờ; cái thùng và chân
thùng;
17. bố vi che hành lang, trụ, lỗ trụ, và bức
màn của cửa hành lang;
18. các nọc của đền tạm, cùng nọc và
dây của hành lang;
19. bộ áo lễ dùng về công việc trong
nơi thánh; bộ áo thánh cho
A-rôn, thầy tế lễ cả, và bộ áo cho
các con trai người đặng làm chức tế lễ.
20. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên bèn lui ra
khỏi mặt Môi-se.
21. Mọi người có lòng cảm động, và mọi
người có lòng thành, đều đem lễ vật
đến dâng cho Ðức Giê-hô-va, để
làm công việc hội mạc, các đồ phụ
tùng và bộ áo thánh.
22. Phàm người nam cùng nữ, tức mọi kẻ
có lòng thành, đều đến đem những hoa
tai, nhẫn, khâu, kiềng, các thứ trang sức bằng
vàng và hết thảy đều dâng lễ vật bằng
vàng cho Ðức Giê-hô-va.
23. Kẻ nào ở nhà mình có
chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông
dê, da chiên đực nhuộm đỏ, và da
cá nược đều đem đến.
24. Hễ ai có chi làm lễ vật bằng bạc hay bằng
đồng, đều đem dâng cho Ðức
Giê-hô-va, và hễ ai có
cây si-tim nơi nhà mình dùng
hiệp về các công việc tế lễ, đều đem đến.
25. Phàm người đàn bà khéo
thì chánh tay mình kéo chỉ
lấy và đem đến món chi họ đã
kéo rồi, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và
chỉ gai mịn.
26. Còn mấy người đàn bà có
cảm động và tài khéo thì
kéo chỉ lông dê.
27. Các bực tôn trưởng trong dân sự đem
bích ngọc và các thứ ngọc
khác để khảm cho ê-phót và
bảng đeo ngực;
28. dầu thắp đèn, các hương liệu để chế dầu xức
và dầu thơm.
29. Cả dân Y-sơ-ra-ên, nam hay nữ, phàm
ai có lòng cảm động xui cho mình
tình nguyện quyên vào các
công việc Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn nơi Môi-se, đều đem
dâng cho Ðức Giê-hô-va
các lễ tình nguyện vậy.
30. Môi-se nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy Ðức
Giê-hô-va đã kêu danh
Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu
của Hu-rơ, trong chi phái Giu-đa.
31. Ngài phú cho người đầy dẫy Thần của
Ðức Chúa Trời, sự khôn ngoan, sự
thông sáng, và sự hiểu biết, để
làm mọi thứ nghề thợ,
32. đặng bày ra và làm đồ
vàng, bạc và đồng,
33. đặng khắc và khảm các thứ ngọc, đặng chạm
cây làm các đồ khéo
léo.
34. Ngài lại phú cho người tài dạy dỗ,
và cũng đồng ban cho
Ô-hô-li-áp, con của A-hi-sa-mạc, trong
chi phái Ðan nữa;
35. Ngài phú cho hai người đó đầy sự
khôn ngoan đặng làm các công
nghệ về thợ thêu, thợ dệt nhiều màu, tức
là màu tím, đỏ điều, đỏ sặm,
và vải gai mịn; để bày ra và
làm các thứ công nghệ khéo.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 36
Home
1. Bết-sa-lê-ên,
Ô-hô-li-áp và các
người khôn khéo, tức là người
Ðức Giê-hô-va đã phú
cho sự khôn ngoan và sự thông
sáng đặng làm các công việc
định dùng về việc tế lễ nơi thánh, đều
làm mọi việc mà Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn.
2. Vậy, Môi-se bèn gọi
Bết-sa-lê-ên,
Ô-hô-li-áp, và các
người khôn khéo mà trong
lòng họ Ðức Giê-hô-va
phú sự thông sáng cùng
các người có lòng cảm động xui
mình đến gần, đặng làm công việc.
3. Trước mặt Môi-se, họ thâu các lễ vật
của dân Y-sơ-ra-ên đã đem đến, để
làm các công việc định dùng
và sự tế lễ nơi thánh. Nhưng mỗi buổi sớm mai,
dân sự lại đem đến lễ vật tình nguyện nữa.
4. Thế thì, các người khôn
khéo làm mọi công việc của nơi
thánh, đều tạm đình,
5. đến nỗi cùng Môi-se rằng: Dân sự đem
đến dư bội phần đặng làm các công việc
mà Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn.
6. Theo lịnh truyền của Môi-se, họ bèn đi rao từ
trại quân rằng: Bất kỳ người nam hay nữ, chớ làm
công việc về lễ vật của nơi thánh nữa! Vậy họ cấm
dân sự không cho đem đến chi thêm nữa hết.
7. Vì đã đủ các vật liệu đặng
làm hết thảy công việc, cho đến đỗi còn
dư lại nữa.
8. Các người khôn khéo trong
vòng những người làm công việc,
dùng mười bức màn bằng vải gai đậu mịn, chỉ
tím, đỏ điều, đỏ sặm, thêu hình
chê-ru-bin cực xảo, mà dựng đền tạm.
9. Mỗi bức màn đều dài hai mươi tám
thước, rộng bốn thước; các bức đều đồng cỡ nhau.
10. Họ kết mỗi năm bức màn dính lại nhau;
11. thắt vòng bằng chỉ tím nơi triêng
của bức màn thứ nhất, ở đầu bức nguyên;
và cũng làm như vậy cho triêng của bức
màn ở nơi chót trong bức nguyên thứ
nhì.
12. Họ thắt năm chục vòng theo triêng của bức
màn ở đầu của bức nguyên thứ nhất, và
năm chục vòng theo triêng bức màn ở
chót của bức nguyên thứ nhì;
các vòng đối nhau.
13. Ðoạn chế năm chục cái móc bằng
vàng, móc bức nầy với bức kia, để cho đền tạm kết
lại thành một.
14. Kế đó, họ dùng lông dê
kết mười một bức màn, để làm bong trên
đền tạm.
15. Bề dài mỗi bức màn ba mươi thước, bề rộng bốn
thước: mười một bức màn đều đồng cỡ nhau.
16. Họ kết năm bức màn riêng ra; và
sáu bức màn khác riêng ra;
17. thắt năm chục cái vòng nơi triêng
bức chót của bức nguyên thứ nhất, và
năm chục vòng nơi triêng bức ở đầu của bức
nguyên thứ nhì;
18. làm năm chục cái móc bằng đồng,
móc bức bong hiệp lại thành một.
19. Họ cũng làm cho đền tạm một tấm lá phủ bằng
da chiên đực nhuộm đỏ, và một tấm là
phủ bằng da cá nược đắp lên trên.
20. Họ dùng ván bằng cây si-tim
làm vách cho đền tạm.
21. Mỗi tấm ván mười thước về dài, một thước rưỡi
bề ngang.
22. Mỗi tấm có hai cái mộng liên nhau:
cả ván đền tạm đều làm một cách.
23. Vậy, họ làm ván cho đền tạm: hai chục tấm về
phía nam;
24. dưới hai chục tấm làm bốn chục lỗ mộng bằng bạc: dưới
mỗi tấm có hai lỗ mộng, để chịu hai cái mộng.
25. Họ cũng làm hai chục tấm ván ở
phía bắc đền tạm,
26. và bốn chục lỗ mộng bằng bạc; dưới mỗi tấm có
hai lỗ mộng.
27. Về phía đằng sau của đền tạm, tức là
phía tây, họ làm sáu tấm
ván,
28. và về hai góc sau thì
làm hai tấm ván.
29. Hai tấm ván góc ra khít với nhau
từ dưới chí trên bởi một cái khoen ở
nơi đầu; hai góc hai bên đều làm như
vậy.
30. Thế thì, có tám tấm ván
và mười sáu lỗ mộng bằng bạc, dưới mỗi tấm
có hai lỗ mộng.
31. Họ làm năm cây xà ngang bằng gỗ
si-tim cặp mấy tấm ván về phía bên nầy
của đền tạm,
32. năm cây xà ngang khác về
phía bên kia, và năm cây
xà ngang khác nữa về phía sau đền tạm,
tức là phía tây.
33. Họ làm cây xà ngang giữa, đặng
lòn qua thân giữa các tấm
ván từ đầu nầy đến đầu kia,
34. và bọc vàng mấy tấm ván. Họ
làm các khoen của ván bằng
vàng, đặng xỏ xà ngang qua, và bọc
vàng các cây xà ngang.
35. Họ lại chế một bức màn bằng chỉ tím, đỏ điều,
đỏ sặm, và vải gai đậu mịn, thêu hình
chê-ru-bin cực xảo,
36. rồi làm bốn cây trụ bằng gỗ si-tim, bọc
vàng, cùng đinh bằng vàng;
đúc bốn lỗ trụ bằng bạc cho mấy cây trụ
đó.
37. Họ cũng chế cho cửa vào Trại một tấm màn bằng
chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn: ấy
là một công việc thêu thùa.
38. Họ cũng làm năm cây trụ cùng đinh,
rồi bọc vàng trên đầu trụ, và
các cây nuông; còn năm lỗ trụ
thì bằng đồng.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 37
Home
1. Ðoạn, Bết-sa-lê-ên đóng
hòm bằng cây si-tim, bề dài hai thước
rưỡi, bề ngang một thước rưỡi, và bề cao một thước rưỡi.
2. Người bọc vàng ròng bề trong và bề
ngoài, cùng chạy đường viền chung quanh.
3. Ðúc bốn cái khoen vàng đặng
gắn bốn góc: hai cái bên hông
nầy, hai cái bên hông kia.
4. Người cũng chuốt các đòn bằng cây
si-tim, bọc vàng;
5. rồi xỏ đòn đó vào khoen hai
bên hông, đặng khiêng hòm.
6. Người cũng làm một cái nắp thi ân
bằng vàng ròng, bề dài hai thước rưỡi,
bề ngang một thước rưỡi.
7. Làm hai tượng chê-ru-bin bằng vàng
đánh giát để nơi hai đầu nắp thi ân,
8. một tượng ở đầu nầy và một tượng ở đầu kia, ló
ra nơi hai đầu nắp.
9. Hai chê-ru-bin sè cánh ra che
trên nắp thi ân, đối diện nhau và
xây mặt vào nắp thi ân.
10. Người cũng đóng một cái bàn bằng
cây si-tim; bề dài hai thước, bề ngang một thước,
bề cao một thước rưỡi;
11. bọc bằng vàng ròng, và chạy một
đường viền chung quanh.
12. Lại cùng lên be cho tứ vi bàn cao
chừng bốn ngón tay, và chạy cho be một đường viền
vàng.
13. Người đúc bốn cái khoen vàng tra
vào bốn góc, tại nơi chân
bàn.
14. Các khoen ở gần nơi be để xỏ đòn
vào, đặng khiêng bàn;
15. người chuốt đòn bằng cây si-tim, bọc
vàng, đặng khiêng bàn.
16. Lại cũng lấy vàng ròng mà
làm các đồ dùng bày
trên bàn: dĩa, chén, ly, và
chậu, để dùng làm lễ quán.
17. Người cũng làm chân đèn bằng
vàng ròng; cái chân,
cái thân, cái đài,
cái bầu, và cái hoa đều làm
ra bằng vàng đánh giát.
18. Hai bên thân đèn có
sáu nhánh nứt ra, ba nhánh ở
bên nầy và ba nhánh ở bên kia.
19. Trong sáu nhánh nứt ra trên
thân chân đèn, mỗi nhánh đều
có ba cái đài hình như hột
hạnh nhân, cùng bầu và hoa.
20. Trên thân chân đèn lại
cũng có bốn cái đài hình
như hột hạnh nhân, cùng bầu và hoa.
21. Trong sáu nhánh từ thân
chân đèn nứt ra, hễ cứ mỗi hai nhánh,
thì dưới có một cái bầu.
22. Bầu và nhành của chân
đèn đều bằng vàng ròng
nguyên miếng đánh giát.
23. Người cũng làm bảy cái thếp đèn,
kéo bắt tim và đồ đựng tàn bằng
vàng ròng.
24. Người dùng một ta lâng vàng
ròng, mà làm chân
đèn và các đồ phụ tùng của
chân đèn.
25. Người cũng đóng một cái bàn thờ
xông hương bằng cây si-tim, hình
vuông, bề dài một thước, bề ngang một thước,
và bề cao hai thước. Bàn thờ có bốn
sừng ló ra.
26. Người bọc vàng ròng trên mặt, bốn
cạnh chung quanh và các sừng; tứ vi cũng chạy
dường viền vàng.
27. Dưới đường viền đó, nơi hai bên
góc, người làm hai cái khoen
vàng để xỏ đòn, đặng khiêng.
28. Người chuốt đòn bằng cây si-tim và
bọc vàng.
29. Người cũng chế dầu thánh để xức, và hương
thanh sạch bằng các hương liệu theo nghề thợ chế hương.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 38
Home
1. Người cũng đóng bàn thờ về của lễ
thiêu bằng cây si-tim, hình
vuông, bề dài năm thước, bề ngang năm thước
và bề cao ba thước.
2. Người làm nơi bốn góc bàn thờ những
sừng ló ra, bọc đồng.
3. Rồi làm các đồ phụ tùng của
bàn thờ bằng đồng: chảo nhỏ, vá, ảng, nỉa,
và bình hương.
4. Lại làm một tấm rá bằng lưới đồng để dưới
thành bàn thờ, từ chân lên
đến ngang giữa,
5. và đúc cái khoen cho bốn
góc rá lưới đồng, đặng xỏ đòn
khiêng.
6. Ðoạn, chuốt đòn khiêng bằng
cây si-tim, và bọc đồng;
7. xỏ đòn vào khoen nơi hai bên
bàn thờ, đặng khiêng bàn đi. Người
đóng bàn thờ bằng ván, trống bộng.
8. Người dùng các tấm gương của mấy người
đàn bà hầu việc nơi cửa hội mạc, chế ra một
cái thùng và chân
thùng bằng đồng.
9. Người cũng làm hành lang: về phía
nam mấy bức bố vi của hành lang bằng vải gai đậu mịn,
dài trăm thước;
10. hai chục cây trụ và hai chục lỗ trụ bằng đồng,
đinh và nuông trụ bằng bạc.
11. Về phía bắc, cũng một trăm thước bố vi, hai chục
cây trụ và hai chục lỗ trụ bằng đồng, đinh
và nuông trụ bằng bạc.
12. Về phía tây, năm chục thước bố vi, mười
cây trụ, và mười lỗ trụ bằng đồng, đinh
và nuông trụ bằng bạc.
13. Về phía trước, là phía
đông, cũng năm chục thước:
14. nghĩa là bên hữu của hành lang mười
lăm thước bố vi ba cây trụ và ba lỗ trụ;
15. bên tả của hành lang cũng mười lăm thước bố
vi, ba cây trụ và ba lỗ trụ.
16. Hết thảy bố vi của hành lang ở chung quanh đều bằng vải
gai đậu mịn;
17. các lỗ trụ bằng đồng, đinh, nuông bằng bạc,
và đầu trụ bọc bạc. Hết thảy trụ của hành lang
đều nhờ có nuông bạc chắp với nhau.
18. Tấm màn nơi cửa hành lang làm
thêu thùa bằng chỉ tím, đỏ điều, đỏ
sặm, và vải gai đậu mịn; bề dài hai chục thước,
bề cao (tùy theo bề khổ của vải) năm thước, đồng cỡ với bề
cao của các bố vi chung quanh hành lang.
19. Bốn cây trụ và bốn lỗ trụ bằng đồng, đinh, đồ
bọc đầu trụ, và những nuông đều bằng bạc.
20. Các nọc của đền tạm và của hành
lang chung quanh đều bằng đồng.
21. Ðây là sổ tổng cộng về đền tạm,
là đền tạm chứng cớ theo lịnh truyền của Môi-se
biểu người Lê-vi làm ra, nhờ Y-tha-ma, con trai
của thầy tế lễ cả A-rôn, cai quản.
22. Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu
Hu-rơ, thuộc về chi phái Giu-đa, làm theo mọi
điều Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn Môi-se,
23. và kẻ giúp người là
Ô-hô-li-áp, con trai A-hi-sa-mạc, thuộc
về chi phái Ðan, làm thợ chạm, kẻ
bày vẽ, thợ thêu thùa bằng chỉ
tím, đỏ điều, đỏ sặm, và bằng chỉ gai mịn.
24. Hết thảy vàng đã hiệp dùng
vào các công việc nơi thánh
(ấy là vàng dâng) được hai mươi
chín ta lâng, bảy trăm ba chục siếc-lơ, theo
siếc-lơ của nơi thánh.
25. Bạc của mấy người hội chúng có kể sổ tổng
cộng được một trăm ta lâng, một ngàn bảy trăm bảy
mươi lăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh.
26. Hết thảy người nào có kể sổ, từ hai mươi tuổi
sắp lên, nghĩa là sáu trăm ba
ngàn năm trăm năm chục người, mỗi người nộp nửa siếc-lơ,
theo siếc-lơ của nơi thánh.
27. Vậy, phải một trăm ta lâng bạc đặng đúc
các lỗ trụ của nơi thánh, và lỗ trụ
màn; một trăm ta lâng cho một trăm lỗ trụ, tức một
ta lâng vào mỗi lỗ trụ.
28. Còn một ngàn bảy trăm bảy mươi lăm siếc-lơ dư
lại, thì dùng làm đinh trụ, bọc đầu
trụ và lấy nuông chắp các trụ với nhau.
29. Ðồng đem dâng cộng được bảy chục ta
lâng, hai ngàn bốn trăm siếc-lơ.
30. Họ dùng đồng đó làm lỗ trụ của cửa
hội mạc, bàn thờ bằng đồng, rá bằng đồng,
các đồ phụ tùng của bàn thờ;
31. các lỗ trụ của hành lang chung quanh,
các lỗ trụ của cửa hành lang, các nọc
của đền tạm, và các nọc của hành lang
chung quanh.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 39
Home
1. Họ dùng chỉ màu tím, đỏ điều, đỏ
sặm mà chế bộ áo định cho sự tế lễ trong nơi
thánh, và bộ áo thánh cho
A-rôn, y như lời Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se.
2. Vậy, họ chế ê-phót bằng kim tuyến, chỉ
tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn.
3. Họ căng vàng lá ra, cắt thành sợi
chỉ mà xen cùng chỉ tím, đỏ điều, đỏ
sặm, và chỉ gai mịn, chế thật cực xảo.
4. Họ may hai đai vai ê-phót, đâu hai
đầu dính lại.
5. Ðai để cột ê-phót, phía
ngoài, làm nguyên miếng một y như
công việc của ê-phót: bằng kim tuyến,
chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và bằng chỉ gai đậu
mịn, y như lời Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn Môi-se.
6. Họ khảm trong khuôn vàng các
bích ngọc có khắc tên các
chi phái Y-sơ-ra-ên, như người ta khắc con dấu.
7. Họ để các ngọc đó trên đai vai
ê-phót đặng làm ngọc kỷ niệm về
dân Y-sơ-ra-ên, y như lời Ðức
Giê-hô-va phán dặn Môi-se.
8. Họ cũng chế bảng đeo ngực cực xảo, như công việc
ê-phót: bằng kim tuyến, chỉ tím, đỏ
điều, đỏ sặm, và chỉ gai đậu mịn.
9. Bảng đeo ngực may lót, hình vuông,
bề dài một em-ban, bề ngang một em-ban.
10. Họ nhận bốn hàng ngọc: hàng thứ nhất, ngọc
mã não, ngọc hồng bích, và
ngọc lục bửu;
11. hàng thứ nhì, ngọc phỉ túy, ngọc
lam bửu, và ngọc kim cương;
12. hàng thứ ba, ngọc hồng bửu, ngọc bạch mã
não, và ngọc tử tinh;
13. hàng thứ tư, ngọc huỳnh bích, ngọc hồng
mã não, và bích ngọc.
Các ngọc nầy đều khảm vàng.
14. Số ngọc là mười hai, tùy theo số danh của
các con trai Y-sơ-ra-ên. Mỗi viên ngọc
có khắc một tên trong mười hai chi phái
Y-sơ-ra-ên như người ta khắc con dấu.
15. Ðoạn, trên bảng đeo ngực họ chế các
sợi chuyền bằng vàng ròng, đánh lại
như hình dây.
16. Cũng làm hai cái móc và
hai cái khoanh bằng vàng, để hai khoanh nơi hai
góc đầu bảng đeo ngực;
17. cùng cột hai sợi chuyền vàng vào
hai khoanh đó.
18. Rồi chuyền hai đầu của hai sợi chuyền vào móc
gài nơi đai vai ê-phót, về
phía trước ngực.
19. Cũng làm hai khoanh vàng khác để
vào hai góc đầu dưới của bảng đeo ngực, về
phía trong ê-phót.
20. Lại làm hai khoanh vàng khác nữa
để nơi đầu dưới của hai đai vai ê-phót, về
phía trước, ở trên đai, gần chỗ giáp
mối.
21. Họ lấy một sợi dây màu tím, cột hai
cái khoanh của bảng đeo ngực lại cùng hai
cái khoanh ê-phót, hầu cho
nó dính với đai và đừng rớt khỏi
ê-phót, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
22. Họ cũng chế áo dài của
ê-phót bằng vải thường toàn
màu tím.
23. Cổ để tròng đầu vào, ở về chính
giữa áo, như lỗ áo giáp, có
viền chung quanh cho khỏi tét.
24. Nơi trôn áo, thắt những trái lựu
bằng chỉ xe mịn màu tím, đỏ điều, đỏ sặm;
25. lại làm chuông nhỏ bằng vàng
ròng, gắn giữa hai trái lựu, vòng theo
chung quanh trôn áo;
26. cứ một trái lựu, kế một cái chuông
nhỏ, vòng theo chung quanh trôn áo
dùng để hầu việc, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
27. Họ cũng chế áo lá mặc trong bằng vải gai mịn,
dệt thường, cho A-rôn cùng các con trai
người;
28. luôn cái mũ, đồ trang sức của mũ,
và quần lót trong, đều bằng vải gai đậu mịn;
29. cùng cái đai bằng vải gai đậu mịn, chỉ
tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thêu, y như
lời Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn Môi-se.
30. Họ cũng dùng vàng lá
ròng chế cái thẻ thánh, khắc
trên đó như người ta khắc con dấu, rằng:
Thánh Cho Ðức Giê-hô-va!
31. Rồi lấy một sợi dây tím đặng cột để
trên mũ, y như lời Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se.
32. Các công việc của đền tạm và hội
mạc làm xong là như vậy. Dân
Y-sơ-ra-ên làm y như mọi lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
33. Họ đem đền tạm đến cho Môi-se: Trại và
các đồ phụ tùng của Trại, nọc, ván,
xà ngang, trụ và lỗ trụ;
34. bong da chiên đực nhuộm đỏ, bong da cá nược
và cái màn;
35. hòm bảng chứng và đòn
khiêng, cùng nắp thi ân;
36. bàn và đồ phụ tùng của
bàn cùng bánh trần thiết;
37. chân đèn bằng vàng ròng,
thếp đèn đã sắp sẵn, các đồ phụ
tùng của chân đèn và dầu
thắp,
38. bàn thờ bằng vàng, dầu xức, hương liệu, tấm
màn của cửa Trại;
39. bàn thờ bằng đồng và rá đồng,
đòn khiêng, các đồ phụ tùng
của bàn thờ, thùng và chân
thùng;
40. các bố vi của hành lang, trụ, lỗ trụ,
màn của cửa hành lang, dây, nọc, hết
thảy đồ phụ tùng về việc tế lễ của đền tạm;
41. bộ áo lễ đặng hầu việc trong nơi thánh, bộ
áo thánh cho A-rôn, thầy tế lễ cả,
và bộ áo của các con trai người để
làm chức tế lễ.
42. Dân Y-sơ-ra-ên làm mọi
công việc nầy y như mạng lịnh của Ðức
Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
43. Môi-se xem các công việc
làm, thấy họ đều làm y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn; đoạn
Môi-se chúc phước cho họ.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 40
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Ngày mồng một tháng giêng, ngươi sẽ
dựng đền tạm.
3. Hãy để trong đó cái hòm
bảng chứng, rồi lấy màn phủ lại.
4. Cũng hãy đem bàn đến, chưng bày
các đồ trên bàn cho có thứ
tự, cùng chân đèn và thắp
các đèn;
5. cũng hãy để bàn thờ bằng vàng
dùng xông hương trước hòm bảng chứng,
rồi xủ tấm màn nơi cửa đền tạm.
6. Cũng hãy để bàn thờ về của lễ thiêu
đằng trước cửa đền tạm;
7. và để cái thùng ở giữa khoảng hội
mạc và bàn thờ; rồi đổ nước vào;
8. lại chừa hành lang chung quanh và xủ tấm
màn nơi cửa hành lang.
9. Ðoạn, ngươi hãy lấy dầu xức mà xức đền
tạm và các đồ để trong đó; biệt
riêng đền tạm ra thánh, thì sẽ
làm thánh vậy.
10. Cũng hãy xức dầu bàn thờ về của lễ
thiêu, và các đồ phụ tùng
của bàn thờ; rồi biệt riêng ra thánh,
thì bàn thờ sẽ làm rất
thánh.
11. Cũng hãy xức dầu cho thùng và
chân thùng; biệt thùng riêng
ra thánh.
12. Ðoạn, hãy dẫn A-rôn cùng
các con trai người đến gần cửa hội mạc, rồi tắm họ trong
nước.
13. Ngươi hãy mặc áo thánh cho
A-rôn, xức dầu và biệt người riêng ra
thánh; vậy người sẽ làm chức tế lễ trước mặt ta.
14. Hãy dẫn các con trai người đến gần, rồi mặc
áo lá cho họ;
15. xức dầu cho như ngươi đã xức cho cha họ, thì
họ sẽ làm chức tế lễ trước mặt ta. Sự xức dầu sẽ phong cho
họ chức tế lễ mãi mãi trải qua các đời.
16. Môi-se làm y như mọi điều Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
mình.
17. Ðến ngày mồng một tháng
giêng về năm thứ hai, thì đền tạm đã
dựng.
18. Môi-se dựng đền tạm, để mấy lỗ trụ, đóng
ván, thả xà ngang và dựng trụ.
19. Người căng bong trên đền tạm, rồi trải lá phủ
bong lên trên, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
20. Ðoạn, người cũng lấy bảng chứng, để trong hòm,
xỏ đòn khiêng vào, để nắp thi
ân lên trên hòm.
21. Người khiêng hòm vào đền tạm
và treo màn để che chỗ chí
thánh, phủ hòm bảng chứng lại, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn Môi-se.
22. Người cũng để cái bàn trong hội mạc, về
phía bắc đền tạm ở ngoài bức màn;
23. rồi sắp một hàng bánh ở trên, trước
mặt Ðức Giê-hô-va, y như lời
Ngài đã phán dặn Môi-se.
24. Ðể chân đèn trong hội mạc về
phía nam, đối diện cùng cái
bàn.
25. Người thắp đèn trước mặt Ðức
Giê-hô-va, y như lời Ngài đã
phán dặn Môi-se.
26. Ðể bàn thờ bằng vàng trước bức
màn trong hội mạc;
27. trên đó người xông hương, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn Môi-se.
28. Người cũng xủ màn nơi cửa đền tạm.
29. Ðoạn, người để bàn thờ về của lễ thiêu
nơi cửa đền tạm, dâng trên đó của lễ
thiêu và của lễ chay, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
30. Cũng để thùng về giữa khoảng hội mạc và
bàn thờ, cùng đổ nước vào đặng tắm rửa;
31. Môi-se, A-rôn cùng các
con trai của A-rôn, rửa tay và chân
mình vào đó.
32. Khi nào họ vào hội mạc và lại gần
bàn thờ thì rửa mình, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn Môi-se.
33. Chung quanh đền tạm và bàn thờ, người cũng
chừa hành lang, và xủ màn nơi cửa
hành lang. Ấy, Môi-se làm xong
công việc là như vậy.
34. Áng mây bao phủ hội mạc và sự vinh
hiển của Ðức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm,
35. cho đến nỗi Môi-se vào chẳng đặng,
vì áng mây bao phủ ở trên
và sự vinh hiển của Ðức
Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm.
36. Vả, trong các sự hành trình của
dân Y-sơ-ra-ên, khi nào áng
mây từ đền tạm ngự lên thì họ ra đi;
37. còn nếu áng mây không ngự
lên thì họ cũng không đi, cho đến
ngày nào áng mây ngự
lên.
38. Vì trong các sự hành
trình của dân Y-sơ-ra-ên, thì
áng mây của Ðức
Giê-hô-va ở trên đền tạm ban
ngày, và có lửa ở trên
đó ban đêm hiện trước mặt cả dân
Y-sơ-ra-ên.