[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] [31] [32] [33] [34] [35] [36] [37] [38] [39] [40] [41] [42] [43] [44] [45] [46] [47] [48] [49] [50]
Sáng-thế Ký 1
Home
1. Ban đầu Ðức Chúa Trời dựng nên trời đất.
2. Vả, đất là vô hình và
trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần
Ðức Chúa Trời vận hành trên mặt
nước.
3. Ðức Chúa Trời phán rằng: Phải
có sự sáng; thì có sự
sáng.
4. Ðức Chúa Trời thấy sự sáng
là tốt lành, bèn phân
sáng ra cùng tối.
5. Ðức Chúa Trời đặt tên sự
sáng là ngày; sự tối là
đêm. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy
là ngày thứ nhứt.
6. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Phải
có một khoảng không ở giữa nước đặng
phân rẽ nước cách với nước.
7. Ngài làm nên khoảng không,
phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách
với nước ở trên khoảng không; thì
có như vậy.
8. Ðức Chúa Trời đặt tên khoảng
không là trời. Vậy, có buổi chiều
và buổi mai; ấy là ngày thứ
nhì.
9. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Những
nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có
chỗ khô cạn bày ra; thì có
như vậy.
10. Ðức Chúa Trời đặt tên chỗ
khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại
là biển. Ðức Chúa Trời thấy điều
đó là tốt lành.
11. Ðức Chúa Trời lại phán rằng:
Ðất phải sanh cây cỏ; cỏ kết hột giống, cây
trái kết quả, tùy theo loại mà
có hột giống trong mình trên đất;
thì có như vậy.
12. Ðất sanh cây cỏ: cỏ kết hột tùy theo
loại, cây kết quả có hột trong mình,
tùy theo loại. Ðức Chúa Trời thấy điều
đó là tốt lành.
13. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy
là ngày thứ ba.
14. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Phải
có các vì sáng trong khoảng
không trên trời, đặng phân ra
ngày với đêm, và dùng
làm dấu để định thì tiết, ngày
và năm;
15. lại dùng làm vì sáng
trong khoảng không trên trời để soi xuống đất;
thì có như vậy.
16. Ðức Chúa Trời làm nên hai
vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban
ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm;
Ngài cũng làm các ngôi sao.
17. Ðức Chúa Trời đặt các vì
đó trong khoảng không trên trời, đặng
soi sáng đất,
18. đặng cai trị ban ngày và ban đêm,
đặng phân ra sự sáng với sự tối. Ðức
Chúa Trời thấy điều đó là tốt
lành.
19. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy
là ngày thứ tư.
20. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Nước
phải sanh các vật sống cho nhiều, và
các loài chim phải bay trên mặt đất
trong khoảng không trên trời.
21. Ðức Chúa Trời dựng nên các
loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ
nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại,
và các loài chim hay bay,
tùy theo loại. Ðức Chúa Trời thấy điều
đó là tốt lành.
22. Ðức Chúa Trời ban phước cho các
loài đó mà phán rằng:
Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy
dẫy dưới biển; còn các loài chim
hãy sanh sản trên đất cho nhiều.
23. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy
là ngày thứ năm.
24. Ðức Chúa Trời lại phán rằng:
Ðất phải sanh các vật sống tùy theo loại,
tức súc vật, côn trùng, và
thú rừng, đều tùy theo loại; thì
có như vậy.
25. Ðức Chúa Trời làm nên
các loài thú rừng tùy theo
loại, súc vật tùy theo loại, và
các côn trùng trên đất
tùy theo loại, Ðức Chúa Trời thấy điều
đó là tốt lành.
26. Ðức Chúa Trời phán rằng:
Chúng ta hãy làm nên
loài người như hình ta và theo tượng
ta, đặng quản trị loài cá biển, loài
chim trời, loài súc vật, loài
côn trùng bò trên mặt đất,
và khắp cả đất.
27. Ðức Chúa Trời dựng nên loài
người như hình Ngài; Ngài dựng
nên loài người giống như hình
Ðức Chúa Trời; Ngài dựng nên
người nam cùng người nữ.
28. Ðức Chúa Trời ban phước cho loài
người và phán rằng: Hãy sanh sản,
thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy
làm cho đất phục tùng, hãy quản trị
loài cá dưới biển, loài chim
trên trời cùng các vật sống
hành động trên mặt đất.
29. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, ta
sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất,
và các loài cây sanh quả
có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các
ngươi.
30. Còn các loài thú
ngoài đồng, các loài chim
trên trời, và các động vật
khác trên mặt đất, phàm giống
nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ
cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì
có như vậy.
31. Ðức Chúa Trời thấy các việc
Ngài đã làm thật rất tốt
lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai;
ấy là ngày thứ sáu.
Sáng-thế Ký 2
Home
1. Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng
nên xong rồi.
2. Ngày thứ bảy, Ðức Chúa Trời
làm xong các công việc Ngài
đã làm, và ngày thứ bảy,
Ngài nghỉ các công việc Ngài
đã làm.
3. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt
là ngày thánh; vì trong
ngày đó, Ngài nghỉ các
công việc đã dựng nên và
đã làm xong rồi.
4. Ấy là gốc tích trời và đất khi
đã dựng nên, trong lúc
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời dựng
nên trời và đất.
5. Vả, lúc đó, chưa có một
cây nhỏ nào mọc ngoài đồng,
và cũng chưa có một ngọn cỏ nào mọc
ngoài ruộng, vì Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời chưa có cho mưa xuống
trên đất, và cũng chẳng có một người
nào cày cấy đất nữa.
6. Song có hơi nước dưới đất bay lên tưới khắp
cùng mặt đất,
7. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
bèn lấy bụi đất nắn nên hình người,
hà sanh khí vào lỗ mũi; thì
người trở nên một loài sanh linh.
8. Ðoạn, Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng
Ðông, và đặt người mà
Ngài vừa dựng nên ở đó.
9. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời khiến
đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt,
và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại
có cây sự sống cùng cây biết
điều thiện và điều ác.
10. Một con sông từ Ê-đen chảy ra đặng tưới vườn;
rồi từ đó chia ra làm bốn ngả.
11. Tên ngả thứ nhứt là Bi-sôn; ngả
đó chảy quanh xứ Ha-vi-la, là nơi có
vàng.
12. Vàng xứ nầy rất cao; đó lại có nhũ
hương và bính ngọc.
13. Tên sông thứ nhì là
Ghi-hôn, chảy quanh xứ Cu-sơ.
14. Tên sông thứ ba là
Hi-đê-ke, chảy về phía đông bờ
cõi A-si-ri. Còn sông thứ tư
là sông Ơ-phơ-rát.
15. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đem
người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và
giữ vườn.
16. Rồi, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các
thứ cây trong vườn;
17. nhưng về cây biết điều thiện và điều
ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi
ăn chắc sẽ chết.
18. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
phán rằng: Loài người ở một mình
thì không tốt; ta sẽ làm nên
một kẻ giúp đỡ giống như nó.
19. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lấy
đất nắn nên các loài thú
đồng, các loài chim trời, rồi dẫn đến trước mặt
A-đam đặng thử xem người đặt tên chúng
nó làm sao, hầu cho tên nào
A-đam đặt cho mỗi vật sống, đều thành tên
riêng cho nó.
20. A-đam đặt tên các loài
súc vật, các loài chim trời
cùng các loài thú đồng;
nhưng về phần A-đam, thì chẳng tìm được một ai
giúp đỡ giống như mình hết.
21. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
làm cho A-đam ngủ mê, bèn lấy một xương
sường, rồi lấp thịt thế vào.
22. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
dùng xương sường đã lấy nơi A-đam làm
nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam.
23. A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương
tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy
sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi
người nam mà có.
24. Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ
mà dính díu cùng vợ
mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt.
25. Vả, A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng, mà
chẳng hổ thẹn.
Sáng-thế Ký 3
Home
1. Vả, trong các loài thú đồng
mà Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời đã làm nên, có con rắn
là giống quỉ quyệt hơn hết. Rắn nói
cùng người nữ rằng: Mà chi! Ðức
Chúa Trời há có phán dặn
các ngươi không được phép ăn
trái các cây trong vườn sao?
2. Người nữ đáp rằng: Chúng ta được ăn
trái các cây trong vườn,
3. song về phần trái của cây mọc giữa vườn,
Ðức Chúa Trời có phán rằng:
Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng
nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng.
4. Rắn bèn nói với người nữ rằng: Hai ngươi chẳng
chết đâu;
5. nhưng Ðức Chúa Trời biết rằng hễ ngày
nào hai ngươi ăn trái cây
đó, mắt mình mở ra, sẽ như Ðức
Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.
6. Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn
ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở
trí khôn, bèn hái ăn, rồi
trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.
7. Ðoạn, mắt hai người đều mỡ ra, biết rằng mình lỏa
lồ, bèn lấy lá cây vả đóng
khố che thân.
8. Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn
mình giữa bụi cây, để tránh mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời.
9. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở
đâu?
10. A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng
Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì
tôi lỏa lồ, nên đi ẩn mình.
11. Ðức Chúa Trời phán hỏi: Ai
đã chỉ cho ngươi biết rằng mình lỏa lồ? Ngươi
có ăn trái cây ta đã dặn
không nên ăn đó chăng?
12. Thưa rằng: Người nữ mà Chúa đã để
gần bên tôi cho tôi trái
cây đó và tôi đã
ăn rồi.
13. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
phán hỏi người nữ rằng: Người có làm
điều chi vậy? Người nữ thưa rằng: Con rắn dỗ dành
tôi và tôi đã ăn rồi.
14. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
bèn phán cùng rắn rằng: Vì
mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong
vòng các loài súc vật,
các loài thú đồng, mầy sẽ
bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời.
15. Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ,
dòng dõi mầy cùng dòng
dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ
giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót
chân người.
16. Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta
sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai
nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng
ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi.
17. Ngài lại phán cùng A-đam rằng:
Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái
cây ta đã dặn không nên ăn,
vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu
khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.
18. Ðất sẽ sanh chông gai và cây
tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng;
19. ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới
có mà ăn, cho đến ngày nào
ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi
ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.
20. A-đam gọi vợ là Ê-va, vì
là mẹ của cả loài người.
21. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lấy
da thú kết thành áo dài cho
vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho.
22. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện
và điều ác, loài người đã
thành một bực như chúng ta; vậy bây
giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay khiến
cũng hái trái cây sự sống mà
ăn và được sống đời đời chăng.
23. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
bèn đuổi loài người ra khỏi vườn Ê-đen
đặng cày cấy đất, là nơi có người ra.
24. Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn, rồi
đặt tại phía đông vườn Ê-đen
các thần chê-ru-bin với gươm lưỡi chói
lòa, để giữ con đường đi đến cây sự sống.
Sáng-thế Ký 4
Home
1. A-đam ăn ở với Ê-va, là vợ mình;
người thọ thai sanh Ca-in và nói rằng: Nhờ
Ðức Giê-hô-va giúp đỡ,
tôi mới sanh được một người.
2. Ê-va lại sanh em Ca-in, là A-bên;
A-bên làm nghề chăn chiên,
còn Ca-in thì nghề làm ruộng.
3. Vả, cách ít lâu, Ca-in
dùng thổ sản làm của lễ dâng cho
Ðức Giê-hô-va.
4. A-bên cũng dâng chiên đầu
lòng trong bầy mình cùng mỡ
nó. Ðức Giê-hô-va
đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người;
5. nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận
lễ vật của người; cho nên Ca-in giận lắm mà gằm
nét mặt.
6. Ðức Giê-hô-va phán hỏi Ca-in
rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi
gằm xuống?
7. Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước
mặt lên sao? Còn như chẳng làm
lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa,
thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.
8. Ca-in thuật lại cùng A-bên là em
mình. Vả, khi hai người đương ở ngoài đồng,
thì Ca-in xông đến A-bên là
em mình, và giết đi.
9. Ðức Giê-hô-va hỏi Ca-in rằng:
A-bên, em ngươi, ở đâu? Thưa rằng: Tôi
không biết; tôi là người giữ em
tôi sao?
10. Ðức Giê-hô-va hỏi: Ngươi đã
làm điều chi vậy? Tiếng của máu em ngươi từ dưới
đất kêu thấu đến ta.
11. Bây giờ, ngươi sẽ bị đất rủa sả, là đất
đã hả miệng chịu hút máu của em ngươi
bởi chính tay ngươi làm đổ ra.
12. Khi ngươi trồng tỉa, đất chẳng sanh hoa lợi cho ngươi nữa; ngươi sẽ
lưu lạc và trốn tránh, trên mặt đất.
13. Ca-in thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng: Sự hình phạt
tôi nặng quá mang không nổi.
14. Nầy, ngày nay, Chúa đã đuổi
tôi ra khỏi đất nầy, tôi sẽ lánh mặt
Chúa, sẽ đi lưu lạc trốn tránh trên
đất; rồi, xảy có ai gặp tôi, họ sẽ giết đi.
15. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Bởi
cớ ấy, nếu ai giết Ca-in, thì sẽ bị báo
thù bảy lần. Ðức Giê-hô-va
bèn đánh dấu trên mình
Ca-in, hầu cho ai gặp Ca-in thì chẳng giết.
16. Ca-in bèn lui ra khỏi mặt Ðức
Giê-hô-va, và ở tại xứ Nốt, về
phía đông của Ê-đen.
17. Ðoạn, Ca-in ăn ở cùng vợ mình,
nàng thọ thai và sanh được
Hê-nóc; Ca-in xây một cái
thành đặt tên là
Hê-nóc, tùy theo tên con trai
mình.
18. Rồi, Hê-nóc sanh Y-rát;
Y-rát sanh Mê-hu-da-ên;
Mê-hu-da-ên sanh Mê-tu-sa-ên;
Mê-tu-sa-ên sanh Lê-méc.
19. Lê-méc cưới hai vợ; một người tên
là A-đa, một người tên là Si-la.
20. A-đa sanh Gia-banh; Gia-banh là tổ phụ của
các dân ở trại và nuôi bầy
súc vật.
21. Em người là Giu-banh, tổ phụ của những kẻ
đánh đờn và thổi sáo.
22. Còn Si-la cũng sanh Tu-banh-Ca-in là người
rèn đủ thứ khí giới bén bằng đồng
và bằng sắt. Em gái của Tu-banh-Ca-in
là Na-a-ma.
23. Lê-méc bèn nói với hai
vợ mình rằng: Hỡi A-đa và Si-la! hãy
nghe tiếng ta; Nầy, vợ Lê-méc hãy lắng
tai nghe lời ta: Ừ! Ta đã giết một người, vì
làm thương ta, Và một người trẻ, vì
đánh sưng bầm ta.
24. Nếu Ca-in được bảy lần báo thù,
Lê-méc sẽ được bảy mươi bảy lần báo
oán.
25. A-đam còn ăn ở với vợ mình; người sanh được
một con trai đặt tên là Sết; vì vợ
rằng: Ðức Chúa Trời đã cho tôi
một con trai khác thế cho A-bên mà
đã bị Ca-in giết rồi.
26. Sết cũng sanh được một con trai, đặt tên là
Ê-nót. Từ đây, người ta bắt đầu cầu khẩn
danh Ðức Giê-hô-va.
Sáng-thế Ký 5
Home
1. Ðây là sách chép
dòng dõi của A-đam. Ngày mà
Ðức Chúa Trời dựng nên loài
người, thì Ngài làm nên
loài người giống như Ðức Chúa Trời;
2. Ngài dựng nên người nam cùng người
nữ, ban phước cho họ, và trong ngày đã
dựng nên, đặt tên là người.
3. Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như
hình tượng mình, đặt tên là
Sết.
4. Sau khi A-đam sanh Sết rồi, còn sống được tám
trăm năm, sanh con trai con gái.
5. Vậy, A-đam hưởng thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua
đời.
6. Sết được một trăm năm tuổi, sanh Ê-nót.
7. Sau khi Sết sanh Ê-nót rồi, còn sống
được tám trăm bảy năm, sanh con trai con gái.
8. Vậy, Sết hưởng thọ được chín trăm mười hai tuổi, rồi qua
đời.
9. Ê-nót được chín mươi tuổi, sanh
Kê-nan.
10. Sau khi sanh Kê-nan rồi, còn sống được
tám trăm mười lăm năm, sanh con trai con gái.
11. Vậy, Ê-nót hưởng thọ được chín trăm
năm tuổi, rồi qua đời.
12. Kê-nan được bảy mươi tuổi, sanh Ma-ha-la-le.
13. Sau khi Kê-nan sanh Ma-ha-la-le rồi, còn sống
được tám trăm bốn mươi năm, sanh con trai con gái.
14. Vậy, Kê-nan hưởng thọ được chín trăm mười
tuổi, rồi qua đời.
15. Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi, sanh
Giê-rệt.
16. Sau khi Ma-ha-la-le sanh Giê-rệt, còn sống
được tám trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.
17. Vậy, Ma-ha-la-le hưởng thọ được tám trăm chín
mươi lăm tuổi, rồi qua đời.
18. Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi, sanh
Hê-nóc.
19. Sau khi Giê-rệt sanh Hê-nóc rồi,
còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con
gái.
20. Vậy, Giê-rệt hưởng thọ được chín trăm
sáu mươi hai tuổi, rồi qua đời.
21. Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh
Mê-tu-sê-la.
22. Sau khi Hê-nóc sanh
Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng
Ðức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con
gái.
23. Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ba trăm
sáu mươi lăm tuổi.
24. Hê-nóc đồng đi cùng Ðức
Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Ðức
Chúa Trời tiếp người đi.
25. Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi
bảy tuổi, sanh Lê-méc.
26. Sau khi Mê-tu-sê-la sanh
Lê-méc rồi, còn sống được bảy trăm
tám mươi hai năm, sanh con trai con gái.
27. Vậy, Mê-tu-sê-la hưởng thọ được chín
trăm sáu mươi chín tuổi, rồi qua đời.
28. Lê-méc được một trăm tám mươi hai
tuổi, sanh một trai,
29. đặt tên là Nô-ê,
mà nói rằng: Ðứa nầy sẽ an ủy
lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn
mà đất bắt tay ta phải làm, là đất
Ðức Giê-hô-va đã rủa sả.
30. Sau khi Lê-méc sanh Nô-ê
rồi, còn sống được năm trăm chín mươi lăm năm,
sanh con trai con gái.
31. Vậy, Lê-méc hưởng thọ được bảy trăm bảy mươi
bảy tuổi, rồi qua đời.
32. Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi,
sanh Sem Cham và Gia-phết.
Sáng-thế Ký 6
Home
1. Vả, khi loài người khởi thêm nhiều
trên mặt đất, và khi loài người
đã sanh được con gái rồi,
2. các con trai của Ðức Chúa Trời thấy
con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới
người nào vừa lòng mình mà
làm vợ.
3. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Thần
ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong
điều lầm lạc, loài người chỉ là xác
thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà
thôi.
4. Ðời đó và đời sau, có người
cao lớn trên mặt đất, vì con trai Ðức
Chúa Trời ăn ở cùng con gái
loài người mà sanh con cái; ấy những
người mạnh dạn ngày xưa là tay anh
hùng có danh.
5. Ðức Giê-hô-va thấy sự hung ác
của loài người trên mặt đất rất nhiều,
và các ý tưởng của lòng họ
chỉ là xấu luôn;
6. thì tự trách đã dựng nên
loài người trên mặt đất, và buồn rầu
trong lòng.
7. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ta
sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người mà ta
đã dựng nên, từ loài người cho đến
loài súc vật, loài côn
trùng, loài chim trời; vì ta tự
trách đã dựng nên các
loài đó.
8. Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
9. Nầy là dòng dõi của
Nô-ê. Nô-ê trong đời
mình là một người công bình
và toàn vẹn, đồng đi cùng Ðức
Chúa Trời.
10. Nô-ê sanh ba con trai là Sem, Cham
và Gia-phết.
11. Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Ðức Chúa
Trời và đầy dẫy sự hung ác.
12. Nầy, Ðức Chúa Trời nhìn xem thế gian,
thấy điều bại hoại, vì hết thảy xác thịt
làm cho đường mình trên đất phải bại
hoại.
13. Ðức Chúa Trời bèn phán
cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng
của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt ta;
vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy
điều hung hăng; vậy, ta sẽ diệt-trừ họ cùng đất.
14. Ngươi hãy đóng một chiếc tàu bằng
cây gô-phe, đóng có từng
phòng, rồi trét chai bề trong cùng bề
ngoài.
15. Vậy, hãy làm theo thế nầy: Bề dài
tàu ba trăm thước, bề ngang năm mươi thước, bề cao ba mươi
thước.
16. Trên tàu ngươi sẽ làm một cửa sổ,
bề cao một thước, và chừa một cửa bên
hông; ngươi sẽ làm một từng dưới, một từng giữa
và một từng trên.
17. Còn ta đây, ta sẽ dẫn nước lụt khắp
trên mặt đất, đặng diệt tuyệt các xác
thịt có sanh khí ở dưới trời; hết thảy vật chi ở
trên mặt đất đều sẽ chết hết.
18. Nhưng ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi
và vợ, các con và các
dâu của ngươi, đều hãy vào
tàu.
19. Về các loài sanh vật, ngươi hãy
dẫn xuống tàu mỗi loài một cặp, có đực
có cái, có trống có
mái, hầu cho ở cùng ngươi đặng giữ
tròn sự sống;
20. chim tùy theo loại, súc vật tùy
theo loại, côn trùng tùy theo loại, mỗi
thứ hai con, sẽ đến cùng ngươi, để ngươi giữ tròn
sự sống cho.
21. Lại, ngươi hãy lấy các thứ đồ ăn đem theo,
đặng để dàng làm lương thực cho ngươi
và các loài đó.
22. Nô-ê làm các điều nầy y
như lời Ðức Chúa Trời đã phán
dặn.
Sáng-thế Ký 7
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Nô-ê rằng: Ngươi và cả
nhà ngươi hãy vào tàu,
vì về đời nầy ta thấy ngươi là công
bình ở trước mặt ta.
2. Trong các loài vật thanh sạch, hãy
đem theo mỗi loài bảy cặp, đực và cái;
còn loài vật không thanh sạch mỗi
loài một cặp, đực và cái.
3. Cũng hãy đem theo những chim trời, mỗi thứ bảy cặp, trống
và mái, để giữ giống ở trên khắp mặt
đất.
4. Vì còn bảy ngày nữa, ta sẽ
làm mưa xuống mặt đất, trong bốn mươi ngày
và bốn mươi đêm; ta sẽ tuyệt diệt khỏi đất hết
các loài của ta đã dựng nên.
5. Ðoạn, Nô-ê làm theo mọi điều
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn mình.
6. Vả, khi lụt xảy ra, và nước tràn
trên mặt đất, thì Nô-ê
đã được sáu trăm tuổi.
7. Vì cớ nước lụt, nên Nô-ê
vào tàu cùng vợ, các con
trai và các dâu mình;
8. loài vật thanh sạch và loài vật
không thanh sạch, loài chim, loài
côn trùng trên mặt đất,
9. từng cặp, đực và cái, trống và
mái, đều đến cùng Nô-ê
mà vào tàu, y như lời Ðức
Chúa Trời đã phán dặn người.
10. Sau bảy ngày, nước lụt xảy có trên
mặt đất.
11. Nhằm năm sáu trăm của đời Nô-ê,
tháng hai, ngày mười bảy, chánh
ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra,
và các đập trên trời mở xuống;
12. mưa sa trên mặt đất trọn bốn mươi ngày
và bốn mươi đêm.
13. Lại cũng trong một ngày đó,
Nô-ê với vợ, ba con trai: Sem, Cham và
Gia-phết, cùng ba dâu mình đồng
vào tàu.
14. Họ và các loài, thú
rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo
loại, côn trùng trên mặt đất
tùy theo loại, chim tùy theo loại, và
hết thảy vật nào có cánh,
15. đều từng cặp theo Nô-ê vào
tàu; nghĩa là mọi xác thịt
nào có sanh khí,
16. một đực một cái, một trống một mái, đều đến
vào tàu, y như lời Ðức Chúa
Trời đã phán dặn; đoạn, Ðức
Giê-hô-va đóng cửa tàu lại.
17. Nước lụt phủ mặt đất bốn mươi ngày; nước dưng
thêm nâng hỏng tàu lên khỏi
mặt đất.
18. Trên mặt đất nước lớn và dưng thêm
nhiều lắm; chiếc tàu nổi trên mặt nước.
19. Nước càng dưng lên bội phần trên mặt
đất, hết thảy những ngọn núi cao ở dưới trời đều bị ngập.
20. Nước dưng lên mười lăm thước cao hơn, mấy ngọn
núi đều ngập.
21. Các xác thịt hành động
trên mặt đất đều chết ngột, nào chim,
nào súc vật, nào thú rừng,
nào côn trùng, và mọi người.
22. Các vật có sanh khí trong lỗ mũi,
các vật ở trên đất liền đều chết hết.
23. Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ
loài người cho đến loài thú,
loài côn trùng, cùng
loài chim trời, chỉ còn Nô-ê
và các loài ở với người trong
tàu mà thôi.
24. Nước dưng lên trên mặt đất trọn một trăm năm
mươi ngày.
Sáng-thế Ký 8
Home
1. Vả, Ðức Chúa Trời nhớ lại
Nô-ê cùng các loài
thú và súc vật ở trong tàu
với người, bèn khiến một trận gió thổi ngang qua
trên đất, thì nước dừng lại.
2. Các nguồn của vực lớn và các đập
trên trời lấp ngăn lại; mưa trên trời
không sa xuống nữa.
3. Nước giựt khỏi mặt đất, lần lần vừa hạ vừa giựt; trong một trăm năm
mươi ngày nước mới bớt xuống.
4. Ðến tháng bảy, ngày mười bảy, chiếc
tàu tấp trên núi A-ra-rát.
5. Nước cứ lần lần hạ cho đến tháng mười; ngày
mồng một tháng đó, mấy đỉnh núi mới lộ
ra.
6. Ðược bốn mươi ngày, Nô-ê mở
cửa sổ mình đã làm trên
tàu,
7. thả một con quạ ra; quạ liệng đi liệng lại cho đến khi nước giựt
khô trên mặt đất.
8. Người cũng thả một con bò câu ra, đặng xem thử
nước hạ bớt trên mặt đất chưa.
9. Nhưng bò câu chẳng tìm được nơi
nào đáp chơn xuống, bèn bay trở về
trong tàu cùng người, vì nước
còn khắp cả trên mặt đất. Nô-ê
giơ tay bắt lấy bò câu, đem vào
tàu lại với mình.
10. Ðoạn, người đợi bảy ngày nữa, lại thả
bò câu ra khỏi tàu;
11. đến chiều bò câu về cùng người,
và nầy, trong mỏ tha một lá Ô-li-ve
tươi; Nô-ê hiểu rằng nước đã giảm bớt
trên mặt đất.
12. Người đợi bảy ngày nữa, thả con bò
câu ra; nhưng chuyến nầy bò câu chẳng
trở về cùng người nữa.
13. Nhằm năm sáu trăm một của đời Nô-ê,
ngày mồng một, tháng giêng, nước
đã giựt bày mặt đất khô;
Nô-ê bèn giở mui tàu
mà nhìn; nầy, mặt đất đã se.
14. Ðến tháng hai, ngày hai mươi bảy, đất
đã khô rồi.
15. Ðức Chúa Trời bèn phán
cùng Nô-ê rằng:
16. Hãy ra khỏi tàu, ngươi, vợ các con
và các dâu ngươi.
17. Hãy thả ra với ngươi mọi vật sống của các
xác thịt đã ở cùng ngươi:
nào chim, nào thú, nào
côn trùng bò trên đất, hầu
cho chúng nó sanh sản, và
thêm nhiều trên mặt đất.
18. Vậy, Nô-ê cùng vợ người,
các con trai và các dâu
người ra khỏi tàu.
19. Các thú, rắn, chim cùng mọi vật
hành động trên mặt đất tùy theo giống
đều ra khỏi tàu.
20. Nô-ê lập một bàn thờ cho Ðức
Giê-hô-va. Người bắt các súc
vật thanh sạch, các loài chim thanh sạch,
bày của lễ thiêu dâng lên
bàn thờ.
21. Ðức Giê-hô-va hưởng lấy mùi
thơm và nghĩ thầm rằng: Ta chẳng vì
loài người mà rủa sả đất nữa, vì
tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi
còn tuổi trẻ; ta cũng sẽ chẳng hành
các vật sống như ta đã làm.
22. Hễ đất còn, thì mùa gieo giống
cùng mùa gặt hái, lạnh và
nóng, mùa hạ cùng mùa
đông, ngày và đêm, chẳng bao
giờ tuyệt được.
Sáng-thế Ký 9
Home
1. Ðức Chúa Trời ban phước cho
Nô-ê cùng các con trai người,
mà phán rằng: Hãy sanh sản,
thêm nhiều, làm cho đầy dẫy trên mặt đất.
2. Các loài vật ở trên đất,
các loài chim trời, và các
vật hành động trên đất, cùng
các cá biển, đều sẽ kinh khủng ngươi
và bị phú vào tay ngươi.
3. Phàm vật chi hành động và
có sự sống thì dùng làm đồ
ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta
đã cho thứ cỏ xanh.
4. Song các ngươi không nên ăn thịt
còn hồn sống, nghĩa là có
máu.
5. Quả thật, ta sẽ đòi máu của sự sống ngươi lại,
hoặc nơi các loài thú vật, hoặc nơi
tay người, hoặc nơi tay của anh em người.
6. Hễ kẻ nào làm đổ máu người,
thì sẽ bị người khác làm đổ
máu lại; vì Ðức Chúa Trời
làm nên người như hình của
Ngài.
7. Vậy, các ngươi hãy sanh sản, thêm
nhiều, và làm cho đầy dẫy trên mặt đất.
8. Ðức Chúa Trời cũng phán
cùng Nô-ê và các
con trai người rằng:
9. Còn phần ta đây, ta lập giao ước
cùng các ngươi, cùng dòng
dõi các ngươi,
10. và cùng mọi vật sống ở với ngươi,
nào loài chim, nào súc vật,
nào loài thú ở trên đất, tức
là các loài ở trong tàu ra,
cho đến các loài vật ở trên đất.
11. Vậy, ta lập giao ước cùng các ngươi,
và các loài xác thịt chẳng
bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt, và cũng chẳng
có nước lụt để hủy hoại đất nữa.
12. Ðức Chúa Trời lại phán rằng:
Ðây là dấu chỉ về sự giao ước
mà ta lập cùng các ngươi,
cùng hết thảy vật sống ở với các ngươi, trải qua
các đời mãi mãi.
13. Ta đặt mống của ta trên từng mây,
dùng làm dấu chỉ sự giao ước của ta với đất.
14. Phàm lúc nào ta góp
các đám mây trên mặt đất
và phàm mống mọc trên từng
mây,
15. thì ta sẽ nhớ lại sự giao ước của ta đã lập
cùng các ngươi, và cùng
các loài xác thịt có sự
sống, thì nước chẳng bao giờ lại trở nên lụt
mà hủy diệt các loài xác
thịt nữa.
16. Vậy, cái mống sẽ ở trên mây, ta
nhìn xem nó đặng nhớ lại sự giao ước đời đời của
Ðức Chúa Trời cùng các
loài xác thịt có sự sống ở
trên đất.
17. Ðức Chúa Trời lại phán
cùng Nô-ê rằng: Ðó
là dấu chỉ sự giao ước mà ta đã lập
giữa ta và các xác thịt ở
trên mặt đất.
18. Các con trai của Nô-ê ở trong
tàu ra là Sem, Cham và Gia-phết. Vả,
Cham là cha của Ca-na-an.
19. Ấy đó, là ba con trai của
Nô-ê, và cũng do nơi họ mà
có loài người ở khắp trên mặt đất.
20. Vả, Nô-ê khởi cày đất và
trồng nho.
21. Người uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại
mình.
22. Cham là cha Ca-na-an, thấy sự trần truồng của cha,
thì ra ngoài thuật lại cùng hai anh em
mình.
23. Nhưng Sem và Gia-phết đều lấy áo
choàng vắt trên vai mình, đi
thùi lui đến đắp khuất thân cho cha; và
bởi họ xây mặt qua phía khác,
nên chẳng thấy sự trần truồng của cha chút
nào.
24. Khi Nô-ê tỉnh rượu rồi, hay được điều con thứ
hai đã làm cho mình,
25. bèn nói rằng: Ca-na-an đáng rủa
sả! Nó sẽ làm mọi cho các
tôi tớ của anh em nó.
26. Người lại nói rằng: Ðáng ngợi khen
Giê-hô-va, là Ðức
Chúa Trời của Sem thay; Ca-na-an phải làm
tôi cho họ!
27. Cầu xin Ðức Chúa Trời mở rộng đất cho Gia-phết,
cho người ở nơi trại của Sem; còn Ca-na-an phải
làm tôi của họ.
28. Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm
năm mươi năm.
29. Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm
năm mươi tuổi, rồi qua đời.
Sáng-thế Ký 10
Home
1. Ðây là dòng dõi
của Sem, Cham và Gia-phết, ba con trai của
Nô-ê; sau khi lụt, họ sanh con cái.
2. Con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai,
Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra.
3. Con trai của Gô-me là
Ách-kê-na, Ri-phát, và
Tô-ga-ma.
4. Con trai của Gia-van là Ê-li-sa và
Ta-rê-si, Kít-sim và
Ðô-đa-nim.
5. Do họ mà có người ta ở tràn ra
các cù lao của các dân,
tùy theo xứ, tiếng nói, chi phái
và dân tộc của họ mà chia ra.
6. Con trai của Cham là Cúc,
Mích-ra-im, Phút và Ca-na-an.
7. Con trai của Cúc là Sê-ba, Ha-vi-la,
Sáp-ta, Ra-ê-ma và
Sáp-tê-ca; con trai của Ra-ê-ma
là Sê-la và Ðê-đan.
8. Cúc sanh Nim-rốt, ấy là người bắt đầu
làm anh hùng trên mặt đất.
9. Người là một tay thợ săn can đảm trước mặt Ðức
Giê-hô-va. Bởi cớ đó, có tục
ngữ rằng: Hệt như Nim-rốt, một tay thợ săn can đảm trước mặt
Ðức Giê-hô-va!
10. Nước người sơ-lập là Ba-bên, Ê-rết,
A-cát và Ca-ne ở tại xứ Si-nê-a.
11. Từ xứ đó người đến xứ A-si-ri, rồi lập thành
Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách,
12. Và thành Rê-sen, là
thành rất lớn, ở giữa khoảng thành Ni-ni-ve
và Ca-lách.
13. Mích-ra-im sanh họ Lu-đim, họ A-na-mim, họ
Lê-ha-bim, họ Náp-tu-him,
14. họ Bát-ru-sim, họ Cách-lu-him (bởi
đó sanh họ Phi-li-tin), và họ
Cáp-tô-rim.
15. Ca-na-an sanh Si-đôn, là con trưởng nam,
và Hếch,
16. cùng họ Giê-bu-sít, họ
A-mô-rít, họ Ghi-rê-ga-sít,
17. họ Hê-vít, họ A-rê-kít,
họ Si-nít,
18. họ A-va-đít, họ Xê-ma-rít, họ
Ha-ma-tít. Kế đó, chi tộc Ca-na-an đi tản lạc.
19. Còn địa-phận Ca-na-an, về hướng Ghê-ra, chạy
từ Si-đôn tới Ga-xa; về hướng Sô-đôm,
Gô-mô-rơ, Át-ma và
Sê-bô-im, chạy đến Lê-sa.
20. Ðó là con cháu của Cham,
tùy theo họ hàng, tiếng nói, xứ
và dân tộc của họ.
21. Sem, tổ phụ của họ Hê-be và anh cả của
Gia-phết, cũng có sanh con trai.
22. Con trai của Sem là Ê-lam, A-sự-rơ,
A-bác-sát, Lút và A-ram.
23. Con trai của A-ram là U-xơ, Hu-lơ, Ghê-te
và Mách.
24. Còn A-bác-sát sanh
Sê-lách; Sê-lách sanh
Hê-be,
25. Hê-be sanh được hai con trai; tên của một người
là Bê-léc, vì đất trong đời
người đó đã chia ra; trên của người em
là Giốc-tan.
26. Giốc-tan sanh A-mô-đát,
Sê-lép, Ha-sa-ma-vết và
Giê-rách,
27. Ha-đô-ram, U-xa, Ðiếc-la,
28. Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,
29. Ô-phia, Ha-vi-la và
Giô-báp. Hết thảy các người
đó là con trai của Giốc-tan.
30. Cõi đất của các người đó ở về
phía Sê-pha, chạy từ Mê-sa cho đến
núi Ðông phương.
31. Ðó là con cháu của Sem,
tùy theo họ hàng, tiếng nói, xứ
và dân tộc của họ.
32. Ấy là các họ hàng của ba con trai
Nô-ê tùy theo đời và
dân tộc của họ; lại cũng do nơi họ mà
các dân chia ra trên mặt đất sau cơn
nước lụt.
Sáng-thế Ký 11
Home
1. Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói
và một thứ tiếng.
2. Nhưng khi ở Ðông phương dời đi, người ta gặp một
đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.
3. Người nầy nói với người kia rằng: Hè!
chúng ta hãy làm gạch và
hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho
đá, còn chai thế cho hồ.
4. Lại nói rằng: Nào! chúng ta
hãy xây một cái thành
và dựng lên một cái tháp,
chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm
cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.
5. Ðức Giê-hô-va bèn ngự xuống
đặng xem cái thành và tháp
của con cái loài người xây
nên.
6. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Nầy,
chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ
tiếng; và kia kìa công việc
chúng nó đương khởi làm; bây
giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó
làm các điều đã quyết định được.
7. Thôi! chúng ta, hãy xuống,
làm lộn xộn tiếng nói của chúng
nó, cho họ nghe không được tiếng nói
của người nầy với người kia.
8. Rồi, từ đó Ðức Giê-hô-va
làm cho loài người tản ra khắp trên mặt
đất, và họ thôi công việc xây
cất thành.
9. Bởi cớ đó đặt tên thành
là Ba-bên, vì nơi đó
Ðức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng
nói của cả thế gian, và từ đây
Ngài làm cho loài người tản ra khắp
trên mặt đất.
10. Ðây là dòng dõi
của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm
tuổi, sanh A-bác-sát.
11. Sau khi Sem sanh A-bác-sát rồi,
còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con gái.
12. A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh
Sê-lách.
13. Sau khi A-bác-sát sanh
Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba
năm, sanh con trai con gái.
14. Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh
Hê-be.
15. Sau khi Sê-lách sanh Hê-be rồi,
còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con
gái.
16. Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh
Bê-léc.
17. Sau khi Hê-be sanh Bê-léc rồi,
còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con
gái.
18. Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu
19. Sau khi Bê-léc sanh Rê-hu rồi,
còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai
con gái.
20. Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh
Sê-rúc.
21. Sau khi Rê-hu sanh Sê-rúc rồi,
còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con
gái.
22. Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.
23. Sau khi Sê-rúc sanh Na-cô rồi,
còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.
24. Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh
Tha-rê.
25. Sau khi Na-cô sanh Tha-rê rồi, còn
sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con
gái.
26. Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh
Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.
27. Ðây là dòng dõi
của Tha-rê: Tha-rê sanh Áp-ram,
Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót.
28. Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức
là U-ru, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người
là Tha-rê hãy còn sống.
29. Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ
Áp-ram tên là Sa-rai, còn vợ
Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca
và Dích-ca tức là con gái
của Ha-ran.
30. Vả, Sa-rai son sẻ, nên người không
có con.
31. Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình,
Lót, con trai Ha-ran, cháu mình,
và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu
mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng
qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia cư tại
đó.
32. Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại
Cha-ran.
Sáng-thế Ký 12
Home
1. Vả, Ðức Giê-hô-va có
phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi
hãy ra khỏi quê hương, vòng
bà con và nhà cha ngươi, mà
đi đến xứ ta sẽ chỉ cho.
2. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn;
ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh
ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước.
3. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho
ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và
các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được
phước.
4. Rồi Áp-ram đi, theo như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dạy;
Lót đồng đi với người. Khi Áp-ram ra khỏi
Cha-ran, tuổi người được bảy mươi lăm.
5. Áp-ram dẫn Sa-rai, vợ mình, Lót,
cháu mình, cả gia tài đã
thâu góp, và các đầy tớ
đã được tại Cha-ran, từ đó ra, để đi đến xứ
Ca-na-an; rồi, chúng đều đến xứ Ca-na-an.
6. Áp-ram trải qua xứ nầy, đến cây dẻ bộp của
Mô-rê, tại Si-chem. Vả, lúc
đó, dân Ca-na-an ở tại xứ.
7. Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng
Áp-ram mà phán rằng: Ta sẽ ban cho
dòng dõi ngươi đất nầy! Rồi tại đó
Áp-ram lập một bàn thờ cho Ðức
Giê-hô-va, là Ðấng đã
hiện đến cùng người.
8. Từ đó, người đi qua núi ở về phía
đông Bê-tên, rồi đóng trại;
phía tây có Bê-tên,
phía đông có A-hi. Ðoạn, người
lập tại đó một bàn thờ cho Ðức
Giê-hô-va và cầu khẩn danh
Ngài.
9. Kế sau, Áp-ram vừa đi vừa đóng trại lần lần
đến Nam phương.
10. Bấy giờ, trong xứ bị cơn đói kém; sự
đói kém ấy lớn, nên Áp-ram
xuống xứ Ê-díp-tô mà kiều ngụ.
11. Khi hầu vào đất Ê-díp-tô,
Áp-ram bèn nói cùng Sa-rai,
vợ mình, rằng: Nầy, ta biết ngươi là một người
đờn bà đẹp.
12. Gặp khi nào dân
Ê-díp-tô thấy ngươi, họ sẽ
nói rằng: Ấy là vợ hắn đó; họ sẽ giết
ta, nhưng để cho ngươi sống.
13. Ta xin hãy xưng ngươi là em gái
ta, hầu cho sẽ vì ngươi mà ta được trọng
đãi và giữ toàn mạng ta.
14. Áp-ram vừa đến xứ
Ê-díp-tô, dân
Ê-díp-tô nhìn thấy người đờn
bà đó đẹp lắm.
15. Các triều thần của Pha-ra-ôn cùng
thấy người và trằm-trồ trước mặt vua; đoạn người đờn
bà bị dẫn vào cung Pha-ra-ôn.
16. Vì cớ người, nên Pha-ra-ôn hậu
đãi Áp-ram, và Áp-ram được
nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc
đà, tôi trai và tớ gái.
17. Song vì Sa-rai, vợ Áp-ram, nên
Ðức Giê-hô-va hành phạt
Pha-ra-ôn cùng nhà người bị tai họa lớn.
18. Pha-ra-ôn bèn đòi Áp-ram
hỏi rằng: Ngươi đã làm chi cho ta vậy? Sao
không tâu với ta rằng là vợ ngươi?
19. Sao đã nói rằng: người đó
là em gái tôi? nên nỗi ta
đã lấy nàng làm vợ. Bây giờ,
vợ ngươi đây; hãy nhận lấy và đi đi.
20. Ðoạn, Pha-ra-ôn hạ lịnh cho quan quân
đưa vợ chồng Áp-ram cùng hết thảy tài
vật của người đi.
Sáng-thế Ký 13
Home
1. Áp-ram ở Ê-díp-tô dẫn vợ
cùng các tài vật mình
và Lót đồng trở lên Nam phương.
2. Vả, Áp-ram rất giàu có
súc vật, vàng và bạc.
3. người vừa đi vừa đóng trại, từ Nam phương trở về
Bê-tên và A-hi,
4. là nơi đã lập một bàn thờ
lúc trước. Ở đó Áp-ram cầu khẩn danh
Ðức Giê-hô-va.
5. Vả, Lót cùng đi với Áp-ram, cũng
có chiên, bò, và trại.
6. Xứ đó không đủ chỗ cho hai người ở chung,
vì tài vật rất nhiều cho đến đỗi không
ở chung nhau được.
7. Trong khi dân Ca-na-an và dân
Phê-rê-sít ở trong xứ, xảy có
chuyện tranh giành của bọn chăn chiên
Áp-ram cùng bọn chăn chiên
Lót.
8. Áp-ram nói cùng Lót
rằng: Chúng ta là cốt nhục, xin ngươi
cùng ta chẳng nên cãi lẫy nhau
và bọn chăn chiên ta cùng bọn chăn
chiên ngươi cũng đừng tranh giành nhau nữa.
9. Toàn xứ há chẳng ở trước mặt ngươi sao? Vậy,
hãy lìa khỏi ta; nếu ngươi lấy bên hữu,
ta sẽ qua bên tả.
10. Lót bèn ngước mắt lên, thấy khắp
cánh đồng bằng bên sông
Giô-đanh, là nơi (trước khi Ðức
Giê-hô-va chưa phá hủy thành
Sô-đôm và Gô-mô-rơ)
thảy đều có nước chảy tưới khắp đến Xoa; đồng ó
cũng như vườn của Ðức Giê-hô-va
và như xứ Ê-díp-tô vậy.
11. Lót bèn chọn lấy cho mình hết
cánh đồng bằng bên sông
Giô-đanh và đi qua phía
Ðông. Vậy, hai người chia rẽ nhau.
12. Áp-ram ở trong xứ Ca-na-an, còn
Lót ở trong thành của đồng bằng và dời
trại mình đến Sô-đôm.
13. Vả, dân Sô-đôm là độc
ác và kẻ phạm tội trọng cùng
Ðức Giê-hô-va.
14. Sau khi Lót lìa khỏi Áp-ram rồi,
Ðức Giê-hô-va phán
cùng Áp-ram rằng: Hãy nhướng mắt
lên, nhìn từ chỗ ngươi cho đến phương bắc, phương
nam, phương đông và phương tây:
15. Vì cả xứ nào ngươi thấy, ta sẽ ban cho ngươi
và cho dòng dõi ngươi đời đời.
16. Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi như
bụi trên đất; thế thì, nếu kẻ nào đếm
đặng dòng dõi ngươi vậy.
17. Hãy đứng dậy đi khắp trong xứ, bề dài
và bề ngang; vì ta sẽ ban cho ngươi xứ nầy.
18. Ðoạn áp-ram đời trại mình đến ở nơi
lùm cây dẻ bộp tại Mam-rê, thuộc về
Hếp-rôn, và lập tại đó một
bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va.
Sáng-thế Ký 14
Home
1. Trong đời Am-ra-phên, vua Si-nê-a;
A-ri-óc, vua Ê-la-sa; Kết-rô-Lao me, vua
Ê-lam, và Ti-đanh, vua Gô-im,
2. bốn vua hiệp lại tranh chiến cùng Bê-ra, vua
Sô-đôm; Bi-rê-sa, vua
Gô-mô-rơ; Si-nê-áp, vua
Át-ma; Sê-mê-bê, vua
Xê-bô-im, và vua Bê-la, tức
là Xoa.
3. Các vua nầy hiệp lại tại trũng Si-điêm,
bây giờ là biển muối.
4. Trong mười hai năm các vua nầy đều là chư-hầu
của vua Kết-rô-Lao me; nhưng qua năm thứ mười ba,
thì họ dấy loạn.
5. Nhằm năm thứ mười bốn, Kết-rô-Lao-me cùng
các vua đồng minh kéo quân đến dẹp
dân Rê-pha-im ở đất
Ách-tê-rót-Ca-na-im, dân
Xu-xin tại đất Ham, dân Ê-mim ở trong đồng bằng
Ki-ri-a-ta-im,
6. và dân Hô-rít tại
núi Sê-i-rơ, cho đến nơi Ên-Ba-ran, ở
gần đồng vắng.
7. Ðoạn, các vua thâu binh trở về, đến
Suối Xử đoán, tức Ca-đe, hãm đánh khắp
miền dân A-ma-léc, và dân
A-mô-rít ở tại Hát-sát
sôn-Tha-ma.
8. Các vua của Sô-đôm,
Gô-mô-rơ, Át-ma,
Xê-bô-im và vua Bê-la, tức
là Xoa, bèn xuất trận và
dàn binh đóng tại trũng Si-điêm,
9. đặng chống cự cùng Kết-rô-Lao-me, vua
Ê-lam; Ti-đanh, vua Gô-im; Am-ra-phên,
vua Si-nê-a, và A-ri-óc, vua
Ê-la-sa; bốn vị đương địch cùng năm.
10. Vả, trong trũng Si-điêm có nhiều hố nhựa chai;
vua Sô-đôm và vua
Gô-mô-rơ thua chạy, sa xuống hố, còn kẻ
nào thoát được chạy trốn trên
núi.
11. Bên thắng trận bèn cướp lấy hết của cải
và lương thực của Sô-đôm và
Gô-mô-rơ, rồi đi.
12. Giặc cũng bắt Lót, là cháu của
Áp-ram, ở tại Sô-đôm, và hết
thảy gia tài người, rồi đem đi.
13. Có một người thoát được chạy đến
báo điều đó cùng Áp-ram,
là người Hê-bơ-rơ. Áp-ram ở tại
lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, là
người A-mô-rít, anh của Ếch-côn
và A-ne; ba người nầy đã có kết-ước
cùng Áp-ram.
14. Khi Áp-ram hay được cháu mình bị
quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm
mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ
nơi nhà mình, mà đuổi theo
các vua đó đến đất Ðan.
15. Ðoạn Áp-ram chia bọn đầy tớ mình ra,
thừa ban đêm xông hãm quân
nghịch, đánh đuổi theo đến đất Hô-ba ở về
phía tả Ða-mách.
16. Người thâu về đủ hết các tài vật
mà quân giặc đã cướp lấy; lại cũng dẫn
cháu mình, là Lót
cùng gia tài người, đờn bà
và dân chúng trở về.
17. Sau khi Áp-ram đánh bại
Kết-rô-Lao-me và các vua đồng minh,
thắng trận trở về, thì vua Sô-đôm ra
đón rước người tại trũng Sa-ve, tức là trũng Vua.
18. Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, sai đem
bánh và rượu ra. Vả, vua nầy là thầy
tế lễ của Ðức Chúa Trời Chí cao,
19. chúc phước cho Áp-ram và
nói rằng: Nguyện Ðức Chúa Trời
Chí cao, là Ðấng dựng nên trời
và đất, ban phước cho Áp-ram!
20. Ðáng ngợi khen thay Ðức Chúa
Trời Chí cao đã phó kẻ thù
nghịch vào tay ngươi! Ðoạn, Áp-ram lấy
một phần mười về cả của giặc mà dâng cho vua
đó.
21. Vua Sô-đôm bèn nói
cùng Áp-ram rằng: Hãy giao người cho
ta, còn của cải, thì ngươi thâu lấy.
22. Áp-ram đáp lại rằng: Tôi giơ tay
lên trước mặt Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể của trời
và đất, mà thề rằng:
23. Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một
sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề
lấy; e vua nói được rằng: Nhờ ta làm cho
Áp-ram giàu có,
24. chỉ món chi của những người trẻ đã ăn,
và phần của các người cùng đi với
tôi, là A-ne, Ếch-côn và
Mam-rê; về phần họ, họ hãy lấy phần của họ đi.
Sáng-thế Ký 15
Home
1. Sau các việc đó, trong sự hiện thấy
có lời Ðức Giê-hô-va
phán cùng Áp-ram rằng: Hỡi
Áp-ram! ngươi chớ sợ chi; ta đây là một
cái thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.
2. Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa
Giê-hô-va, Chúa sẽ cho tôi
chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ nối nghiệp
nhà tôi là
Ê-li-ê-se, người Ða-mách.
3. Áp-ram lại nói rằng: Nầy, Chúa
làm cho tôi tuyệt-tự; một kẻ tôi tớ sanh
đẻ tại nhà tôi sẽ làm người kế nghiệp
tôi.
4. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Áp-ram rằng: Kẻ
đó chẳng phải là kẻ kế nghiệp ngươi
đâu, nhưng ai ở trong gan ruột ngươi ra, sẽ là
người kế nghiệp ngươi.
5. Ðoạn, Ngài dẫn người ra ngoài
và phán rằng: Ngươi hãy ngó
lên trời, và nếu ngươi đếm được các
ngôi sao thì hãy đếm đi.
Ngài lại phán rằng: Dòng
dõi ngươi cũng sẽ như vậy.
6. Áp-ram tin Ðức Giê-hô-va,
thì Ngài kể sự đó là
công bình cho người.
7. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Áp-ram rằng: Ta là Ðức
Giê-hô-va, Ðấng đã dẫn ngươi ra
khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, để ban cho ngươi xứ nầy
làm sản nghiệp.
8. Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa
Giê-hô-va, bởi cớ chi tôi biết rằng
tôi sẽ được xứ nầy làm sản nghiệp?
9. Ðức Giê-hô-va đáp rằng: Ngươi
hãy bắt đem cho ta một con bò cái ba
tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con
chiên đực ba tuổi, một con cu rừng và một con
bò câu con.
10. Áp-ram bắt đủ các loài vật
đó, mổ làm hai, để mỗi nửa con mỗi bên
đối với nhau, nhưng không mổ các loài
chim ra làm hai.
11. Có những chim ăn mồi bay đáp trên
mấy con thú chết đó, song Áp-ram đuổi
nó đi.
12. Vả, khi mặt trời vừa lặn, thì Áp-ram ngủ
mê; nầy một cơn kinh hãi, tối tăm nhập
vào mình người.
13. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Áp-ram rằng: Phải biết rằng, dòng
dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về
chúng nó, làm tôi mọi cho
dân xứ đó và bị họ hà hiếp
bốn trăm năm.
14. Nhưng, ta sẽ đoán phạt dân mà
dòng dõi ngươi sẽ làm tôi
mọi đó; rồi khi ra khỏi xứ, thì sẽ được của cải
rất nhiều.
15. Còn ngươi sẽ bình yên về nơi tổ
phụ, hưởng lộc già sung sướng, rồi qua đời.
16. Ðến đời thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ trở
lại đây, vì tội lỗi của dân
A-mô-rít chưa được đầy dẫy.
17. Khi mặt trời đã lặn, thình lình sự
tối mịt giáng xuống; kìa có một
lò lớn khói lên, và một ngọn
lửa lòe ngang qua các xác thịt
đã mổ,
18. Ngày đó, Ðức
Giê-hô-va lập giao ước cùng
Áp-ram, mà phán rằng: Ta cho
dòng dõi ngươi xứ nầy, từ sông
Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia,
tức sông Ơ-phơ-rát,
19. là xứ của các dân
Kê-nít, Kê-nê-sít,
Cát-mô-nít
20. Hê-tít,
Phê-rê-sít, Rê-pha-im,
21. A-mô-nít, Ca-na-an,
Ghi-ê-ga-sít và
Giê-bu-sít.
Sáng-thế Ký 16
Home
1. Vả, Sa-rai, vợ của Áp-ram, vẫn không sanh con;
nàng có một con đòi
Ê-díp-tô, tên là
A-ga.
2. Sa-rai nói cùng Áp-ram rằng: Nầy,
Ðức Giê-hô-va đã làm
cho tôi son sẻ, vậy xin ông hãy lại ăn ở
cùng con đòi tôi, có lẽ
tôi sẽ nhờ nó mà có con
chăng. Áp-ram bèn nghe theo lời của Sa-rai.
3. Sau khi Áp-ram đã trú ngụ mười năm
tại xứ Ca-na-an, Sa-rai, vợ người, bắt A-ga, là con
đòi Ê-díp-tô mình,
đưa cho chồng làm hầu.
4. Người lại cùng con đòi, thì
nàng thọ thai. Khi con đòi thấy mình
thọ thai, thì khinh bỉ bà chủ mình.
5. Sa-rai nói cùng Áp-ram rằng:
Ðiều sỉ nhục mà tôi bị đây đổ
lại trên ông. Tôi đã
phú con đòi tôi vào
lòng ông, mà từ khi nó thấy
mình thọ thai, thì lại khinh tôi. Cầu
Ðức Giê-hô-va xét
đoán giữa tôi với ông.
6. Áp-ram đáp cùng Sa-rai rằng: Nầy,
con đòi đó ở trong tay ngươi, phân xử
thể nào, mặc ý ngươi cho vừa dạ. Ðoạn
Sa-rai hành hạ A-ga, thì nàng trốn đi
khỏi mặt người.
7. Nhưng thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va thấy nàng ở trong đồng vắng
gần bên suối nước, nơi mé đường đi và
Su-rơ,
8. thì hỏi rằng: Hỡi A-ga, đòi của Sa-rai, ngươi
ở đâu đến, và sẽ đi đâu? Nàng
thưa rằng: Tôi lánh xa mặt Sa-rai, chủ
tôi.
9. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va dạy
nàng rằng: Ngươi hãy trở về chủ ngươi,
và chịu lụy dưới tay người.
10. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va
lại phán rằng: Ta sẽ thêm dòng
dõi ngươi nhiều, đông đảo đến đỗi người ta đếm
không đặng nữa.
11. Lại phán rằng: Nầy, ngươi đương có thai, sẽ
sanh một trai, đặt tên là
Ích-ma-ên; vì Ðức
Giê-hô-va có nghe sự sầu khổ của ngươi.
12. Ðứa trẻ đó sẽ như một con lừa rừng; tay
nó sẽ địch cùng mọi người, và tay mọi
người sẽ địch lại nó. Nó sẽ ở về phía
đông đối mặt cùng hết thảy anh em mình.
13. Nàng gọi Ðức Giê-hô-va
mà đã phán cùng
mình, danh là "Ðức Chúa Trời
hay đoái xem," vì nàng nói
rằng: Chính tại đây, tôi há
chẳng có thấy được Ðắng đoái xem
tôi sao?
14. Bởi cớ ấy, người ta gọi cái giếng nầy ở về giữa khoảng
của Ca-đe và Bê-re, là giếng
La-chai-Roi.
15. Rồi nàng A-ga sanh được một con trai; Áp-ram
đặt tên đứa trai đó là
Ích-ma-ên.
16. Vả lại, khi A-ga sanh Ích-ma-ên cho
Áp-ram, thì Áp-ram đã được
tám mươi sáu tuổi.
Sáng-thế Ký 17
Home
1. Khi Áp-ram được chín mươi chín
tuổi, thì Ðức Giê-hô-va hiện đến
cùng người và phán rằng: Ta
là Ðức Chúa Trời toàn năng;
ngươi hãy đi ở trước mặt ta làm một người trọn
vẹn.
2. Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, làm cho
dòng dõi ngươi thêm nhiều
quá-bội.
3. Áp-ram bèn sấp mình xuống đất;
Ðức Chúa Trời phán cùng người
rằng:
4. Nầy, phần ta đây, ta đã lập giao ước
cùng ngươi; vậy ngươi sẽ trở nên tổ phụ của nhiều
dân tộc.
5. Thiên hạ chẳng còn gọi ngươi là
Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi là
Áp-ra-ham, vì ta đặt ngươi làm tổ phụ
của nhiều dân tộc.
6. Ta sẽ làm cho ngươi sanh sản rất nhiều, làm
cho ngươi thành nhiều nước; và các vua
sẽ do nơi ngươi mà ra.
7. Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, và
cùng hậu tự ngươi trải qua các đời; ấy
là giao ước đời đời, hầu cho ta làm Ðức
Chúa Trời của ngươi và của dòng
dõi ngươi.
8. Ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi
xứ mà ngươi đương kiều ngụ, tức toàn xứ Ca-na-an,
làm cơ nghiệp đời đời. Vậy, ta sẽ làm Ðức
Chúa Trời của họ.
9. Ðoạn, Ðức Chúa Trời phán
cùng Áp-ra-ham rằng: Phần ngươi cùng
dòng dõi ngươi, từ đời nọ sang đời kia, sẽ giữ sự
giao ước của ta.
10. Mỗi người nam trong vòng các ngươi phải chịu
phép cắt bì; ấy là giao ước
mà các ngươi phải giữ, tức giao ước lập giữa ta
và các ngươi, cùng dòng
dõi sau ngươi.
11. Các ngươi phải chịu cắt bì; phép
đó sẽ là dấu hiệu của sự giao ước giữa ta
cùng các ngươi.
12. Trải qua các đời, mỗi người nam trong vòng
các ngươi, hoặc sanh đẻ tại nhà, hoặc đem tiền ra
mua nơi người ngoại bang, chẳng thuộc về dòng giống ngươi,
hễ lên được tám ngày rồi, đều phải chịu
phép cắt bì.
13. Chớ khá bỏ làm phép cắt
bì cho ai sanh tại trong nhà ngươi, hay đem tiền
ra mua về; sự giao ước của ta sẽ lập đời đời trong xác thịt
của các ngươi vậy.
14. Một người nam nào không chịu phép
cắt bì nơi xác thịt mình, sẽ bị truất
ra khỏi ngoài dân sự mình; người
đó là kẻ bội lời giao ước ta.
15. Ðức Chúa Trời phán cùng
Áp-ra-ham rằng: còn Sa-rai, vợ ngươi, chớ gọi
là Sa-rai nữa; nhưng Sa-ra là tên người
đó.
16. Ta sẽ ban phước cho nàng, lại do nơi nàng ta
sẽ cho ngươi một con trai, Ta sẽ ban phước cho nàng,
nàng sẽ làm mẹ các dân tộc;
những vua của các dân tộc sẽ do nơi
nàng mà ra.
17. Áp-ra-ham bèn sấp mình xuống đất,
cười và nói thầm rằng: Hồ dễ người đã
trăm tuổi rồi, mà sanh con được chăng? Còn Sa-ra,
tuổi đã chín mươi, sẽ sanh sản được sao?
18. Áp-ra-ham thưa cùng Ðức
Chúa Trời rằng: Chớ chi Ích-ma-ên vẫn
được sống trước mặt Ngài!
19. Ðức Chúa Trời bèn phán
rằng: Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt
tên là Y-sác. Ta sẽ lập giao ước
cùng nó, để làm giao ước đời đời cho
dòng dõi của nó.
20. Ta cũng nhậm lời ngươi xin cho Ích-ma-ên. Nầy,
ta ban phước cho người, sẽ làm cho người sanh sản
và thêm nhiều quá-bội; người sẽ
là tổ phụ của mười hai vị công-hầu, và
ta làm cho người thành một dân lớn.
21. Nhưng ta sẽ lập giao ước ta cùng Y-sác, độ
khoảng nầy năm tới Sa-ra phải sanh cho ngươi.
22. Khi Ðức Chúa Trời đã phán
xong, thì Ngài từ Áp-ra-ham ngự
lên.
23. Chánh ngày đó,
Áp-ra-ham bắt Ích-ma-ên, con trai
mình, và hết thảy các người nam trong
nhà, hoặc sanh tại đó, hoặc đem tiền ra mua về,
mà làm phép cắt bì cho, y
như lời Ðức Chúa Trời đã phải dặn.
24. Vả, khi Áp-ra-ham chịu phép cắt
bì, thì đã được chín mươi
chín tuổi;
25. còn Ích-ma-ên, con người, khi chịu
phép cắt bì, thì được mười ba tuổi.
26. Cũng trong một ngày đó, Áp-ra-ham
và Ích-ma-ên chịu phép cắt
bì,
27. và mọi người nam trong nhà, hoặc sanh tại
đó, hoặc đem tiền ra mua nơi người ngoại bang, đồng chịu
phép cắt bì với người.
Sáng-thế Ký 18
Home
1. Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng
Áp-ra-ham nơi lùm cây dẻ bộp của
Mam-rê, đương khi ngồi nơi cửa trại lúc trời nắng
ban ngày.
2. Áp-ra-ham nhướng mắt lên, thấy ba người đứng
trước mặt. Vừa khi thấy, bèn bắt từ cửa trại chạy đến trước
mặt ba người đó, sấp mình xuống đất,
3. và thưa rằng: Lạy Chúa, nếu tôi được
ơn trước mặt Chúa, xin hãy ghé lại
nhà kẻ tôi tớ Chúa, đừng bỏ đi
luôn.
4. Xin các đấng hãy cho phép người ta
lấy chút nước rửa chơn các đấng, và
xin hãy nằm nghỉ mát dưới cội cây nầy.
5. Tôi sẽ đi đem một miếng bánh cho các
đấng ăn vững lòng, rồi sẽ dời gót lên
đường; vì cớ ấy, nên mới quá bộ lại
nhà kẻ tôi tớ các đấng vậy.
Các đấng phán rằng: Hãy cứ việc
làm như ngươi đã nói.
6. Ðoạn, Áp-ra-ham lật đật vào trại đến
cùng Sa-ra mà rằng: Hãy mau mau lấy ba
đấu bột lọc nhồi đi, rồi làm bánh nhỏ.
7. Áp-ra-ham bèn chạy lại bầy, bắt một con
bò con ngon, giao cho đầy tớ mau mau nấu dọn;
8. rồi lấy mỡ-sữa và sữa cùng con bò
con đã nấu xong, dọn ngay trước mặt các đấng;
còn người thì đứng hầu trước mặt, dưới cội
cây. Vậy các đấng đó bèn ăn.
9. Các đấng hỏi Áp-ra-ham rằng: Sa-ra, vợ ngươi,
ở đâu? Ðáp rằng: Kìa,
nàng ở trong trại kia.
10. Một đấng nói rằng: Trong độ một năm nữa, ta sẽ trở lại
đây với ngươi không sai, và chừng
đó, Sa-ra, vợ ngươi, sẽ có một con trai. Sa-ra ở
nơi cửa trại sau lưng đấng đó, nghe các lời nầy.
11. Vả, Áp-ra-ham cùng Sa-ra đã
già, tuổi tác đã cao; Sa-ra
không còn chi nữa như thế thường người đờn
bà.
12. Sa-ra cười thầm mà rằng: Già như
tôi thế nầy, dễ còn được điều vui đó
sao? Còn chúa tôi cũng đã
già rồi!
13. Ðức Giê-hô-va phán hỏi
Áp-ra-ham rằng: Cớ sao Sa-ra cười như vậy mà
rằng: Có quả thật rằng tôi già đến thế
nầy lại còn sanh sản chăng?
14. Há điều chi Ðức Giê-hô-va
làm không được chăng? Ðến kỳ đã
định, trong một năm nữa, ta sẽ trở lại cùng ngươi,
và Sa-ra sẽ có một con trai.
15. Vì Sa-ra sợ, nên chối mà thưa rằng:
Tôi có cười đâu! Nhưng Ngài
phán rằng: Thật ngươi có cười đó!
16. Các đấng đều đứng dậy mà đi, ngó
về phía, Sô-đôm. Áp-ra-ham
cũng theo để tiễn bước các đấng.
17. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Lẽ
nào ta giấu Áp-ra-ham điều chi ta sẽ
làm sao?
18. vì Áp-ra-ham chắc sẽ được trở nên
một dân lớn và cường thạnh; các
dân tộc trên thế gian đều sẽ nhờ người
mà được phước.
19. Ta đã chọn người đặng người khiến dạy các con
cùng nội nhà người giữ theo đạo Ðức
Giê-hô-va, làm các điều
công bình và ngay thẳng; thế
thì, Ðức Giê-hô-va sẽ
làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã hứa
cùng Áp-ra-ham.
20. Ðức Giê-hô-va phán rằng:
Tiếng kêu oan về Sô-đôm và
Gô-mô-rơ thật là quá, tội lỗi
các thành đó thật là trọng.
21. Ta muốn ngự xuống, để xem xét chúng
nó ăn ở có thật như tiếng đã
kêu thấu đến ta chăng; nếu chẳng thật, thì ta sẽ
biết.
22. Vậy, thì đấng bèn từ đó đi qua
hướng Sô-đôm; nhưng Áp-ra-ham
hãy còn đứng chầu trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
23. Áp-ra-ham lại gần và thưa rằng:
Chúa sẽ diệt người công bình
luôn với người độc ác sao?
24. Ngộ trong thành có năm mươi người
công bình, Chúa cũng sẽ diệt họ hết
sao? Há chẳng tha thứ cho thành đó
vì cớ năm mươi người công bình ở trong
sao?
25. Không lẽ nào Chúa làm
điều như vậy, diệt người công bình luôn
với kẻ độc ác; đến đỗi kể người công
bình cũng như người độc ác. Không,
Chúa chẳng làm điều như vậy bao giờ! Ðấng
đoán xét toàn thế gian, há
lại không làm sự công bình
sao?
26. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Nếu
ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người
công bình, vì tình thương
bấy nhiêu người đó ta sẽ tha hết cả
thành.
27. Áp-ra-ham lại thưa rằng: mặc dầu tôi
đây vốn là tro bụi, song tôi cũng
dám cả gan thưa lại cùng Chúa.
28. Hãy trong năm mươi người công bình
rủi thiếu hết năm; vì cớ năm người thiếu Chúa sẽ
diệt hết cả thành chăng? Ngài trả lời rằng: Nếu
ta tìm được có bốn mươi lăm người, ta chẳng diệt
thành đâu.
29. Áp-ra-ham cứ thưa rằng: Ngộ trong thành chỉ
có bốn mươi người công bình,
thì sẽ ra sao? Ngài phán rằng: Ta sẽ
chẳng diệt đâu, vì tình thương bốn mươi
nầy.
30. Áp-ra-ham cứ tiếp: Tôi xin Chúa
đừng giận, thì tôi sẽ thưa: Ngộ trong
đó chỉ có ba mươi người, thì sẽ ra
sao? Ngài phán: Nếu ta tìm trong
đó có ba mươi người, thì ta chẳng diệt
đâu.
31. Áp-ra-ham thưa rằng: Tôi đây cũng cả
gan thưa cùng Chúa: Nếu chỉ có hai
mươi người, thì lại làm sao? Ngài
rằng: Vì tình thương hai mươi người
đó, ta sẽ chẳng diệt thành đâu.
32. Áp-ra-ham lại thưa: Xin Chúa đừng giận, để
cho tôi thưa chỉ một lần nầy nữa: Ngộ chỉ có mười
người, thì nghĩ làm sao? Ngài
phán rằng: Ta cũng sẽ chẳng diệt thành
đâu, vì tình thương mười người
đó.
33. Khi Ðức Giê-hô-va phán xong
cùng Áp-ra-ham, thì Ngài
ngự đi; còn Áp-ra-ham trở về trại mình.
Sáng-thế Ký 19
Home
1. Lối chiều, hai thiên sứ đến Sô-đôm;
lúc đó, Lót đương ngồi tại cửa
thành. Khi Lót thấy hai thiên sứ đến,
đứng dậy mà đón rước và sấp
mình xuống đất.
2. Người thưa rằng: Nầy, lạy hai chúa, xin hãy
đến ở nhà của kẻ tôi tớ, và
hãy nghỉ đêm tại đó. Hai
chúa hãy rửa chơn, rồi sáng mai thức
dậy lên đường. Hai thiên sứ phán rằng:
Không, đêm nầy ta sẽ ở ngoài đường.
3. Nhưng Lót cố mời cho đến đỗi hai thiên sứ phải
đi lại vào nhà mình. Người
dâng một bữa tiệc, làm bánh
không men, và hai thiên sứ
bèn dùng tiệc.
4. Hai thiên sứ chưa đi nằm, mà các
người nam ở Sô-đôm, từ trẻ đến già, tức
cả dân, đều chạy đến bao chung quanh nhà.
5. Bọn đó gọi Lót mà hỏi rằng: Những
khác đã vào nhà ngươi buổi
chiều tối nay ở đâu? Hãy dẫn họ ra đây,
hầu cho chúng ta được biết.
6. Lót bèn ra đến cùng dân
chúng ở ngoài cửa, rồi đóng cửa lại,
7. và nói cùng họ rằng: Nầy,
tôi xin anh em đừng làm điều ác
đó!
8. Ðây, tôi sẵn có hai con
gái chưa chồng, tôi sẽ đưa chúng
nó cho anh em, rồi mặc tình anh em
tính làm sao tùy ý; miễn
đừng làm cho hại cho hai người kia; vì cớ
đó, nên họ đến núp bóng
mái nhà tôi.
9. Bọn dân chúng nói rằng: Ngươi
hãy tránh chỗ khác! Lại tiếp rằng:
Người nầy đến đây như kẻ kiều ngụ, lại muốn đoán
xét nữa sao! Vậy, thôi! chúng ta sẽ
đãi ngươi bạc-tệ hơn hai khách kia. Ðoạn,
họ lấn ép Lót mạnh quá, và
tràn đến đặng phá cửa.
10. Nhưng hai thiên sứ giơ tay ra, đem Lót
vào nhà, và đóng cửa lại,
11. đoạn, hành phạt bọn dân chúng ở
ngoài cửa, từ trẻ đến già, đều quáng
lòa mắt, cho đến đỗi tìm cửa mệt mà
không được.
12. Hai thiên sứ bèn hỏi Lót rằng:
Ngươi còn có ai tại đây nữa chăng? Rể,
con trai, con gái và ai trong thành
thuộc về ngươi, hãy đem ra khỏi hết đi!
13. Chúng ta sẽ hủy diệt chỗ nầy, vì tiếng
kêu oan về dân thành nầy đã
thấu lên đến Ðức Giê-hô-va,
nên Ngài sai chúng ta xuống
mà hủy diệt.
14. Lót bèn đi ra và nói
cùng rể đã cưới con gái
mình rằng: Hãy chổi dậy, đi ra khỏi chốn nầy,
vì Ðức Giê-hô-va sẽ hủy diệt
thành. Nhưng các chàng rể tưởng người
nói chơi.
15. Ðến sáng, hai thiên sứ hối
Lót và phán rằng: Hãy thức
dậy, dẫn vợ và hai con gái ngươi đương ở
đây ra, e khi ngươi cũng chết lây về việc
hình phạt của th&